Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 48:                                    489. CHUYỆN ĐẠI VƯƠNG HUY HOÀNG - Phần 6 (trang 333-339)

12.         Mong nó bị người bắt lấy thân,
               Sáu trăm dây trói tự rừng hoang
              Mang về thành, bị người vây đánh
              Bằng gậy, giáo, gươm, phải phát cuồng!
              Kẻ đã lấy phần ăn trộm đó,
              Hỡi ngài, Tôn giả Bà- la- môn!
Con khỉ:
13.         Vòng hoa trên cổ, thiếc đeo tai
               Mong nó đi đường khiếp sợ oai
               Chiếc gậy luyện chơi gần lũ rắn
              Kẻ ăn phần trộm ấy, thưa ngài!
  Khi cả hội cùng thề nguyện xong qua mười ba vần kệ này, bậc Đạo sư suy nghĩ: “ Có lẽ chúng tưởng chính ta nói dối rằng không có phần ăn để đó, trong khi nó vẫn có;” vì thế, ngài cũng thề nguyền phần mình qua vần kệ thứ mười bốn:
14.            Ai thề thực phẩm biến đi rồi,
                 Mà nếu không mất mát, vậy thời
                 Mong nó hưởng tràn đầy dục lạc,
                Và mang kết quả việc kia hoài,
                Ước mong cái chết đầy phàm tục
                  Số phận dành cho nó cuối đời,
                Điều ấy cũng dành cho quý vị,
                 Nếu bây giờ quý vị nghi tôi!
   Khi các bậc hiền nhân đã thề nguyền như thế xong, Đế- thích Thiên chủ nghĩ thầm: “Đừng sợ gì cả. Ta đã làm cho các củ sen kia biến mất để thử các người này và nay các vị ấy thề nguyền cả, lại đều ghê tởm hành động ấy như thể một cục đờm phải nhổ. Nay ta muốn hỏi các vị  tai sao lại ghê tởm dục tham như vậy.” Thiên chủ đặt câu hỏi này để chất vấn Bồ- tát trong vần kệ tiếp, sau khi Thiên chủ đã hiện nguyên hình:
15.            Người kiếm tìm luôn ở cõi trần
                 Cái điều vui đẹp, thiết thân lòng
                 Được nhiều kẻ ước mong mê mẩn;
                  Như vậy, vì sao các Thánh nhân
                 Lại chẳng tán dương nhiều sự việc
                 Vẫn thường ham muốn bởi phàm nhân?
Để trả lời câu hỏi này, bậc Đạo sư ngâm hai vần kệ:
16.          Tham dục là tai họa chết người,
                Là dây xiềng xích trói trên đời,
                Ở trong ác dục, ta tìm thấy
               Đau khổ và kinh hãi cả thôi.
                Khi bị dục tham nào cám dỗ,
                Vua thường phạm tội, đắm say hoài!
 17.               Phải vào địa ngục, các phàm nhân
               Gây tội, khi tan rã nhục thân,
               Vì biết khổ đau trong ác dục,
               Bậc hiền chê trách, chẳng đồng lòng.
Khi Đế- thích Thiên chủ nghe bậc Đạo sư giải thích xong, lòng đầy xúc động nên ngài ngâm vần kệ này:
18.           Chính ta trộm, thử các hiền nhân,
                 Ta đặt bên hồ các thức ăn,
                 Bậc trí thật hiền lương thánh thiện,
                  Hỡi người phạm hạnh, hãy nhìn phần!
Nghe thế, Bồ- tát liền ngâm kệ nữa:
19.            Chúng ta không múa rối vui chơi,
                 Làm các trò tiêu khiển với ngài,
                Chẳng quyến thuộc ngài, hay bạn hữu,
               Tại sao vậy thế, hỡi vua trời?
               Thưa ngài ngàn mắt, sao ngài nghĩ
               Bậc trí bày trò giải trí thôi?
Đế- thích Thiên chủ ngâm vần kệ thứ hai mươi để làm lành với ngài:
20.           Ngài chính là Sư trưởng đại nhân,
                Chính ngài là một vị cha thân,
                Chở che cho trẫm đà sai phạm,
                Xin hãy thứ tha trót lỗi lầm;
                Chẳng có bao giờ, thưa Thánh giả,
                Bậc hiền lại phát khởi lòng sân!
  Bậc Đại sĩ liền tha thứ cho Thiên chủ Đế- thích, và về phần ngài, để hòa giải với các Thánh nhân kia, ngài ngâm vần kệ nữa:
21.             An lạc một đêm với Thánh nhân,
                 Chúng ta hội kiến đấng Thiên vương,
                  Chư Hiền, hãy đẹp lòng khi thấy
                  Thực phẩm mất, nay được phục toàn.
Đế- thích Thiên chủ liền đảnh lễ hội chúng hiền nhân rồi trở về Thiên giới. Còn các vị ấy đã làm cho phát khởi Thiền định và các Thắng trí trong tâm, nên về sau được sinh lên cõi Phạm thiên.
                                                     *
Khi bậc Đạo sư đã chấm dứt Pháp thoại, Ngài bảo:
-  Này các Tỷ- kheo, như vậy, các bậc trí ngày xưa đã phát hạnh nguyện và từ bỏ ác dục.
Nói xong, Ngài thuyết giảng các Sự thật. Vào lúc kết thúc các Sự thật, vị Tỷ- kheo thối thất kia đã được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu). Và ngài ngâm ba vần kệ này để nhận diện tiền thân:
22.              Mục- liên, Xá- lợi- phất và Ta,
                   Ca diếp, A-na- luật, Phú- na,1
                  Cùng với A- nan- đà thuở ấy
                 Thất hiền huynh đệ chốn kia mà.
23.             Liên Hoa Sắc, tiểu muội ngày xưa,
                  Tỳ nữ Khujju,2 thuở bấy giờ,
                  Cổ thụ Thần kia, Sātā3 đó,
                 Citta Gia chủ, chính gia nô.
24.              Con voi ngày trước chính Pāri,4
                   Con khỉ là Madhuva đây, 5
                   Đế- thích là Kāḷu6 thuở ấy,
                    Chúng Tăng giờ hiểu Tiền thân này.
______________________________________
1
Puṇṇa
2Khujjuttarā
3Sātāgira
4Pārileyya
5Madhuvaseṭṭha
6Kāḷudāyī
                                   489. CHUYỆN ĐẠI VƯƠNG HUY HOÀNG
                                                    ( TIỀN THÂN SURUCI)
Thiếp là chánh hậu chúa Suruci…
Chuyện này do bậc Đạo sư kể trong lúc trú gần Xá- vệ trong tòa nhà của Lộc mẫu, về việc bà nữ cư sĩ đệ nhất Visākhā này đã được Ngài ban Tám điều Nguyện ước như thế nào.
Một buổi nọ, bà ấy nghe thuyết Pháp ở Kỳ Viên xong, rồi trở về nhà, sau khi mời đức Phật và chúng đệ tử của Ngài đến nhà vào ngày hôm sau.
Nhưng khuya hôm ấy, một cơn cuồng phong dữ dội hoành hành cả bốn châu thiên hạ, đức Thế Tôn bảo các Tỷ- kheo như sau:
-  Khi mưa rơi ở Kỳ Viên, này các Tỷ- kheo, thì mưa cũng rơi khắp bốn châu thế giới. Các ông hãy thấm nhuần ơn mưa móc  đến tận thịt da. Vì đây là cơn đại cuồng phong cuối cùng của Ta thổi khắp thế giới.
  Rồi cùng với các Tỷ- kheo thân mình đã thấm ướt nước mưa, Ngài dùng thần lực biến mất khỏi Kỳ Viên và xuất hiện trong gian phòng khách của tòa nhà bà Visākhā. Bà kêu lên:
 -  Thật hy hữu thay! Thật linh diệu thay là thần thông lực của của đức Như lai thị hiện! Nước ngập lụt đến tận đầu gối, nước ngập lụt đến tận thắt lưng,  mà chẳng có bàn chân hay chiếc y của một Tỷ- kheo nào bị ướt cả!
Trong nỗi hân hoan tràn trề ấy, bà cùng đám tín nữ phục vụ đức Phật và Tăng chúng. Sau buổi thọ thực, bà thưa với đức Phật:
-  Thật tình con ước ao nhận được nhiều thỉnh nguyện từ đức Thế Tôn.
-  Này Visākhā, các đức Như Lai có vô lượng ân lành.
-  Song những điều thỉnh nguyện này xin được ban cho chúng con, những điều này không lỗi lầm!
-   Này Visākha, cứ nói đi!
-  Con ước ao rằng suốt đời con được quyền dâng áo khoác về mùa  mưa cho Tăng chúng, thực phẩm cho các vị khách đến thăm nhà, thực phẩm cho Tăng chúng du hóa đường xa, thực phẩm cho các vị bị bệnh, thực phẩm
cho những vị Tỷ- kheo phục các bệnh nhân, thuốc men cho các bệnh nhân, thường xuyên cúng dường cháo gạo và suốt đời cúng dường y phục cho các Tỷ- kheo- ni khi đi tắm.
   Bậc Đạo sư đáp:
    -   Này Visākhā, bà dự định làm công đức gì khi bà thỉnh cầu Như Lai tám nguyện ước này?
   Bà liền thưa với ngài những lợi lạc mà bà mong có được, và Ngài đáp:
   -  Lành thay, lành thay, này Visākhā, thật tốt lành thay là điều lợi lạc mà bà mong sẽ được khi thỉnh cầu Như Lai tám nguyện ước này.
   Rồi ngài bảo:
   -   Này Visākhā, Ta cho bà tám đặc ân này đó.
   Sau  khi ban cho bà tám thỉnh nguyện ấy xong và nói lời tùy hỷ công đức, Ngài ra về.
   Một hôm, bậc Đạo sư đang trú tại Đông Viên, Tăng chúng bắt đầu bàn luận việc này trong Chánh pháp đường:
   -  Này hiền hữu, nữ thí chủ Visākhā, dù là nữ nhân, đã được chính đấng Thập Lực ban cho tám thỉnh nguyện. Công đức của bà ấy thật cao cả thay!
  Bậc Đạo sư bước vào và hỏi Tăng chúng đang nói chuyện gì. Tăng chúng thưa với Ngài, Ngài bảo:
  -  Đây không phải là lần đầu tiên nữ nhân này nhận được những thỉnh nguyện từ Ta, vì bà ấy xưa kia cũng đã nhận được như vậy.
 Rồi Ngài kể cho Tăng chúng một chuyện quá khứ.
                                                                      *
    Một thời, có vị vua Suruci trị vì tại Mithilā. Vua này có một vương tử đặt tên là Surucikumāra, hay vương tử Huy Hoàng. Khi chàng lớn lên, chàng quyết định đi du học tại Takkasilā, vì thế chàng đến đó và ngồi nghỉ ở mộ sảnh đường tại cổng thành. Bấy giờ, vương tử của vua Ba- la- nại tên là vương tử Brahmadatta cùng đi đến đó, và ngồi nghỉ trên cùng một chiếc ghế dài mà vương tử Suruci đã ngồi. Hai người trò chuyện và kết bạn với nhau, rồi cả hai cùng đi đến vị giáo thọ kia. Hai chàng trả học phí và học tập, chẳng bao lâu, việc học đã hoàn tất.
    Rồi hai chàng từ giã thầy dạy và cùng nhau lên đường. Sau khi đi một
đoạn ngắn, họ dừng lại ở một nơi có ngã rẽ, cả hai ôm nhau từ biệt, và để giữ mãi tình bạn thắm thiết, hai vị giao ước với nhau:
 -   Nếu ta có con trai và bạn có con gái hoặc bạn có con trai và ta có con gái thì chúng ta sẽ kết đôi cho chúng.
 Khi hai vị lên ngôi, vua Suruci sinh hạ một vương tử và cũng đặt tên vương tử là Suruci. Còn vua Brahmadatta sinh con gái đặt tên là Sumedhā hay công chúa Thiện Trí.
 Vào đúng thời lớn khôn, vương tử Suruci đi đến Takkasilā để học tập và khi việc học hoàn tất, lại trở về. Sau đó, vua cha muốn phong vương cho con mình bằng lễ quán đảnh, và nghĩ thầm: “Bạn ta là vua Ba- la- nại đã sinh con gái, ta nghe nói vậy. Nay ta muốn cưới nàng ấy làm vương hậu cho con ta.”
 Vì mục đích trên, vua phái đám sứ thần đem các sính lễ rất sang trọng ra đi.
Song trước khi sứ bộ đến nơi, vua Ba- la- nại hỏi bà chánh hậu điều này:
-  Này ái hậu, điều gì là nỗi khổ đau nhất đối với một nữ nhân?
-  Muôn tâu, đó là việc tranh chấp với các thê thiếp khác của chồng mình
-  Vậy thì, này ái hậu, để tránh cho con gái duy nhất của ta là công chúa Sumedhā nỗi khổ đau ấy, ta sẽ chẳng gả con cho một ai, ngoại trừ người nào chỉ cưới một mình nàng, chứ không có thê thiếp khác.
Vì vậy, khi các sứ thần đến, và nêu danh hiệu công chúa để cầu hôn, vua bảo họ:
-  Này các hiền hữu, quả thực ta đã hứa gả con gái ta cho con của vị vua thân bằng của ta ngày xưa. Song chúng ta không muốn thả con gái vào giữa một đám nữ nhân. Vì vậy chúng ta muốn gả con gái cho vị vua nào chỉ cưới một mình nàng, chứ không thêm ai khác.
 Các sứ giả đem thông điệp ấy về tâu với vua. Nhưng vua này phật ý, bảo:
-  Nước ta là một Đại vương quốc với kinh thành Mithilā chiếm bảy dặm, toàn thể đất nước gồm cả ba trăm dặm. Một vị Đại vương như vậy phải có cả mười sáu ngàn cung phi là ít nhất.
 Còn vương tử Suruci vừa nghe danh tiếng dung sắc tuyệt mỹ của công chúa Sumedhā liền đâm ra si tình công chúa, dù chỉ là nghe đồn thôi, nên chàng nhờ thưa lại song thân là:
  - Con quyết sẽ cưới một mình nàng chứ không thêm ai khác nữa. Con có cần gì cả đám nữ nhân kia chứ? Xin đi cưới nàng về ngay.
 Hai vị không cản trở ước vọng của chàng, liền gửi sính lễ sang trọng
cùng một đám sứ thần đông đảo đi rước nàng về cung. Thế là nàng được phong làm vương hậu và cả hai người đều được tôn lên ngôi bằng lễ quán đảnh( rảy nước lên đầu).
   Chàng trở thành quốc vương Suruci, cai trị rất đúng pháp và sống rất hạnh phúc với hoàng hậu. Song dù nàng đã về sống ở nhà chồng mười ngàn năm, nàng chẳng hề sinh hạ con trai hay con gái gì cả.
   Sau đó, dân chúng tụ tập lại trước sân chầu với những lời trách móc. Vua hỏi:
   -  Có chuyện gì thế?
  Dân chúng tâu:
  -  Chúng thần chẳng thấy lỗi lầm nào ngoại trừ việc này, đó là Chúa thượng không có con trai để nối dõi. Chúa thượng chỉ có một chánh hậu, tuy nhiên một quốc vương phải co ít nhất là mười sáu ngàn cung tần. Xin Chúa thượng hãy tuyển một đám phi tần mỹ nữ, rồi một thứ phi xứng đáng sẽ hạ sinh cho Chúa thượng một hoàng nam.
  -  Này, các hiền hữu nói điều gì thế?  Ta đã hứa không cưới ai khác ngoài hoàng hậu và theo những điều kiện thỏa thuận trên mà ta đã chiếm được nàng làm vợ. Ta không thể nuốt lời được, ta không cần cả một đám nữ nhân đâu.
  Như thế vua từ chối lời thỉnh cầu của dân nên họ ra về. Song Sumedhā nghe được câu chuyện. Bà nghĩ thầm: “ Đức vua từ chối việc tuyển chọn cung phi vì lòng trung tín của ngài, được rồi, ta sẽ tìm thê thiếp khác cho ngài.” Bà vừa đóng vai người mẹ, cùng vai người vợ đối với vua, nên bà tự nguyện tuyển một ngàn công nương thuộc dòng Sát- đế- lỵ, một ngàn tiểu thư của các con quan trong triều, một ngàn thiếu nữ nhà lành, một ngàn vũ nữ đủ loại, tổng cộng bốn ngàn, rồi đem dâng vua.
  Các nàng ấy sống trong cung suốt mười ngàn năm cũng chẳng hề sinh con cái gì cả. Cứ theo cách ấy, ba lần nữa, bà dâng vua bốn ngàn cung nữ, song họ chẳng sinh được con cái gì. Như vậy, bà đã dâng vua cả mười sáu ngàn cung tần mỹ nữ. Bốn mươi ngàn năm trôi qua, nghĩa là năm mươi ngàn năm tất cả, tính luôn mười ngàn năm vua đã chỉ sống với một mình hoàng hậu thôi. Sau đó, dân chúng lại tụ tập với những lời trách móc, vua hỏi:
-  Cái gì đây nữa?
- Tâu Chúa thượng, xin ngài ra lệnh cho các cung phi cầu tự.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây