Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 51: Chương Mười Bốn- Tạp Phẩm - Phần 9 (trang 354-360)

                     Dùng cung, gậy, chúng đánh hung tàn.
13.                Mình con vấy máu, vỡ tan đầu,
                    Con chạy về nơi trú ẩn mau,
                    Vì vậy con nguyền theo giới hạnh,
                    Dục tham chẳng kéo đến ngày sau.
     Như vậy, cả bốn con vật đều tán thán hành động của chúng trong việc quyết tâm giữ hạnh trai giới; xong vừa đứng lên đảnh lễ bậc Đạo sư, chúng vừa hỏi ngài câu này:
    -  Thưa Tôn giả, các ngày trước ngài ra đi kiếm trái rừng vào giờ này. Tại sao hôm nay ngài không đi mà lại hành trì trai giới?
   Chúng liền ngâm vần kệ này:
14.               Điều ấy, ngài mong muốn giãi bày,
                    Mọi điều con biết, đã thưa thầy,
                   Song nay đến lượt mình, xin hỏi:
                   Tôn giả sao theo hạnh nguyện này?
Bồ- tát:
15.              Một vị Độc Giác Phật qua đây
                  Chốc lát trong am đã giải bày
                  Mọi việc vãng lai, danh tiếng, hiệu,
                  Gia đình và đạo lộ sau này.
16.             Ta không quỳ, bởi quá kiêu căng
                  Ở trước chân Ngài, chẳng hỏi han,
                  Vì thế, ta nương vào giới hạnh
                  Để kiêu căng ấy chẳng đeo gần.
    Bằng cách ấy, bậc Đạo sư giải thích việc hành trì hạnh nguyện của mình. Sau đó, ngài thuyết giáo cho chúng, bảo chúng ra đi và ngài bước vào thảo am. Các con vật kia trở về chốn ở của mình. Bậc Đạo sư không hề gián đoạn tâm thiền định nên được sinh vào cõi Phạm thiên. Còn các con vật ấy tuân hành lời thuyết giáo của ngài nên đã lên cộng trú đông đảo với Thiên chúng.
                                                               *
   Sau khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Đạo sư bảo:
    -   Như vậy, này các cư sĩ, giữ hạnh nguyện trai giới là một tập tục của bậc trí ngày xưa, và nay các ông phải biết hành trì.
    Rồi ngài nhận diện tiền thân:
    -   Vào thời ấy, Anuruddha (A- na- luật) là chim bồ câu, Kassapa( Ca- diếp) là con gấu, Mục- kiền- liên là chó rừng, Sāriputta ( Xá- lợi- phất) là con rắn và Ta chính là nhà tu khổ hạnh kia.
                                               491. CHUYỆN ĐẠI KHỔNG TƯỚC
                                                       ( TIỀN THÂN MAHĀ MORA)
  Bắt ta, bạn sẽ được ngàn vàng...
  Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ- kheo thối thất
  Bậc Đạo sư bảo vị Tỷ- kheo này:
  -   Có đúng như Ta nghe nói là ông đã thối thất chăng?
  -  Thưa vâng, bạch Thế Tôn, quả đúng vậy.
  Ngài liền nói:
  -  Này Tỷ- kheo, chẳng lẽ lòng tham muốn dục lạc này lại không đánh bại một người như ông sao? Trận cuồng phong hoành hành khắp núi Sineru (Tu- di) cũng chẳng nao núng trước một ngọn lá khô đâu. Ngày xưa tham dục này đã đánh bại các bậc thanh tịnh, là những vị đã lánh xa bảy ngàn năm khỏi mọi tham dục khởi lên trong tâm mình.
Cùng với những lời này, Ngài kể một chuyện quá khứ.
                                                                     *
     Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba- la- nại, Bồ- tát được sinh vào bụng một con công mái ở một vùng biên địa. Khi thai kỳ đã mãn, công mẹ sinh trứng ở một nơi khó kiếm mồi và bỏ đi xa. Lúc bấy giờ, trứng chim công khỏe mạnh chẳng bị tai nạn gì nếu không có những mối hiểm nguy từ loài rắn hay các loài bọ tai hại tương tự như thế.
    Vì vậy, cái trứng công này có màu vàng óng như chồi cây kanikara. Khi nó đã đủ thuần thục thì tự nó nứt ra, và một con công xuất hiện có màu vàng óng ánh, với con mắt như trái guñjā, chiếc mỏ màu san hô, và ba sọc đỏ chạy quanh cổ xuống đến giữa lưng. Khi chim lớn lên, thân mình to bằng chiếc xe đẩy của người bán hàng, nên thật đẹp mắt, nên cả đàn công màu đen tụ tập lại chung quanh, bầu chim công này làm chim đầu đàn.
    Một hôm, chim công đang uống nước trong hồ, nhìn thấy vẻ đẹp của
mình liền suy nghĩ : “Ta đẹp nhất trong đám công. Nếu ta ở chung với chung giữa mọi nẻo đường đời, ta sẽ gặp nguy hiểm. Ta muốn đi xa đến vùng Tuyết sơn, và ở đó một mình tại một nơi vừa ý.” Thế là về đêm, khi cả đàn công lui về nơi trú ẩn riêng biệt kín đáo, công ra đi mà không ai biết, về phía khu vực Tuyết sơn; sau khi băng qua ba rặng núi, công vào ẩn thân tại rặng thứ tư. Đây là khu rừng mà công khám phá ra một hồ thiên nhiên rộng bát ngát phủ đầy hoa sen, không xa một cây đa cạnh một ngọn đồi, công chúa đậu trên cành cây này. Trong lòng ngọn đồi này có một hang động kỳ thú, và vì muốn ở đó nên công chúa đậu trên một vùng đất phẳng ngay trước miệng hang.
     Lúc bấy giờ, không ai có thể trèo đến chốn này được dù từ dưới lên hay trên xuống, cho nên nó tránh khỏi mọi nỗi lo sợ về chim muông, mèo rừng, rắn rít hay loài người. “Đây là một nơi thích thú dành cho ta!” công suy nghĩ. Hôm ấy, công ở đó và sáng hôm sau bước ra khỏi hang, công đậu trên đỉnh đồi hướng về phía đông. Khi công thấy mặt trời lên, công tự vệ mình trong ngày sắp đến bằng cách đọc câu ca:
    -   Ngài đã hiện kia, đấng Toàn tri.
   Bằng cách ấy, cuộc đời công cứ trôi qua ( Xem lại Tiền thân số 159 tập II, Mora Jātaka).
   Song một hôm, có người thợ săn ở trong rừng bất chợt thấy công đang đậu trên đỉnh đồi ấy và trở về nhà. Khi lão sắp chết, lão bảo với con trai về chuyện ấy:
    -  Này con, trong rặng núi thứ tư của dãy kia, trong rừng có một con công màu vàng ánh. Nếu nhà vua muốn có một con công như vậy, thì con biết nơi kiếm nó rồi đấy.
   Một ngày kia, chánh hậu của vua Ba- la- nại tên là Khemā( Thái Hòa) nằm mộng về tảng sáng, và giấc mộng diễn ra như thế này: Một con công màu vàng óng đang thuyết pháp và bà chăm chú nghe rất hoan hỷ. Khi công đã thuyết pháp xong liền bay lên và ra đi, bà vội vàng kêu to: “Kìa chúa công đang chạy thoát, hãy bắt công lại ngay!” Và trong khi bà thốt lên các lời này, bà
liền thức dậy. Khi tỉnh lại, bà biết đó chỉ là giấc mộng, và suy nghĩ: “Nếu ta trình đức vua đó là cơn ác mộng, thì ngài sẽ chẳng quan tâm đến, song nếu ta bảo đó là niềm mong ước của một thai phụ thì ngài sẽ lưu ý ngay.”
    Thế là bà liền giả bộ làm như thể bà đang khao khát một thứ gì đó theo cách thông thường của một thai phụ, và nằm xuống. Nhà vua đến viếng bà và hỏi bà đau bệnh gì. Bà đáp:
    -  Thần thiếp đang có một niềm khát vọng.
    -  Ái khanh ao ước điều gì thế?
    - Tâu Chúa thượng, thần thiếp ước ao nghe lời thuyết pháp của một con chim công màu vàng ánh.
    -  Song, này ái khanh, ta tìm đâu ra được một con chim như vậy?
    -  Như vậy thì, tâu chúa thượng, thần thiếp sẽ chết mất.
    -   Này ái khanh, đừng lo buồn chuyện ấy, nếu nơi nào có con chim như vậy thì nó sẽ được bắt về cho ái khanh.
    Nhà vua an ủi bà như vậy rồi đi ra ngoài ngồi xuống, hỏi các triều thần:
   -   Này các khanh, chánh hậu ao ước nghe bài thuyết giảng của một con chim công vàng ánh. Vậy có loại công vàng ánh ấy chăng?
  -  Tâu Chúa thượng, các Bà- la- môn biết chuyện đó.
Nhà vua hỏi các Bà- la- môn. Họ đáp như vầy:
  -  Tâu Đại vương, theo những vần kệ nói về điềm lành của chúng thần, thì trong loài thủy tộc có cá rùa, cua; trong các loài thú rừng có hươu, nai, thiên nga, công, trĩ... Các loài đó cùng loài người, đều có thể sinh ra với sắc vàng ánh.
Sau đó, nhà vua triệu tập tất cả thợ săn trong quốc độ lại và hỏi họ có bao giờ từng thấy con công vàng ánh chưa. Bọn họ đều trả lời không, trừ người thanh niên đã được cha mách bảo về chuyện ông ta đã thấy. Gã đáp:
  -  Chính hạ thần chưa thấy, song thân phụ hạ thần đã bảo cho thần biết một nơi có thể tìm ra một chúa công vàng ánh.
  Nhà vua liền bảo:
   - Này hiền hữu, đây là chuyện sống chết của trẫm và chánh hậu. Vậy hãy cố bắt lấy công ấy đem về đây.
   Nhà vua cho gã thật nhiều tiền bạc và bảo gã ra đi.
    Gã ấy đem tiền về cho vợ con rồi đi đến nơi kia gã thấy bậc Đạo sư, gã đặt bẫy bắt ngài. Mỗi ngày gã tự nhủ thầm là chắc chắn sẽ bắt được chim
công, tuy nhiên gã chết đi mà chẳng bắt được công ấy. Rồi chánh hậu cũng từ trần mà không thỏa tâm nguyện. Nhà vua nổi trận lôi đình và ngài phán:
-Ái hậu của trẫm đã qua đời vì chim công này.
Rồi nhà vua truyền lệnh chép câu chuyện ấy vào một phiến bằng vàng, kể rằng trong rặng thứ tư của khu vực Tuyết sơn có con chim công vàng sống ra sao, hễ ai ăn được thịt nó sẽ trường xuân bất tử. Nhà vua đặt phiến vàng ấy trong kho báu và sau đó qua đời.
   Kế vị vua ấy, một vua khác lên ngôi, đọc lời lẽ câu chuyện ghi trên phiến vàng nên ước mong được trường xuân bất tử, liền cho người thợ săn đi bắt chim công; song nhà vua ấy cũng chết trước khi mãn nguyện giống như vua kia.
   Cùng cách ấy, sáu vị vua kế tiếp qua đời và sáu người thiện xạ chết đi mà không được kết quả gì ở khu vực Tuyết sơn cả. Song người thợ săn thứ bảy, được nhà vua thứ bảy phái đi, không thể nào bắt được chim suốt bảy năm liền mặc dù mỗi ngày gã đều mong đợi chuyện ấy, nên bắt đầu suy nghĩ không biết tại sao lại không thể bắt được đôi chân chim sa vào bẫy.
   Vì thế gã ngắm nghía chim, thấy chim cầu nguyện để được phù hộ mỗi buổi sáng tối đều đặn, và gã lý luận về trường hợp này như sau: “ Không có con chim công nào khác ở vùng này, rõ ràng đây đúng là chim công sống đời thanh tịnh. Chính uy lực đời sống thanh tịnh của chim ấy cùng uy lực của thần chú hộ mệnh đã khiến cho đôi chân chim không bao giờ sa vào bẫy của ta được.” Khi kết luận như vậy rồi, gã đi đến vùng biên địa bắt một con công mái, mà gã luyện cho nó hót tiếng gáy mỗi khi gã búng tay, và xòe cánh múa mỗi khi gã vỗ tay.
  Gã đem chim mái trở về, rồi đặt bẫy trước khi Bồ- tát đọc thần chú hộ mệnh, gã búng tay và làm cho công mái gáy. Công trống nghe tiếng gáy ấy lập tức ác dục đã ngủ yên suốt bảy ngàn năm bỗng vùng dậy như con rắn hổ mang giương mào lên khi bị đánh. Bị ác dục làm cho mê muội, chim công không thể nào đọc thần chú hộ mệnh nữa, mà vội vàng bay về phía chim mái, từ trên không chim hạ cánh xuống đặt đôi chân ngay vào bẫy. Chiếc bẫy kia suốt bảy ngàn năm chẳng đủ uy lực bắt chim, nay đã kẹp chặt lấy chân chim thần.
  Khi người thợ săn thấy chim nằm tòn teng ở cuối sợi dây, gã nghĩ thầm: “Sáu người thợ săn trước đã không thể bắt được chim công chúa này
và trong bảy năm liền ta cũng không bắt được nó. Nhưng hôm nay, ngay khi chim đâm si tình chim mái thì nó không đọc thần chú được, nên sa vào bẫy và bị bắt, nó đang nằm tòn teng với cái đầu lộn ngược kia kìa. Ôi sinh vật mà ta đã làm hại kia thật là đức hạnh! Nếu ta giao một linh vật như vậy cho một người khác chỉ vì bị mua chuộc tiền bạc thì thật là không xứng đáng. Danh vọng của vua chúa có nghĩa gì đối với ta đã chứ? Ta muốn thả chim ấy bay đi.”
    Nhưng rồi gã nghĩ lại: “Đó là một thần điểu kỳ dị phi thường, nếu ta đến gần nó, nó sẽ tưởng ta đến để giết nó, nó sẽ lo sợ cho tính mạng của mình mà vùng vẫy, thì có thể gãy chân hay cánh. Vậy ta không muốn đến gần nó, mà chỉ đứng ẩn mình và cắt đứt cái thòng lọng bằng một mũi tên bắn ra. Sau đó chim muốn đi đâu tùy ý.” Thế là gã đứng ẩn mình, giương cung lên, lắp một mũi tên vào dây và kéo ra sau.
    Bấy giờ, chim công trống suy nghĩ: “Người thợ săn này đã làm ta mê mệt vì ái dục, và khi thấy ta bị sa bẫy rồi lại không còn quan tâm đến ta nữa. Gã ấy ở đâu kìa?” Chim công cứ nhìn hướng này hướng nọ, và thấy người kia đứng với cây cung sẵn sàng bắn. “ Chắc chắn gã muốn giết ta rồi ra đi” chúa công suy nghĩ và sợ chết nên ngâm vần kệ đầu xin tha mạng:
1.           Bắt ta bạn sẽ được ngàn vàng,
             Bắt sống, xin đừng bắn bị thương,
             Van bạn đem ta về chúa thượng,
              Chắc ngài sẽ thưởng thật giàu sang.
  Nghe vậy, người thợ săn suy nghĩ: “Đại khổng tước này tưởng ta sắp bắn nó bằng mũi tên đây. Ta phải trấn an nó mới được.” Vì mục đích ấy, gã ngâm vần kệ thứ hai:
2.          Trên cung ta chẳng ráp tên này
            Để bắn chim, công chúa, ở đây
            Ta muốn cắt dây thòng lọng ấy,
            Để chim tùy ý, hãy xa bay!
Nghe lời này, chim công chúa đáp qua hai vần kệ:
3.         Bảy năm theo đuổi, thợ săn này,
            Đói khát, bạn cam chịu tháng ngày,
            Bạn muốn gì, nay ta mắc bẫy,
            Vì sao muốn thả để ta bay?
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây