Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
BẬC A-LA-HÁN, CHÁNH ĐẲNG GIÁC
(Jātaka)
CHƯƠNG MƯỜI
PHẨM MƯỜI BÀI KỆ
439. CHUYỆN BỐN CỐNG THÀNH
(TIỀN THÂN CATUDVĀRA)
Chuyện này bậc Đạo sư kể tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo phóng dật.
(Các chi tiết câu chuyện đã được nêu ra trong số 427, chuyện Tiền thân đầu tiên của Chương IX)
Ở đây, một lần nữa bậc Đạo sư hòi Tỷ-kheo này:
Có đúng như Tăng chúng nói rằng ông bất tuân giới luật?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Ngài bảo:
- Ngày xưa, cũng vì bất tuân lời dạy bảo của các bậc trí nhân mà ông phải nhận lấy một bánh xe sắc như dao cạo.
Rồi Ngài kể một chuyện quá khứ.
- Này con, thân người khó được, vậy con hãy bổ thí, tu tập công đức giữ ngày trai giới và lắng tai nghe Pháp.
Cậu đáp lại:
- Này mẹ, không có chuyện bố thí, tu tập gì cà với con đâu, đừng bao giờ nhắc chúng với con nữa, con sống thế nào thì ngày sau con theo nghiệp đó.
Vào một ngày rằm trăng tròn, khi cậu trai cũng nói như trên, mẹ cậu đáp:
- Con ơi, hôm nay được dành làm ngày trai giới thanh tịnh. Vậy ngày nay, con hãy phát nguyện giữ giới, đi viếng tinh xá và lắng nghe Pháp suốt đêm; rồi khi con trở về, mẹ sẽ cho con một ngàn dồng tiền nhé.
Vì tham số tiền ấy, cậu bằng lòng ngay. Ngay khi ăn sáng xong, cậu đi đến tinh xá, ở lại đó suốt ngày; song từ đầu hôm cho đến lúc canh tàn. chẳng một lời Giáo pháp nào lọt vào tai cậu cả. Cậu đi nằm một nơi và ngủ thẳng giấc. Ngày hôm sau, từ tảng sáng, cậu rửa mặt và đi về nhà, ngồi phịch xuống.
Bấy giờ, mẹ cậu nghĩ thầm: “Hôm nay, sau khi nghe Pháp, con ta sẽ về từ sáng sớm, dẫn theo vị Trường lão đã giảng Pháp.” Vì thế, bà nấu chảo sẵn, với thức ăn đủ loại cứng và mềm, sửa soạn chỗ ngồi xong, đợi con về. Khi bà thấy con đi về một mình, bà hỏi:
- Này con, sao con không đưa về vị Pháp sư?
Cậu đáp:
- Mẹ ạ, chẳng có Pháp sư nào giảng cho con cà.
Bà mẹ bảo:
- Thế thì con húp cháo này đi.
Cậu nói:
- Mẹ đã hứa cho con một ngàn đồng tiền, mẹ ạ. Trước tiên, mẹ hãy trao tiền cho con, rồi sau đó con mới húp cháo.
- Húp cháo trước đi con, rồi con sẽ được tiền kia mà.
Cậu bảo:
- Không được, con không muốn húp cháo cho đến khi con được tiền kia.
Thế là bà mẹ đặt túi tiền một ngàn đồng trước mặt cậu. Cậu liền húp
cháo, xong cậu lấy túi tiền một ngàn đồng đi làm công chuyện của cậu; và cứ thế về sau, chẳng bao lâu cậu kiếm được hai triệu đồng tiền.
- Mẹ à, con có ý định đi làm ăn trên tàu này.
Bà mẹ đáp:
- Con là con độc nhất của mẹ, mà trong nhà mình hiện có nhiều tài sản lắm rồi; còn biển cả lại đầy nguy hiểm, con đừng đi.
Song cậu bảo:
- Con quyết ra đi, mẹ không thể cản con được đâu.
Bà tiếp:
- Này, mẹ cứ muốn cản con đấy.
Rồi bà cầm lấy tay cậu, xong cậu hất tay bà ra khiến bà ngã xuống, và trong chốc lát, cậu đã mất dạng, vội lên đường.
Vào ngày tháng bảy, nhân vì có mặt Mittavindaka, con tàu cứ đứng bất động trên biển sâu. Người ta rút thăm và cả ba lần đều trúng tay Mittavindaka. Thế là họ cho cậu một chiếc bè và nói:
- Đừng để nhiều người phải chết chỉ vì một người này.
Rồi họ thả cậu trôi dạt trên đại dương, chỉ thoáng chốc sau, con tàu ấy đã lao nhanh vùn vụt trên biển.
Còn cậu trai trên chiếc bè trôi đến một đảo kia. Tại đó, trong một cung điện bằng thủy tinh, cậu chợt thấy bốn ma nữ. Trước kia, ma chúng thường phải chịu bảy ngày đau khổ và hưởng bảy ngày hạnh phúc. Được kết bạn với chúng, cậu thọ hưởng khoái lạc thần tiên. Rồi khi đến thời chủng phải chịu khổ hình, chúng bảo cậu:
- Thưa công tử, chúng em sắp xa chàng bảy ngày, trong lúc chúng em đi vắng, xin chàng ở lại đây và đừng lo buồn gì cả.
Nói xong, chúng giã từ.
Song cậu trai, lòng đầy khát vọng, lại ra khơi trên chiếc bè kia và vượt đại dương đến một đảo khác; tại đây, trong một cung điện bằng bạc, cậu thấy tám ma nữ khác. Cứ như thế, cậu thấy trên một đảo nữa mười sáu ma nữ trong một cung bằng ngọc; rồi trên một đảo khác nữa, ba mươi hai ma nữ trong một cung bằng vàng. Cũng như trước kia, với các ma nữ này, cậu hưởng thọ lạc thú thần tiên, rồi khi chúng đi xa để chịu cực hình, cậu lại ra khơi lần nữa, lênh đênh trên đại dương, mãi cho đến cuối cùng cậu thấy một kinh thành có bốn cổng lớn và hào lũy bao bọc. Người ta bảo đó là ngục
Thế là cậu bước vào, vừa thấy một sinh linh đang chịu khổ hình phải mang một cái bánh xe sắc như lưỡi dao cạo, song đối với Mittavindaka dường như bánh xe dao trên đầu kẻ kia lại giống như đóa hoa sen nở, năm vòng xiềng xích trên ngực gã nào khác chiếc áo choàng rực rỡ sang trọng, dòng máu nhỏ giọt trên đầu gã như thể phấn bột gỗ chiên-đàn đỏ thắm ngát hương, còn tiếng gã rên la tựa tiếng ca êm dịu nhất trên đời. Vì vậy, cậu đến gần và bảo:
- Này người kia, anh đã mang cái hoa sen ấy lâu rồi, nay hãy đưa cho ta.
Người ấy đáp:
- Thưa ngài, nó không phải là hoa sen đâu, mà nó là bánh xe sắc như dao cạo.
Cậu trai bảo:
- À, anh nói vậy vì anh không muốn đưa nó cho ta đấy thôi.
Gã tội nhân khốn khổ kia liền suy nghĩ: “Ắt hẳn các nghiệp quá khứ của ta đã tiêu trừ hết. Rõ ràng người này cũng như ta đi đến đây vì đã đánh mẹ nó. Được rồi ta sẽ đưa cho nó đưa bánh xe dao này.” Gã liền bảo:
- Này đây, hãy cầm lấy hoa sen.
Cùng với lời nói trên, gã thả bánh xe dao trên đầu cậu, nó rơi xuống đỉnh đầu và nghiến sâu vào đó; lập tức, Mittavindaka biết ngay đó là bánh xe dao, cậu liền nói:
- Lấy bánh xe của anh lại!
Và cậu gào thét dữ dội trong cơn đau đớn, song kẻ kia đã khuất dạng mất rồi.
Vừa lúc ấy, Bồ-tát cùng đoàn tùy tùng đông đảo đang đi kinh lý qua ngục Ussada và đến tận nơi ấy, Mittavindaka trông thấy ngài, vội kêu lên:
- Tâu Thiên chủ, Thượng đế của chư Thiên, bánh xe này đang đâm thủng và xé nát đầu con như thể cái chày nghiền nát mớ hột cải. Vậy con đã phạm tội ác gì?
Cậu vừa hỏi, vừa ngâm hai vần kệ này:
1. Thành sắt này xây bốn cổng cao,
Chung quanh con, lũy hào bao bọc,
Con đã gây nên ác nghiệp nào?
2. Giờ đây đóng chặt các thành môn,
Và bánh xe này hủy diệt con,
Nào khác chim lồng, con bị bắt.
Tại vì sao vậy, tấu Thiên vương?
Lúc ấy, Thiên chủ ngâm các vần kệ này để giải thích vấn đề cho cậu rõ:
3. Ngài có ngày xưa chục vạn đồng,
Hai mươi lần nữa đấy, Tôn ông,
Tuy nhiên ngài vẫn không hề muốn
Tai lắng nghe bằng hữu nói năng.
4. Ngài đã vội vàng vượt đại dương
Chất đầy nguy hiểm dọc đường trường,
Nữ ma, bốn tám, ngài thăm viếng,
Mười sáu nàng, theo kế tám nàng.
5. Tiếp theo mười sáu, đến ba hai,
Tận hưởng dục tham cứ miệt mài,
Nay hãy nhìn đây đầy phần tặng thưởng
Bánh xe dục lạc ở đầu ngài.
6. Ai đi đại lộ dục tham đầy,
Con lộ thênh thang rộng lớn thay,
Vô độ, chúng không hề thỏa mãn
Thì phần chúng đội bánh xe này.
7. Ai chẳng mong phân phát bạc vàng,
Chẳng cầu tìm chánh đạo bình an
Cũng không biết phải làm như vậy,
Phần bánh xe này chúng sẽ mang.
8. Hãy suy kết quả việc ngài làm
Gia sản ngài xem thật ngập tràn,
Đừng ước làm tài chủ bất chính,
Thực hành điều bạn tốt khuyên răn
Về sau chẳng có bao giờ nữa
Vòng bánh xe này đụng đến thân.
9. Vậy tấu Thiên vương, đến lúc nào
Đừng để con hoài sức khẩn cầu?
Lúc ấy, bậc Đại sĩ tuyên bố vấn đề qua vần kệ thứ mười:
10. Bánh xe này tiếp tục xoay vần,
Mà chẳng hiện ra vị cứu nhân,
Nó dính đầu ngài cho đến chết,
Này Mitta hỡi có nghe chăng?
Nói vậy xong, Thiên chủ trở về cõi của ngài, còn kẻ kia chìm vào con đau đớn cùng cực
*
- Vào thời ấy, Tỷ-kheo phóng dật này là Mittavindaka và Ta chính là Thiên chủ.
Chuyện này bậc Đạo sư kể tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) trong Bồ-đề Lâm (Rừng cây Đa) về một nụ cười.
Vào thời ấy, chuyện kể rằng, bậc Đạo sư đang du hành cùng Tăng chúng trong Bồ-đề Lâm, lúc chiều xuống, tại một chốn kia. Ngài mĩm một nụ cười. Trưởng lão Ānanda nói:
- Nguyên do gì, lý do gì khiến đức Thế Tôn mỉm cười? Đức Như Lai mỉm cười không phải là không có duyên cớ. Vậy ta muốn hỏi Ngài.
Thế là Tôn giả cúi đầu đảnh lễ cung kính hỏi về nụ cười kia, bậc Đạo sư bảo:
- Ngày xưa, này Ānanda, có một bậc hiền trí tên là Kaṇha đã sống ờ nơi đây, chuyên tâm thiền tịnh và lạc trú trong thiền định, nên nhờ uy lực công đức của ngài mà cung của Sakka (Đế-thích) Thiên chủ phải rúng động.
Song vì câu giải thích nụ cười kia chưa được rõ ràng lắm, nên theo lời thỉnh cầu của vị Trưởng lão, đức Phật kể một chuyện quá khứ.
Đến năm mười sáu tuổi, đầy vẻ uy nghi như một bức tượng bằng ngọc qúy, ngài được phụ thân đưa đến học ở Takkasilā; nơi đây, ngài được dạy đầy đủ các môn văn học nghệ thuật, xong trở về nhà. Sau đó, cha ngài lại cưới cho ngài một cô vợ xứng đôi vừa lứa. Dần dần theo thời gian ngài