Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 34: 477. CHUYÊN TIỂU ĐẠO SĨ NĀRADA - Phần 3 (trang 231-237)

quyết định thi đua với mặt trời, vì vậy chúng xin phép bậc Đại sĩ thử sức bay qua mặt trời. Ngài bảo:
 -  Này các chú, tốc lực mặt trời rất thần kỳ, các chú không bao giờ có thể thi đua với mặt trời đâu. Các chú sẽ chết tiêu tan trong cuộc thi tài ấy. Vậy các chú đừng đi.
 Lần thứ hai chúng xin phép, rồi lần thứ ba. Song Bồ-tát phản đối chúng đến lần thứ ba chúng xin. Tuy nhiên, chúng vẫn khăng khăng giữ ý định đó, không tự lượng sức mình, rồi cương quyết bay đua với mặt trời mà không tâu trình với chúa chim. Vì thế, trước lúc rạng đông, chúng đã đậu trên đỉnh núi Yugandhara( một trong bảy rặng núi lớn quanh núi Meru: Tu-di)
   Bậc Đại sĩ thấy vắng chúng, liền hỏi chúng đi đâu. Khi ngài nghe những việc xảy ra, ngài nghĩ thầm: “Chúng sẽ chẳng bao giờ đủ sức bay đua với mặt trời, và chúng sẽ bị tiêu diệt trong cuộc so tài ấy. Ta phải cứu mạng chúng mới được.” Vì vậy, ngài bay đến đỉnh núi Yugandhara và đậu bên cạnh chúng. Khi vầng nhật xuất hiện trên đường chân trời, đôi tiểu thiên nga vùng lên, lao tới đằng trước theo mặt trời; bậc Đại sĩ cũng bay theo chúng. Con chim bé nhất bay tới trước giờ ngọ thì ngất xỉu. Bên trong khớp xương đôi cánh nó cảm thấy như thể đang bị lửa đốt. Rồi nó ra hiệu cho bậc Đại sĩ:
   -   Thưa Đại huynh, tiểu đệ không tiếp tục được nữa.
 Bậc Đại sĩ bảo:
  -  Đừng sợ, ta sẽ cứu chú.
  Rồi mang nó trên đôi cánh dang rộng của mình, ngài an ủi nó, đưa nó về núi Cittakūṭa đặt nó xuống giữa đàn thiên nga, sau đó ngài lại bay đi bắt kịp mặt trời đến bên cạnh chim kia. Con chim ấy bay đua với mặt trời cho đến gần đúng ngọ thì ngất ngư và thấy như thể lửa đang thiêu đốt trong khớp xương ở đôi cánh của nó. Nó vừa làm dấu cho bậc Đại sĩ vừa kêu lên:
  -  Thưa Đại huynh, tiểu đệ không tiếp tục được nữa.
  Ngài cũng an ủi nó như trên, rồi mang nó trên đôi cánh dang rộng của mình ngài đưa nó về đỉnh Cittakūṭa. Vào lúc ấy, mặt trời đang ở trên đỉnh đầu. Bậc Đại sĩ suy nghĩ: “Hôm nay ta sẽ thử xem uy lực của mặt trời ra sao.” Thế là chỉ cần phóng lui một vòng, ngài đã đậu trên đỉnh Yugandhara. Sau đó, vừa tung cánh lên là ngài bắt kịp mặt trời, ngài bay đi, lúc tiến về phía trước, lúc lùi lại đằng sau, ngài nghĩ thầm: “Đối với ta thì chuyện bay đua với mặt trời thật là vô ích, chỉ do trí ngu si mà ra cả, nó có nghĩa lý gì
đối với ta đâu. Ta muốn bay đến Ba-la-nạí, nói cho thân hữu của ta, là vua ấy, một lời khuyến giáo về công bình và chân chánh.”
    Rồi quay lại trước khi mặt trời dần đi xuống giữa không gian, ngài bay qua toàn cõi thế giới từ đầu chí cuối xong, ngài giảm dần tốc lực, bay từ đầu nọ đến đầu kia toàn xứ Diêm-phù-đề, cuối cùng đến thành Ba-la-nại. Cả kinh thành này với chu vi chừng mười hai dặm như thể đang nằm dưới bóng chim chúa, không có một khe hở nào lộ ra; rồi tốc lực giảm dần, những lỗ trống, kẽ hở lại xuất hiện trên bầu trời. Bậc Đại sĩ bay chầm chậm rồi đáp xuống từ không trung, hạ cánh trước song cửa. Vua vui mừng reo lớn:
   -   Thân hữu của ta đang đến kìa!
   Rồi đặt chiếc bảo tọa bằng vàng cho chim đậu, vua phán:
    -   Xin Hiền hữu vào đây, an tọa tại nơi này.
   Và ngài ngâm vần kệ đầu:
1.                     Chúa Thiên nga đến đậu nơi đây,
                       Lòng trẫm thiết tha diện kiến ngài,
                      Hãy chọn thứ gì ngài thấy được,
                      Nay ngài là chúa tể nơi này.
  Bậc Đại sĩ đậu trên bảo tọa bằng vàng. Vua xoa vào dưới đôi cánh của ngài những loại dầu thơm đã lọc sạch cả trăm lần hay còn hơn thế nữa, cả ngàn lần, ban cho ngài thứ gạo mềm mại và nước đường trong cái đĩa bằng vàng, rồi nói chuyện với ngài với giọng ngọt ngào như mật:
  -   Này Hiền hữu, ngài đến đây một mình, vậy ngài từ đâu lại?
 Chim chúa kể hết mọi việc. Sau đó vua bảo ngài:
  -  Này Hiền hữu, xin ngài lần nữa biểu diễn tốc lực của ngài so với mặt trời kia.
  -   Thưa Đại vương, tốc lực ấy không thể phô diễn được.
  -   Vậy xin ngài biểu diễn một việc tương tự như thế.
  - Được lắm, thưa Đại vương, ta sẽ biểu diễn một việc tương tự như vậy. Xin triệu tập các xạ thủ bắn nhanh như chớp lại đây.
   Vua liền ra lệnh triệu tập họ. Bậc Đại sĩ lựa bốn người rồi cùng họ từ cung điện đến sân chầu. Nơi đó, ngài bảo dựng một trụ đá và buộc vào cổ ngài một cái chuông nhỏ. Sau đó, ngài đậu trên đỉnh trụ đá, đặt bốn xạ thủ quay lưng từ trụ đá hướng ra bốn phía, bảo:
   -   Thưa Đại vương, xin ra lệnh cho bốn xạ thủ bắn ra cùng một lúc bốn
mũi tên về bốn hướng và ta sẽ chụp lấy bốn mũi tên ấy trước khi chúng chạm mặt đất rồi đặt xuống chân các xạ thủ. Đại vương sẽ biết khi nào ta đi nhặt các mũi tên nhờ tiếng chuông reng reng, song Đại vương chẳng trông thấy được ta đâu.
   Sau đó, đồng loạt các xạ thủ bắn bốn mũi tên ra, ngài liền chụp lấy chúng và đặt dưới châm đám xạ thủ kia, còn mọi người thấy ngài đang đậu trên trụ đá.
   -         Thưa Đại vương, ngài đã thấy tốc lực của ta chăng?
   Rồi ngài nói tiếp:
   -         Thưa Đại vương, tốc lực ấy không phải là tốc lực bậc nhất của ta đâu, cũng phải là tốc lực bậc trung mà là tốc lực kém nhất trong các tốc lực thấp kém. Thế mà nó đã chứng tỏ cho Đại vương thấy ta nhanh nhẹn đến mức độ nào.
   Sau đó, vua hỏi ngài:
   -  Này Hiền hữu, thế có tốc lực nào nhanh hơn tốc lực của ngài chăng?
  -  Thưa Hiền hữu,có chứ. Nhanh hơn tốc lực của ta đến trăm lần, à không, cả ngàn lần, là sự biến hoại của tứ đại trong đời sống của loài hữu hình. Chúng tan rã như vậy đó, chúng bị tiêu diệt như vậy đó.
  Bằng cách ấy, ngài đã làm sáng tỏ cách thế giới hữu hình hoại vong như thế nào, bị hủy diệt như thế nào từng giây từng phút. Khi nghe nói vậy, vua sợ chết, không còn giữ bình tĩnh được nữa, mà ngất xỉu đi. Cả hội chúng kinh hoàng, rảy nước vào mặt vua, khiến ngài hồi tỉnh. Sau đó, bậc Đại sĩ nói với vua:
  -   Thưa Đại vương, chớ sợ hãi, nhưng hãy nhớ đến thần chết. Hãy tiến lên trong đường công chính, bố thí và làm thiện sự, phải gắng tinh cần.
Lúc ấy vua đáp lại:
 -   Tâu Chúa thượng, nếu không có một Đạo sư hiền trí như ngài, trẫm không thể nào sống được, vậy xin ngài đừng trở về đỉnh núi Cittakūṭa nữa, mà hãy ở lại đây dạy bảo trẫm. Xin hãy làm Đạo sư để giáo hóa trẫm.
Rồi vua ngâm hai vần kệ thỉnh cầu ngài:
2.                     Nhờ nghe nói đến người mình yêu mến,
                         Mà tình yêu thương được dưỡng nuôi hoài,
                         Lòng nhớ nhung người vắng bóng dần phai,
                         Vì nghe, thấy khiến người sinh lưu luyến,
               Xin hãy cho ta đặc ân diện kiến.
3.             Giọng nói ngài thật thân ái bên ta,
                Diện kiến ngài còn thắm thiết hơn xa,
                Vì ta thích được cùng ngài diện kiến,
                Thiên nga hỡi, ở cùng ta, xin đến!
Bồ-tát đáp:
4.             Ví dù ta ở lại với Quân vương,
                Trong cảnh vinh quang dường ấy được ban,
                Song ngày kia, choáng men nồng, Chúa thượng
               Có thể truyền: “Đem chúa chim ra nướng!
Vua nói:
- Không đâu, lúc có ngài ở bên cạnh, trẫm sẽ không bao giờ đụng đến men rượu nồng nữa.
Rồi vua cam kết hứa hẹn điều này qua vần kệ sau:
5.            Thức uống, ăn kia thật đáng rủa nguyền
               Nếu trẫm quý yêu hơn cả bạn hiền!
               Trẫm không nếm, dầu giọt nào hay ngụm,
                Bao lâu ngài ở lại đây cùng trẫm!
Sau vần kệ này, Bồ-tát ngâm sáu vần kệ khác:
6.             Tiếng loài sơn cẩu, tiếng chim muông,
                Cũng rất dễ dàng được cảm thông,
                Tiếng nói người đời, tuy rõ thế,
                 Vô cùng tối nghĩa, hỡi quân vương!
7.             Con người thường nghĩ: “Bạn thân mình,
                Quyến thuộc là đây, bạn chí tình!”
                 Song tình bằng hữu thường hay mất,
                 Căm hận, oán thù lại khởi sinh.
8.             Ai được ngài thương, cũng quý ngài,
                Gần ngài, dù ở tận phương trời;
                Song người sống cận kề ngài đó,
                 Lòng ngài hờ hững, cũng xa vời.
9.             Ai ở nhà ngài, dạ mến thương,
                Vẫn ân cần, dẫu cách trùng dương;
                Nhà ngài ai ở, tâm thù nghịch,
                  Xa cách trùng dương, vẫn oán hờn!
10.              Những người thù nghịch, Chúa công ôi!
                   Dù ở gần nhau, vẫn cách vời;
                   Song hỡi Đại vương, nuôi quốc độ,
                   Các hiền nhân kết hợp nhau hoài!
11.              Ai ở quá lâu sẽ thấy rằng
                   Thân bằng có lúc hóa cừu nhân,
                   Trước khi để mất tình thân hữu,
                  Ta giã biệt ngài, cất bước chân.
Sau đó vua nói với ngài:
12.              Dù trẫm chắp tay lại cố nài,
                   Ngài không hề chịu để vào tai,
                   Chẳng dành lời nói cho bằng hữu
                   Tha thiết cầu mong giúp đỡ hoài.
                  Trẫm khát khao ngài ban đặc huệ
                  Trở về đây viếng trẫm nay mai.
Thế rồi Bồ-tát đáp lời:
13.              Nếu không gì gián đoạn dòng đời,
                   Vì thử ngài, ta, Chúa thượng ôi!
                    Còn sống, hỡi Người nuôi đại chúng,
                    Ta bay về lại chốn đây thôi
                   Rồi ta còn dịp lành tương kiến?
                   Trong lúc ngày đêm lờ lững trôi.
Với lời nhắn nhủ vua xong, bậc Đại sĩ lên đường về núi Cittakūta.
                                                                     *
   Khi bậc Đạo sư chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
   -   Như vậy, này các Tỷ-kheo, ngày xưa, ngay cả khi Ta được sinh vào loài súc vật, Ta đã chứng minh tính cách mong manh của tứ đại trong cuộc sống và tuyên thuyết Chánh pháp.
Nói vậy xong, Ngài nhận diện tiền thân:
   - Vào thời ấy, Ānanda là vua, Moggallāna (Mục-kiền-liên) là con chim trẻ nhất, Sāriputta (Xá-lợi-phất) là chim non thứ hai, hội chúng của đức Phật là tất cả thiên nga, và Ta chính là chúa Thiên nga có thần tốc.
                                           477. CHUYÊN TIỂU ĐẠO SĨ NĀRADA
                                                      (TIỀN THÂN CŪḶANĀRADA)
 
  Không có củi nào được bổ ra…
  Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về các trò quyến rũ của một cô gái thô tục.
   Thời ấy, Ta biết rằng có một cô gái chừng mười sáu tuổi con của một người dân thành Xá-vệ là một cô gái có thể đem vận may đến cho đàn ông, song chẳng có nam nhân nào chọn nàng cả. Vì vậy, mẹ nàng nghĩ thầm: “ Con gái ta đã đến tuổi trưởng thành, song chẳng ai chọn nó cả. Ta muốn dùng nó như miếng mồi câu cá, khiến cho một vị xuất gia tu hành trong dòng họ Thích- ca phải hoàn tục và nó sống nương nhờ vị ấy.”
   Lúc bấy giờ, có một thiên nga nam tử ở Xá-vệ đã quyết tâm tu hành và gia nhập Tăng chúng. Nhưng từ khi chàng đã thọ Đại giới xong, chàng lại mất cả ước vọng tu tập và cứ sống chuyên lo tô điểm bản thân chàng.
   Người nữ cư sĩ này thường hay dọn sẵn cháo gạo trong nhà và nhiều thức ăn loại cứng, loại mềm rồi đứng ở cửa trong khi Tăng chúng đi ngang qua đường phố và cố tình xem ai là người có thể bị lòng thèm ăn của ngon vật la lôi cuốn. Kìa lũ lượt trên đường là đám nam tử hành trì Tam Tạng Kinh, Luật, Luận, song bà không tìm được ai có thể mắc vào mồi của bà cả. Giữa các vị mang bình bát, đắp y kia là những vị pháp sư thuyết giáo với giọng ngọt ngào như mật, di chuyển như đám mây bồng bềnh trước gió, bà chẳng thấy ai cả.
   Song cuối cùng, bà chợt thấy một nam nhân tiến tới, khóe mắt xoa dầu thơm, tóc buông xõa, mang chiếc y trong bằng thứ lụa mượt mà, chiếc y ngoài được giặt giũ sạch sẽ, bình bát có màu sắc đẹp như loại bảo châu, chiếc dù thật vừa ý; một con người buông thả các căn theo sở thích, toàn thân một màu đồng vàng bóng lộn. “Đây chính là người mà ta có thể bắt lấy,” bà nghĩ thầm và đảnh lễ vị kia; bà đến cầm lấy bình bát và mời ông vào nhà.
      Bà dọn chỗ ngồi cho ông, đưa cháo gạo và các thức khác. Rồi sau bữa ăn, bà yêu cầu ông ghé nhà bà làm nơi nghỉ chân lui tới trong tương lai. Vì thế, ông thường viếng thăm nhà đó về sau, dần dần với thời gian trở nên thân thiết.
     Một ngày kia, bà cư sĩ ấy nói, cốt cho ông nghe:
    - Trong nhà này, chúng ta sung sướng lắm, duy chỉ một điều là ta chẳng có con trai hay con rể để bảo tồn gia sản thôi.
   Ông nghe được, tự hỏi không biết lý do gì bà lại nói vậy. Chẳng mấy chốc dường như việc đó đã đâm sâu vào tim ông. Bà ta bảo con gái:
   -    Con hãy quyến rũ người này đi, hãy tìm cách điều khiển chàng theo ý con.
  Vì thế sau đó, cô gái tô điểm đầy mình đủ loại trang sức và quyến rũ vị kìa, dùng đủ mánh lới xảo quyệt của nữ nhân. (Ta phải hiểu rằng “một cô gái thô tục” đây không có nghĩa là thân hình mập mạp, nhưng dù mập hay gầy, cô ta cũng bị gọi là “thô tục” vì mãnh lực năm thứ dục tình của cô ta).
   Sau đó, nam tử kia còn trẻ lại bị dục tình chi phối, nên lòng thầm nghĩ: “Nay ta không thể nào tu theo Giáo pháp của đức Phật được nữa.” Và ông đi đến tinh xá đặt y bát xuống, nói với các vị giáo thọ của mình:
  -    Tâm con đang thối thất.
  Rồi các Tỷ-kheo ấy dẫn ông đến bậc Đạo sư và thưa:
 - Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo này đang thối thất.
 Ngài hỏi:
 -  Này Tỷ-kheo, họ bảo rằng tâm ông đang thối thất. Có đúng vậy không?
 -    Bạch Thế Tôn, quả thật như vậy.
-    Thế việc gì khiến ông như vậy?
-    Bạch Thế Tôn, một cô gái thô tục.
Ngài bảo:
-    Này Tỷ-kheo, ngày xưa, lâu lắm rồi, khi ông ở trong rừng, chính cô gái này đã cản trở đời thanh tịnh của ông và đã làm hại ông rất nhiều. Thế thì tại sao ông lại sinh thối thất vì cô ta nữa?
Rồi theo lời thỉnh cầu của tăng chúng, Ngài kể một chuyện quá khứ.
                                                                         *
   Một thời kia, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây