Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 6:  444.     CÂU CHUYỆN HẮC NHÂN DĪPĀYANA - Phần 4 (trang 38-44)

cùng đám cận thần hộ tống đông đảo.
      Lúc đó, cả hai vị ở trên một chỗ trong ngự viên, an hưởng lạc thú của cuộc sống tu hành. Còn vua khi đi ngang qua ngự viên, thấy hai vị ngồi đó; và khi mắt ngài chợt bắt gặp vị nữ nhân diễm lệ khả ái kia, ngài say mê ngay. Lòng ngài rúng động vì khát vọng dục tình, ngài quyết định hỏi nàng có liên hệ gì đối với ẩn sĩ kia, nên khi đi đến gần Bồ- tát  vua hỏi ngay câu ấy. Bồ-tát đáp:
      -  Tâu Đại vương, nay nàng ấy chẳng có liên hệ gì đối với ta cả, nàng chỉ cùng chung đời sống tu hành với ta thôi, song trưóc kia ta còn sống ở chốn trần tục thì nàng ấy đã là vợ ta.
     Nghe vậy, vua thầm nghĩ: “Như vậy, vị này bảo nữ nhân kia chẳng là gì đối với ông cả, song khi còn sống đời thế tục nàng ấy đã là vợ ông. Được rồi, nếu ta dùng vương quyền bắt lấy nàng thì ông làm gì được? Cho nên ta muốn chiếm nàng.” Và vua vừa đến gần vừa ngâm vần kệ:
     1.         Ví thử người ta bắt quý nương,
                 Mắt tròn, và cướp khỏi Tôn ông,
                 Người yêu ngồi đó đang cười nụ,
                Ngài sẽ làm gì, hỡi Đạo nhân?
     Bậc Đại sĩ ngâm vần kệ thứ hai để đáp câu hỏi này:
     2.          Khi đã khởi lên, nó chẳng rời,
                  Chẳng bao giờ nữa, suốt đời tôi,
                  Như cơn mưa lắng dần tro bụi,
                 Dập tắt nó thời mới nhú thôi.
     Bậc Đại sĩ trả lời như vậy, lớn tiếng như sư tử hống. Song nhà vua dù đã nghe thế, vẫn không thể nào chế ngự được con tim say đắm của mình; do nỗi si mê mù quáng, liền ra lệnh cho vị cận thần phải bắt nàng kia vào cung.
     Vị cận thần tuân lệnh dẫn nàng đi, dù nàng đã thở than khóc lóc rằng làm ác nghiệp phi pháp là thói thường của thế gian; còn Bồ-tát nghe tiếng nàng kêu khóc, ngài chỉ nhìn một lần thôi, không nhìn nữa. Vì thế nàng bị đưa vào cung trong lúc đang kêu gào thê thảm.
      Vua xứ Ba-la-nại không còn chần chờ ở ngự viên nữa, mà nhanh chóng trờ về cung, triệu nàng đến chầu và ban cho nàng nhiều vinh dự cao sang. Song nàng bảo những vinh quang đó chẳng có giá trị cả, và chi đời sống độc cư là cao thượng thôi. Vua thấy không thể dùng cách gì để chinh
phục được tim nàng, nên truyền giữ nàng trong một phòng biệt lập và bắt đầu suy nghĩ: “Đây là một người đàn bà khổ hạnh không màng mọi thứ vinh quang này, và vị ẩn sĩ đằng kia cũng không hề tỏ ra giận dữ khi người hầu bắt đi một nữ nhân tuyệt mỹ như vậy. Song những ẩn sĩ thường có mưu sâu lắm, chắc chắn ông đang lập mưu để hại ta. Được rồi, ta muốn trở lại gặp ông và tìm hiểu tại sao ông vẫn ngồi đó.” Và thế là không thể ngồi yên dược, vua đi vào ngự viên.
       Lúc ấy, Bồ-tát đang ngồi vá chiếc y. Vua chỉ đi một mình nên đến tận nơi, bước nhẹ nhàng không gây tiếng động. Bồ-tát vẫn tiếp tục vá áo, chẳng nhìn đến vua. Vua nghĩ: “Người này chẳng muốn nói gì với ta vì đang tức giận đấy. Kẻ khổ hạnh này đúng là gã bịp bợm, trước tiên thét lớn: ‘Ta không muốn để lòng căm hận khởi lên chút nào, song nếu nó khởi lên, ta quyết dập tắt nó ngay lúc còn nhỏ nhoi,’ rồi sau đó lòng căm phẫn cứ đeo đắng dằng dai nên gã không muốn nói chuyện với ta đó!” Với ý nghĩ này, vua ngâm vần kệ thứ ba:
       3.                Ngài lớn tiếng khoe hay,
                          Chừng một lát trước đây,
                          Nay lặng thinh vì giận,
                         Ngài ngồi đó vá may.
       Khi bậc Đại sĩ nghe thế, ngài hiểu vua tưởng ngài im lặng vì tức giận, nên muốn tỏ ra là ngài không hề bị lòng phẫn nộ chi phối, ngài ngâm vần kệ thứ tư:
       4.                Hễ lúc nào sinh khởi nó rồi,
                         Chẳng bao giờ nó chịu rời tôi,
                         Như cơn mưa lắng dần tro bụi,
                         Tôi dập nó thời mới nhỏ nhoi.
      Khi nghe những lời này, vua suy nghĩ: “Có phải người này nói đến lòng sân hận hay điều gì khác nữa? Ta muốn hỏi ông cho rõ.” Rồi vua ngâm vần kệ thứ năm:
      5.                Gì đó mà không thể bỏ ngài,
                        Chẳng bao giờ hết, suốt trong đời?
                        Như cơn mưa lắng dần tro bụi,
                        Ngài dập tắt gì lúc nhỏ nhoi?
Vị kia đáp:
       -    Thưa Đại vương, như thế nỗi sân hận thường đem lại nhiều đau khổ nhiều tai hại, tàn khốc; nó chỉ vừa khởi lên trong ta, song nhờ nuôi dưỡng lòng từ mẫn, ta đã dập tắt được nó.
       Rồi ngài ngâm các vần kệ sau để thuyết giảng về nỗi khổ đau vì hiềm hận:
       6.                  Con người không nó, thấy minh quang,
                            Có nó, mù đui trước nẻo đàng,
                            Nó khởi trong ta không thoát được,
                            Hận sân, nuôi dưỡng bởi si cuồng.
       7.                  Điều gì làm thích thú cừu nhân,
                            Kẻ muốn tâm ta phải khổ buồn,
                           Phát khởi trong ta không thoát được,
                            Hận sân, nuôi dưỡng bởi si cuồng.
      8.                  Cái điều nếu nổi dậy trong mình,
                           Che khuất người ta trước hạnh lành,
                          Đã phát trong ta không thoát được,
                          Căm hờn, nuôi dưỡng bởi vô minh.
      9.                  Điều làm tổn phước đức vô song,
                           Khiến kẻ bị lừa bỏ lập công,
                           Mãnh liệt, phá tan, đày khủng khiếp,
                           Không rời ta nữa, ấy là sân.
      10.                Ngọn lửa lên cao, sẽ lớn hơn,
                            Nếu mồi nhiên liệu được khơi tròn,
                            Bởi vì ngọn lửa lên cao mãi,
                            Nhiên liệu tự mình phải cháy luôn.
      11.                Cũng vậy trong tâm trí kẻ đần,
                          Người không có thể nhận chân ra rằng
                          Phát sinh phẫn nộ từ tranh cãi,
                          Bởi vậy thanh danh phải bại tàn.
       12.               Phẫn nộ nào tăng tựa lửa hừng
                          Với mồi than củi cháy bừng bừng,
                          Như trăng nửa tháng đêm trời tối,
                          Đức hạnh tiêu hao, hủy hoại dần.
      13.                Người nào chế ngự được lòng sân,
                Như lửa mà không có củi than,
                Như trăng nửa tháng trời dần sáng,
                Công đức người kia cứ mãi tăng.
     Khi vua đã nghe bậc Đại sĩ thuyết pháp xong, lòng rất hoan hỷ, nên ra lệnh cho một cận thần đi dẫn người đàn bà đến, và mời vị ẩn sĩ vô sân kia cùng ở lại với nàng trong ngự viên để an hưởng lạc thú của cuộc sống độc cư và vua hứa sẽ chăm sóc bào vệ cho hai vị như bổn phận của mình. Sau đó, nhà vua xin hai vị tha thứ lỗi lầm và kính cẩn từ tạ ra về. Thế là hai vị ấy ở lại đó.
     Dần dần về sau, người đàn bà ấy từ trần và sau khi nàng qua đời, vị ẩn sĩ trở về vùng Tuyết sơn, tu tập các Thắng trí và các Thiền chứng, làm cho Tứ vô lượng tâm (bốn Phạm trú: Từ, Bi, Hỷ, Xà) sinh khởi trong lòng, nên ngài được sinh vào cõi Phạm thiên.
                                                                                                *
      Khi bậc Đạo sư chấm dứt Pháp thoại, Ngài tuyên thuyết các Sự thật. Vào đoạn kết thúc các Sự thật, vị Tỷ-kheo hay sân hận kia đã dược an trú vào Tam quả (Bất Lai).
      Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
      -    Vào thời ấy, mẫu thân của Rāhula (La-hầu-la) là nữ ẩn sĩ ấy. Ānanda là vua kia và vị ẩn sĩ chính là Ta.
                                 444.     CÂU CHUYỆN HẮC NHÂN DĪPĀYANA
                                                   (TIỀN THÂN KAṆHADĪPĀYANA)
   Bảy ngày tâm trí được thong dong...
   Chuyện này bậc Đạo sư kể tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo thối thất.
    Hoàn cảnh này sẽ được giải thích trong Tiền thân Kusa (số 531).
    Khi bậc Đạo sư hỏi lời đồn ấy có đúng không vả vị Tỷ-kheo ấy đáp lả đúng, thì Ngài bảo:
    - Này Tỷ-kheo, thuở xưa trước khi đức Phật xuất hiện ở đời. các bậc trí nhân, ngay cả những vị hành trì một nếp tu tập không theo Chánh pháp, trong suốt hơn năm mươi năm bước đi trong Thánh hạnh mà không thích thú nhiệt tâm, song vì bản tính thận trọng khôn ngoan nên không bao giờ nói cho ai hay biết là các ông đã thối thất. Còn nay tại sao ông đã hành tri Giáo pháp của Ta đưa đến giải thoát, và ông đang đứng trước mặt một đức Phật Thế Tôn như Ta, sao ông dám bộc lộ sự thối thất của ông trước bốn hàng đệ tử? Tại sao ông không giữ được tính thận trọng e dè?
Nói xong, Ngài kể một chuyện đời xưa.
                                                                                   *

       Ngày xưa, trong quốc độ Vaṃsa, có một vị vua trị vì tại Kosambī mệnh danh là Kosambika. Thời ấy, có hai vị Bà-la-môn ờ một thị trấn kia, mỗi vị đều có tài sản tám trăm triệu đồng và là bạn thân thiết của nhau. Cà hai ông, sau khi đã nhận thức sự tai hại của tham dục và đã phân chia của cải ra để bố thí, liền từ bỏ thế tục ngay giữa tiếng than khóc của nhiều người thân, khởi hành về phía Tuyết sơn, dựng am ẩn sĩ ờ đó cho mình. Tại chốn ấy, trong năm mươi năm liền, hai vị sống đời ẩn sĩ, nuôi thân bằng trái cây, củ rừng mà hai vị tình cờ kiếm được; song các vị không thể nào chứng đắc thiền định.
       Sau năm mươi năm ấy đã trôi qua, các vị đi du hành qua vủng quê xin muối và đồ gia vị, lại đến vưomg quốc Kāsi. Trong một thị trấn của quốc độ
này có một gia chủ tên là Maṇḍavya, đã từng là một thân hữu tại gia ngày tnrớc của ẩn sĩ Dīpāyana. Hai vị liền đi đến thăm ông Maṇḍavya này. Vua trông thấy hai vị, ông chủ nhà vô cùng thích thú, liền xây cho hai vị một am tranh, cung cấp đầy đủ mọi loại vật dụng cần thiết của cuộc sống ẩn sĩ. Hai vị ở đó ba bốn mùa, rồi từ giã ông, tiến về Ba-la-nại. tại đây hai vị vào ở trong nghĩa địa trồng toàn cây Atimuttaka. Khi Dīpāyana đã ờ lại đó một thời gian như ý muốn, ngài trở về nơi người bạn xưa lần nữa; còn Tôn giả Maṇḍavya, ẩn sĩ kia, vẫn ở chỗ cũ.
        Lúc bấy giờ, một ngày kia, có tên đạo tặc gây cướp bóc trong thị trấn, và trở về từ nơi ấy cùng một số của cải cướp được. Các gia chủ, lính canh, chạy ra cùng la to “kẻ trộm” và kẻ trộm bị các người này đuổi gấp. đã thoát thân qua một ống cống; và trong lúc đang chạy quanh gần nghĩa địa, gã làm rơi gói đồ ờ cửa nhà lá của vị ẩn sĩ ấy. Khi các chủ nhà thấy gói này, đồng kêu to:
        -     À, đồ khốn kiếp! Anh là quân trộm cướp ban đêm. còn ban ngày anh đi quanh quẩn giả dạng tu hành.
        Rồi vừa phi báng, vừa đấm đá. họ đem vị này vào yết kiến vua.
       Vua không bảo điều tra gì cả mà chỉ nói:
       -     Dẫn nó đi ra và đóng cọc vào nó.
       Họ đem ông đến nghĩa địa, đặt ông vào cái cọc bằng gỗ cây keo. Song cây cọc không chịu đâm qua thân của vị ẩn sĩ. Kế đó họ mang vào cái cọc khác, song cái này cũng không đâm thủng ông. Kế đó là cái cọc sắt, cũng không thể đâm thủng thân ông được. Ông tự hỏi hành động nào trong quá khứ của mình đã gây nên sự việc này, liền quan sát quá khứ, trong tâm ông khởi lên tri kiến về các đời tnrớc; nhờ nhìn lại quá khứ, ông thấy những việc đã làm từ lâu, đó chính là việc đâm thủng một con ruồi trên một mảnh gồ mun
      Chuyện kể rằng trong một đời trước, ông ỉà con trai một người thợ mộc Một bữa nọ, cậu đi đến chỗ người cha thường đốn cây và cậu đã dùng một mảnh gỗ mun đâm thủng một con ruồi như thể đóng cọc vào nó. Chính ông phát giác ra tội ác kia vào giờ phút nguy kịch này, ông nhận thức rằng không thể nào thoát khỏi ác nghiệp cũ được, nên bảo đám quân hầu của vua:
     -     Nếu các ông muốn đóng cọc ta, hãy lấy cái cọc bằng gỗ mun.
    Họ làm theo, và đóng cọc vào vị ấy xong, họ để lại một tên quân canh giữ vị ấy và ra đi.
      Bọn lính canh từ một nơi ẩn nấp quan sát mọi việc xảy ra cho vị ấy. Lúc bấy giờ, Dīpāyana suy nghĩ: “Ta đã gặp đạo hữu của ta cách đây lâu rồi,” liền muốn đi tìm bạn. Khi nghe tin bạn đã bị đóng cọc treo lên suốt ngày bên vệ đường, ông liền đi đến đứng bên bạn và hỏi bạn đã làm gỉ.
      Vị ấy đáp:
      -    Chẳng làm gì cả.
     Vị kia lại hỏi:
      -    Thế hiền hữu có biết cách đối trị với sân hận trong lòng hay không?
     Người bạn đáp:
     -    Này hiền hữu, ta chẳng thấy sân hận gì những kẻ đã bắt ta, cũng chẳng hiềm hận vua, chẳng có nỗi oán hờn nào trong tâm ta cả.
     -    Nếu quả vậy, thì bóng mát của một vị đức độ như thế này cũng đủ đem lại an lạc cho đời ta rồi.
    Cùng với những lời này, ông ngồi xuống cạnh cây cọc. Từ thân của Maṇḍavya rơi xuống vài giọt máu trên thân người bạn. Vì chúng rơi xuống làn da vàng óng và khô đi như thể các chấm đen trên đó, khiến cho ông có tên Kaṇha hay hắc nhân Dīpāyana từ đó về sau. Và ông cứ ngồi yên tại chỗ suốt đêm.
    Ngày hôm sau, bọn quân canh đến kể mọi chuyện với vua, ngài bảo:
    -    Ta đã hành động quá hấp tấp.
    Rồi vua vội vã đến nơi, hỏi Dīpāyana chuyện gì đã khiến ông ngồi bên cây cọc. Ông đáp:
    -    Tâu Đại vương, thần ngồi đây để canh bạn. Nhưng xin cho biết người này đã làm gì, hay bỏ dở việc gì chưa làm mà Đại vương đối xử như vậy?
    Vua giải thích là vấn đề chưa được điều tra. Vị kia đáp:
-   Tâu Đại vương, một vị vua phải hành động cẩn trọng; một người thế tục phóng túng, ham mê dục lạc là điều không hay v.v...
     Và ông còn khuyến cáo nhà vua thêm những việc tương tự như thế nữa.
     Khi vua thấy Maṇḍavya vô tội, ngài ra lệnh nhổ cọc lên. Nhưng dù bọn chúng gắng hết sức cũng không nhổ lên được. Maṇḍavya bảo:
      -    Tâu Đại vương, thần phải chịu mang sự ô nhục này là do một lỗi lầm đã phạm thời xa xưa, nên không thể nào nhổ cọc ra khỏi thân này được. Song nếu Đại vương muốn cứu mạng thần, xin bảo đem đến cái cưa, xẻ cái cọc ngang sát lớp da.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây