Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 96: Chương Mười Bảy- Phẩm Bốn Mươi Bài Kệ - Phần 9 (trang 670-678)

      Vô tình trước lệ sầu cay đắng
      Con quyết tu hành, vương tử ôi!
   Trong khi thái hậu than khóc như vậy, Bồ-tát không thốt lên lời nào. Thái hậu vẫn ngồi một mình khóc lóc mãi. Sau đó, quần thần tâu với phụ hoàng. Ngài đi đến ngâm kệ sau:
6.    Pháp nào đây hướng dẫn vương nhi
       Mong ước rời vương quốc biệt ly,
       Bỏ mặc lão thân đời quạnh quẽ,
      Ẩn am tìm đến để tu trì?
Nghe vậy, bậc Đại sĩ liền trấn an ngài. Phụ vương lại bảo:
-  Này vương nhi Sutasoma, cho dù con không thương tiếc gì đến song thân nữa, con vẫn còn nhiều vương tử, công chúa lắm. Chúng không thể nào sống thiếu con được. Vậy đợi đến khi chúng trưởng thành rồi vương nhi hãy xuất gia tu hành có được chăng?
Rồi ngài ngâm vần kệ thứ bảy:
7.      Vương nhi nhiều ấu tử, e rằng
         Hết thảy còn đang độ búp măng,
          Đến lúc vương nhi vừa vắng bóng
         Nỗi buồn nào sánh chúng hay chăng?
Nghe lời này, bậc Đại sĩ đáp vần kệ:
8.       Quả thật thần nhi có lắm con,
         Chúng còn đang độ tuổi măng non,
         Dù bao năm sống gần bên chúng,
         Con phải giờ đây vĩnh biệt luôn.
  Thế là bậc Đại sĩ thuyết pháp cho phụ vương và khi nghe ngài thuyết pháp, vua cha bình tâm lại, rồi quần thần thông báo cho bảy trăm cung phi. Họ từ trên thượng lầu bước xuống yết kiến ngài, ôm lấy chân ngài và ngâm vần kệ:
9.     Lòng ngài chắc phải vỡ vì buồn,
        Hoặc giả ngài không biết xót thương,
        Nên ước nguyện theo đời ẩn sĩ,
         Để cung tần khóc nỗi cô đơn.
    Bậc Đại sĩ nghe họ khóc than như vậy, trong lúc họ ngã mình dưới chân ngài và gào thét, liền ngâm thêm một vần kệ:
10.       Lòng ta không thể vỡ vì buồn,
           Vẫn thấy đau vầy, cũng xót thương,
           Song việc tu hành ta đã quyết,
           Để ta hưởng cực lạc thiên đường.
  Sau đó, quần thần trình lên chánh cung hoàng hậu. Bà đang mang thai nặng nhọc vì ngày sinh cận kề, bà liền đến gần bậc Đại sĩ, đảnh lễ ngài và kính cẩn đứng qua một bên rồi ngâm ba vần kệ:
11.       Than ôi! Bất hạnh chính là ngày
            Thiếp được se duyên Chúa thượng đây,
            Vì quá vô tình nhìn lệ thảm,
            Đại vương quyết chí xuất gia ngay.
12.       Bạc phận, than ôi, đó chính ngày
            Cùng Soma kết tóc se dây,
            Vì chàng để mặc ai sầu chết,
            Quyết chí theo đời ẩn sĩ đây.
13.       Mãn nguyện khai hoa đã kế gần,
           Mong chàng ở lại, hỡi vương quân,
            Khi con sinh hạ, ngày sầu thảm,
           Thiếp biết từ đây mất Chúa công.
Đến lượt bậc Đại sĩ ngâm vần kệ đáp:
14.       Mãn nguyệt khai hoa đã tới hồi,
           Ta chờ đến lúc trẻ ra đời,
          Rồi ta từ giã ngay vương tử,
          Xuất thế, ta thành ẩn sĩ thôi!
  Nghe ngài nói vậy, bà không thể nào kiềm chế nỗi sầu thảm được nữa, liền lấy hai tay ôm ngực, bảo ngài:
  -  Tâu Chúa thượng, từ nay cảnh vinh quang của đôi ta không còn nữa. Rồi lau dòng lệ xong, bà lại than khóc thảm thiết.
Bậc Đại sĩ ngâm kệ an ủi bà:
15.    Vương hậu mắt huyền hoa mượt mà,
          Xin nàng đừng khóc nữa vì ta,
          Nguyệt Nga, lên thượng lầu an nghỉ,
          Ta sẽ đi, lòng chẳng thiết tha!
Không thể nào chịu đựng những lời nói của ngài được nữa, bà vội
bước lên thượng lầu ngồi khóc một mình. Lúc ấy, vị thái tử của Bồ-tát thấy vậy, hỏi bà:
- Tại sao mẫu hậu ngồi khóc ở đây?
Và chàng ngâm kệ này hỏi mẹ:
16.     Mẫu hậu có ai khiến mẹ buồn,
         Cớ sao mẹ khóc, lại nhìn con,
         Ai trong hoàng tộc lòng vô đạo?
        Vì mẹ, con đành giết sạch luôn.
Hoàng hậu liền ngâm vần kệ đáp:
17.   Không ai dám hại đến người kia,
        Người khiến ta sầu khổ não nề,
        Vì chính phụ vương con đã nói:
       “Ta không đoái tưởng, sẽ ra đi.”
Nghe lời mẹ, thái tử nói:
-Tâu mẫu hậu, sao mẫu hậu lại nói thế? Nếu quả vậy thì chúng con thật bơ vơ.
Chàng liền than khóc và ngâm kệ:
18.     Có lần ta dạo khắp hoa viên
          Nhìn lũ voi giao đấu trận tiền,
          Ví thử phụ vương thành ẩn sĩ
           Ta làm gì, hỡi kẻ vô duyên?
Sau đó, một vị vương tử vừa lên bảy, thấy anh và mẹ đang khóc, liền đến gần mẹ hỏi:
- Mẫu hậu và hoàng huynh ơi, cớ sao lại than khóc?
Và khi nghe duyên cớ, cậu bé bảo:
- Thôi được, đừng khóc nữa, con sẽ không để phụ vương xuất gia đâu. Rồi vương tử an ủi hai vị, xong cùng nhũ mẫu bước xuống khỏi thượng lầu, đến yết kiến phụ vương và thưa:
- Tâu Phụ vương, thần nhi nghe nói phụ vương sắp rời bỏ chúng con mà xuất gia, mặc dù chúng con không muốn. Vậy con không chịu để phụ vương đi tu đâu.
Rồi ôm chặt lấy cổ vua cha, vương tử ngâm vần kệ:
19.     Mẫu hậu đang ngồi khóc nỉ non,
          Vương huynh cũng muốn giữ cha thương,
      Con ôm vương phụ bằng tay vậy,
      Chẳng để cha đi trái ý con.
   Bậc Đại sĩ liền suy nghĩ: “Thằng bé này thật là mối nguy hiểm cho ta, ta làm thế nào để thoát được nó đây?” Rồi nhìn người nhũ mẫu, ngài bảo:
-  Này hiền nhũ mẫu, hãy nhìn viên ngọc trang sức này, ta cho ngươi đấy, chỉ việc đem đứa bé này đi nơi khác, đừng để nó cản trở ta.
Vì ngài không thể tự mình tránh được cậu bé đang nắm chặt lấy tay ngài, ngài hứa ban thưởng cho nhũ mẫu ấy và ngâm kệ:
20.    Gắng nuôi vương tử lớn dần,
         Đem trẻ vui đùa chốn khác hơn,
         E trẻ phá tan niềm hỷ lạc,
        Cản chân ta vội đến thiên đường.
Nhũ mẫu nhận món quà thưởng và dỗ dành cậu bé rồi dẫn đi nơi khác. Bà vừa than khóc vừa ngâm kệ:
21.      Ví ta từ khước hạt minh châu,
          Ta chẳng màng chi, sẽ thế nào?
           Vì Chúa thượng ta làm ẩn sĩ,
           Bảo châu còn có nghĩa gì đâu?
Lúc ấy, vị đại tướng của ngài suy nghĩ: “Chắc đức vua tưởng ngài chỉ có rất ít bảo vật trong cung thôi. Vậy ta sẽ cho ngài biết ngài có vô số kể.” Vì thế, vị này đứng lên đảnh lễ vua và ngâm kệ:
22.     Đại vương đầy ắp mọi kho tàng,
         Chúa thượng tạo nên đại phú cường,
         Toàn cõi thế gian đều khuất phục,
         Chớ làm ẩn sĩ, sống thư nhàn.
Nghe vậy, bậc Đại sĩ đáp vần kệ:
23.    Kho tàng đầy ắp các kim ngân,
         Ta đã tạo nên đại phú cường,
         Toàn cõi thế gian đều khuất phục,
          Nay làm ẩn sĩ, bỏ phàm trần!
   Khi ấy, một vị đại phú thương vừa đi đến, có tên là Kulavaḍḍhana, nghe lời liền đứng lại, đảnh lễ vua và ngâm kệ:
24.    Đại vương, thần tột đỉnh giàu sang,
         Chẳng đếm làm sao xiết bạc vàng,
        Xin ngắm hạ thần dâng tất cả,
        Đứng làm ẩn sĩ, sống như nhàn!
Nghe lời này ,bậc Đại sĩ đáp vần kệ :
25.    Này hỡi Kula,vẫn biết rằng
         Khanh mong dâng hiến cả kho tàng,
         Song ta hướng đích về Thiên giới,
         Nên khước từ nhân giới dục tham.
Ngay khi Kulavaḍḍhana nghe nói vậy và đi khuất rồi, vua liền bảo hoàng đệ Somadatta:
- Này hoàng đệ, ta bất mãn như gà rừng bị nhốt trong lồng, ta nhàm chán cuộc sống gia đình này lắm rồi. Ngày hôm nay ta sẽ làm ẩn sĩ, vậy hoàng đệ hãy đảm nhận trọng trách cai trị nước này.
Giao phó xong việc cho vị kia, ngài ngâm kệ:
26.     Này Soma, trẫm thấy ngay rằng
          Nhàm chán lạ thường khắp cảm quan
         Khi nghĩ chất chồng đầy ác nghiệp,
         Nay đời ẩn sĩ bước lên đàng.
Nghe lời này , hoàng đệ Somadatta cũng muốn thành ẩn sĩ và để làm sang tỏ vấn đề này , chàng ngâm kệ nữa:
27.     Anh hỡi Suta, đến ẩn mình,
         Như lòng nguyện ước chốn am tranh,
         Cầu mong đệ cũng làm tu sĩ,
         Đời chẵng nghĩa gì nếu vắng anh.
Vua Sutasoma muốn từ chối lời này , liền ngâm vần kệ:
28a.   Hoàng đệ đừng đi, kẻo ngại rằng
          Khắp nơi, đời sống thảy đều ngưng.
Nghe như vậy, dân chúng quỳ xuống chân bậc Đại sĩ và than khóc:
28b.  Ví  dầu hoàng đệ này đi khuất,
        Rồi sẽ ra sao, phận chúng thần?
Bậc Đại sĩ liền bảo :
-Thôi đừng than khóc nữa, dù lâu nay ta ở cùng các ngươi, giờ đây ta cũng phải xa lìa các ngươi, chẳng có gì trường tồn trong mọi phát hữu vi cả.
Rồi ngài ngâm kệ thuyết pháp cho dân chúng :
29.    Ngày như nước chảy lọc qua sàng,
        Ngắn ngủi, tham ôi, lướt vội vàng,
        Đời sống xoay vần trong hạn hẹp,
        Làm sao được phép thiếu siêng năng.
30.    Ngày như nước chảy lọc qua sàng,
         Ngắn ngủi, tham ôi, lướt vội vàng,
        Đời sống xoay vần  trong hạn hẹp,
        Chỉ người ngu xuẩn thiếu siêng năng.
        Đày đọa vì xiềng xích dục tham,
        Lằn ranh đọa xứ cứ lan tràn,
        Càng đông ngạ quỷ,súc sinh giới,
         Hội chúng ma vương cứ mãi tăng.
  Bậc Đại sĩ thuyết pháp như vậy cho dân chúng rồi bước lên thượng lầu của cung Vạn Hoa, ngài đứng trên tầng thứ bảy, cắt  búi tóc và bảo:
-   Bây  giờ ta không  là gì nữa đối với các người,vậy các người hãy chọn một vị vua khác đi.
Cùng với những lời này, ngài ném búi tóc của ngài, khăn đội đầu, cùng các bảo vật khác xuống giữa đám quân thần dân chúng. Quần thần cần lấy búi tóc, lăn lóc trên mặt đất, kêu gào thảm thiết. Rồi một đám bụi từ nơi ấy tung lên cao, dân chúng đứng lùi lại nhìn theo bảo nhau:
-   Có lẽ đức vua đã cắt búi tóc và ném xuống cùng  khăn đội đầu đủ cả vào đám dân chúng , cho nên mới có đám bụi tung lên gần cung điện.
Rồi họ khóc than ngâm kệ:
32.   Nhìn đám bụi kia chợt tỏa cao,
       Gần hoàng cung Đại Vạn Hoa lầu,
       Chắc rằng Minh đế lừng danh vọng
       Đã cắt tóc ngài với bảo đao!
   Còn bậc Đại sĩ truyền gọi một quân hầu tìm đủ vật dụng cần thiết của một ẩn sĩ đem đến cho ngài, lại bảo người thợ hớt tóc cạo sạch râu tóc ngài,ném chiếc hoàng bào rực rỡ xuống bảo tọa. Ngài cắt bỏ mọi dải lụa màu, đắp lên người những miếng vải nối lại màu vàng, buộc cái chén đất lên đầu vai trái; rồi cầm chiếc gậy hành khất trong tay, ngài đi lui đi đi tới  trên thượng lầu, sau đó bước xuống lầu đi đường, song không ai nhận ra ngài  khi ngài đi xuống cả.
   Còn bảy trăm cung tần bước lên thượng lầu không tìm thấy ngài, mà
chỉ thấy đống xiêm y của ngài, liền bước xuống bảo mười sáu ngàn cung phi khác :
-  Đại sế Sutasoma, chúa thượng tôn quý của ta đã trở thành ẩn sĩ rồi.
Và họ than khóc bước ra.Vừa lúc ấy, dân chúng hay tin ngài đã làm ẩn sĩ, cả kinh thành chấn động hẳn lên, dân chúng bảo nhau:
- Người ta bảo đức vua đã trở thành ẩn sĩ  rồi .
Họ đều tụ tập cung môn, kêu lên :
-   Chúc thượng chắc đang ở một nơi nào đó.
Rồi họ đổ xô ra khắp nơi ngài thường lui tới, song không tìm được  ngài. Họ đi lang thang đây đó vừa than khóc, vừa ngâm kệ:
33.    Này đây, cung điện, tháp lầu vàng,
         Lủng lẳng vòng hoa tỏa ngát hương,
        Rộn rịp bao cung tần mỹ nữ,
        Ngày xưa Chúa thượng ngự du thường.
34.   Giăng mắc vòng hoa, dát ngọc vàng,
         Ta nhìn cung điện nóc cao sang
         Là nơi hoàng tộc chầu bên cạnh,
         Đại đế kiêu hùng bước dọc ngang.
35.     Đây vườn thượng uyển rực muôn hoa,
         Thay đổi quanh năm với các mùa,
        Rộn rịp bao cung tần mỹ nữ,
        Ngày xưa Chúa thượng ngự loan xa.
36.     Hồ kia phủ khắp đám sen xanh,
          Nơi chốn chim muông đến lược quanh,
          Tất cả  hoàng gia chầu cạnh đó,
           Ngày xưa Chúa thượng vẫn du hành.
Cứ thế, dân chúng vừa đi khắp nơi vừa than khóc  rồi trở lại sâu chầu, họ ngâm kệ:
37.     Thật buồn thay Chúa thượng soma
           Đã bỏ ngai vàng để vàng để xuất gia,
          Mặc chiếc hoàng y, ngài rảo bước
           Như voi đơn độc lạc đường xa.
  Rồi họ ra đi,bỏ hết nhà cửa đồ đạc, dắt theo con cái đi tìm Bồ-tát và cha mẹ, cháu chắt. Họ cùng đi theo với mười sáu ngàn cung phi ca múa. Cả
kinh thành như bãi sa mạc vì dân chúng đi theo nhau cả. Bồ-tát  và dân chúng chiếm cứ một vùng mười hai dặm về núi Tuyết sơn.
 Lúc ấy, Đế thích Thiên chủ, chú tâm đến Đại sự xuất thế của ngài, liền bảo Vissakamma:
-  Này hiền hữu  Vissakamma, vua Sutasoma đã từ bỏ thế tục.Ngài phải có nơi ẩn cư, vì dân chúng tụ tập quanh ngài đông lắm.
Ngài lại triệu vị này đến bảo:
- Hãy đi dựng am thất ẩn sĩ dài mười ba dặm, rộng năm dặm trên bờ sông Hằng ở vùng núi Tuyết sơn.
  Vị này tuân lệnh, cung cấp các lều ẩn sĩ đầy  đủ mọi vật dụng cần thiết và lại làm một con đường dẫn đến đó, rồi trở về Thiên giới.
Bậc Đại sĩ theo đường này đến vùng am tranh. Sau khi ngài thọ đại giới, ngài lại truyền giới cho đám dân chúng, dần dần đa số được thọ giới nên khu vực mười ba dặm này đông đảo người tu. Lúc bấy giờ việc Vissakamama xây am ẩn ra sao, đại chúng được truyền giới như thế nào,vùng am thất của Bồ -tát được sắp đặt ra sao, đều được hiểu theo như kiểu trong Tiền thân Hatthipāla (số 509, tập V). Ở đây, nếu có một dục tưởng hay tà kiến nào khởi lên trong tâm bất cứ người nào, bậc Đại sĩ liền đến gần người đó ở trên không, ngồi kiết-già giữa không gian và thuyết pháp qua hai vần kệ:
38.      Quên đi chuyện ái dục ngày xưa,
          Khi vẻ mặt người vẫn cợt đùa ,
           Kẻo sợ kinh thành hoan lạc ấy
           Làm bừng dục vọng, phải tiêu ma.
39.      Thoát người tham đắm,tự điều thân,
            Thiện ý ngày đêm với thế nhân,
           Ngươi sẽ hưởng ngôi nhà thượng giới,
           Nơi người hành thiện đến chung phần .
  Hội chúng Thánh nhân này hành trì lời giáo huấn của ngài, nên được tái sinh lên Phạm thiên giới. Câu chuyện được kể giống hệt như trong Tiền thân Hatthipala.
                                                 *
  Sau khi bậc Đạo sư chấm dứt thời Phát thoại, Ngài bảo:
-  Này các Tỷ- Kheo, không phải chỉ bây giờ, mà cả ngày xưa nữa, Như Lai đã làm Đại sự xuất thế.
Và Ngài nhận diện tiền thân:
-  Lúc bấy giờ, song thân là vương phụ và mẫu hậu trong triều đình, Canda là mẹ Rāhula (La-hầu-la), thái tử là Sāriputta (Xá-lợi-phất), tiểu vương tử là Rāhula, nhũ mẫu là Khujjuttarā,vị phú thương Kulavaḍḍhana là Kassapa (Ca-diếp),vị đại tướng là Moggallāna (Mục-kiều-liên), hoàng đệ Somadatta là Ānanda (A-nan) và vua Sutasoma chính là Ta.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây