Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
Xét kỹ, rồi theo phần chính giữa,
Bến bình an nhất, kéo neo về.
Sau đó, người ấy lại nói:
- Này bây giờ, chúng ta hãy nghe theo lời cả hai vị Thần ấy. Ta hãy đóng thuyền, rồi nếu lời của vị thần thứ nhất là đúng sự thật, ta sẽ leo lên thuyền và ra đi; nếu lời vị thần thứ hai đúng thì ta sẽ cất thuyền chỗ khác và ở lại đây.
Khi người ấy nói vậy xong, người thợ mộc ngu si bảo:
- Anh cứ đi mà xem con cá sấu nằm trong chén trà! Anh thật quá ư chậm trí! Vị Thần thứ nhất nói như vậy vì tức giận chúng ta, còn vị thứ hai nói vì thương yêu chúng ta. Nếu ta rời hòn đảo tuyệt hảo này thì ta sẽ đi đâu nữa? Song nếu anh cần phải đi thì cứ đi mà đóng thuyền, bọn ta không cần thuyền, bọn ta ở đây!
Người thợ mộc khôn ngoan cùng những người theo phe mình đóng một con thuyền, đặt mọi hành trang lên thuyền, rồi cả bọn đứng vào thuyền. Sau đó vào ngày trăng tròn, đúng lúc trăng mọc, từ đại dương dâng lên một ngọn sóng bao phủ khắp hòn đảo đến tận đầu gối. Khi người khôn ngoan ấy thấy đợt sóng dâng lên thì vội thả thuyền ra. Bọn người theo phe người thợ ngu si gồm năm trăm gia đình, cứ ngồi bảo nhau:
- Một ngọn sóng đã dâng lên trên đảo. Nhưng nó sẽ không cao hơn đâu.
Sau đó, sóng biển dâng cao lên thắt lưng, rồi cao bằng đầu người, cao tận ngọn cây dừa, rồi bảy cây dừa, rồi phủ lên khắp hòn đảo. Con người nhiều mưu trí ấy, biết đủ phương cách, không than lam các tài vật, nên đã ra đi an toàn; còn người thợ ngu si tham của cải không thấy nỗi kinh hoàng trong tương lai nên đã bị tiêu hủy cùng năm trăm gia đình nọ.
*
Và ba vần kệ nữa đầy tính cách giáo hóa, để làm sáng tỏ vấn đề trên, là kệ phát xuất từ Trí tuệ tối thắng:
10. Do nghiệp làm, như giữa đại dương,
Thương nhân thoát nạn, hạnh phúc tròn,
Nên người trí hiểu điều sâu kín,
Chẳng phạm ngày sau lỗi cỏn con.
Chìm ngập trước nhu cầu hiện tại,
Như người tận số giữa trùng dương.
12. Hãy làm xong việc trước khi cần,
Đừng để túng cùng phải khổ thân,
Ai đúng thời làm điều thiết yếu,
Chẳng hề lâm cảnh ngộ đau buồn.
*
Khi bậc Đạo sư đã chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu tiên, mà cả ngày xưa nữa, Đề-bà-đạt-đa đã bị mắc vào bẫy dục lạc hiện tại mà không nhìn thấy tương lai nên đã gặp hủy diệt cùng đồng bọn của kẻ ấy.
Nói xong, Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời bấy giờ, Đề-bà-đạt-đa là người thợ mộc ngu si, Kokālika là vị ác Thần đứng ở phương nam, Sāriputta (Xá-lợi-phất) là vị Thần đứng ở phương bắc và Ta chính là người thợ mộc có trí khôn ngoan kia.
(TIỀN THÂN KĀMA)
Người nào mong ước việc trong lòng...
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú ngụ tại Kỳ Viên về một Bà-la- môn.
Chuyện kể rằng, một vị Bà-la-môn trú ở Xá-vệ, lúc ấy đang đốn cây bên bờ sông Aciravatī để trồng trọt, cày cấy. Bậc Đạo sư nhìn thấy rõ nghiệp duyên của vị này (về khả năng tu tập) khi Ngài đến Xá-vệ để khất thực, Ngài liền bước ra khỏi con đường đang đi để nói chuyện ân cần với ông. Ngài hỏi:
- Này Bà-la-môn, ông đang làm gì đó?
Người ấy đáp:
- Thưa Sa-môn Gotama, tôi đang đốn cây ở một khoảng trống để trồng trọt.
Ngài bảo:
- Tốt lành thay, này Bà-la-môn, ông tiếp tục công việc đi.
Cứ như vậy bậc Đạo sư đi đến nói chuyện với ông, khi các thân cây đốn xong lại được mang đi nơi khác, và người kia dọn sạch mẫu đất của mình; và Ngài lại đến vào lúc cày cấy, hoặc lúc đào những hố vuông nhỏ để lấy nước. Bấy giờ vào ngày gieo hạt, vị Bà-la-môn hỏi:
- Thưa Tôn giả Gotama, hôm nay là ngày Lễ hạ điền (Lễ Cày bừa) của tôi. Khi bắp chín, tôi sẽ cúng dường nhiều cho Tăng chúng được đức Phật dẫn đầu.
Bậc Đạo sư nhận lời cúng dường của ông và ra đi. Một ngày khác, Ngài lại đến và thấy người Bà-la-môn đang ngắm đám bắp ấy. Ngài hỏi:
- Này Bà-la-môn, ông đang làm gì đó?
- Thưa Tôn giả Gotama, tôi đang ngắm đám bắp.
- Này Bà-la-môn, tốt lắm!
Bậc Đạo sư nói rồi đi thẳng.
Vào ngày ý tưởng này xuất hiện trong trí ông, khi về nhà, ông cũng thấy bậc Đạo sư đến nữa. Từ đó, trong lòng vị Bà-la-môn khởi lên một niềm tín thành kỳ diệu.
Dần dần, bắp đã chín, vị Bà-la-môn quyết định ngày mai sẽ gặt. Nhưng khi ông ngủ trên giường thì ở khoảng đất trên sông Aciravatī, mưa trút xuống như chĩnh đổ. Lũ lụt kéo đến mang theo cả mùa màng ra biển, vì thế không còn sót một cây nào. Khi cơn lũ đã rút, vị Bà-la-môn thấy hoa màu bị tàn phá, nên không còn sức mà đứng nữa, tay ông cứ ôm ngực vì quá đau khổ, ông vừa khóc vừa về nhà, nằm xuống kêu than. Buổi sáng, bậc Đạo sư đã thấy vị Bà-la-môn này tràn ngập khổ đau, Ngài suy nghĩ: “Ta sẽ là nơi nương tựa của người Bà-la-môn.”
Thế là hôm sau, khi đã đi khất thực quanh Xá-vệ rồi, Ngài trờ về từ nơi thọ dụng thức ăn, bảo các Tỷ-kheo lui về tinh xá rồi chính Ngài cùng một tiểu thị giả đi với Ngài đến nhà ông. Khi vị Bà-la-môn nghe Ngài đến, thì lòng hoan hỷ, nghĩ thầm: “Chắc hẳn vị hiền hữu của ta đến để nói chuyện thân mật.” Ông mời Ngài ngồi; bậc Đạo sư bước vào ngồi trên một tọa sàng đã định sẵn và hỏi:
- Này Bà-la-môn, tại sao ông nản lòng? Việc gì xảy ra khiến ông bất mãn?
- Thưa Sa-môn Gotama, từ lúc tôi đến đây trên bờ sông Aciravatī, Ngài cũng đã biết tôi làm gì rồi. Tôi đã đi đây đó, và hứa cúng dường Ngài khi hoa màu chín; nay cơn lụt đã cuốn trôi hết mọi hoa lợi ra biển, chẳng còn lại gì cả. Bắp ngô bị thiêu hủy cả đến trăm cỗ xe, vì thế tôi đang sầu khổ lắm đây.
- Này, của mất mát có thể trở lại nhờ than khóc không?
- Thưa Sa-môn Gotama, nó không trở lại được.
- Nếu vậy tại sao sầu khổ? Sự giàu sang của người đời hay thóc lúa, khi còn đó thì chúng có mặt, và khi mất rồi thì thôi. Chẳng có vật hữu hình nào không chịu hoại diệt, thôi ông đừng sầu muộn vì nó nữa.
An ủi ông như thế xong, Ngài nhắc lại kinh Tham dục (Kinh Tập IV, kệ 766) vì thích hợp với hoàn cảnh này. Khi Ngài kết thúc bài kinh Tham dục
- Này các Hiền giả, đấng Thập Lực đã kết bạn với một vị Bà-la-môn, ngày càng thân thiết, đã tạo cơ hội thuyết Pháp cho ông, đang lúc ông gặp cơn đau khổ xé nát cõi lòng. Ngài an ủi cho vơi niềm đau khổ rồi an trú ông vào quả Dự Lưu.
Bậc Đạo sư bước vào và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông đang nói chuyện gì khi ngồi lại đây?
Tăng chúng thưa lại với Ngài. Ngài đáp:
- Đây không phải là lần đầu tiên, này các Tỷ-kheo, mà ta chữa lành nỗi đau buồn của kẻ ấy, song ngày xưa, đã lâu lắm, Ta cũng làm như vậy.
Và cùng với những lời này, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thời, vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại có hai vương tử. Ngài phong chức phó vương cho thái tử, còn vị thứ hai làm đại tướng quân. Sau đó, khi vua Brahmadatta băng hà, triều thần phải phong vương cho thái tử bằng nghi lễ quán đảnh. Song chàng bảo:
- Ta chẳng màng giang sơn quốc độ, hãy để vương đệ ta trị nước.
Đại chúng van xin cầu khẩn thái tử, song chàng chẳng muốn chuyện đó, nên vị vương đệ được quán đảnh phong vương. Thái tử cũng không màng ngôi vị phó vương hay chức tước gì cả; khi triều thần xin chàng ở lạ,. sinh sống trên mảnh đất trù phú này, chàng đáp:
- Không, ta không làm gì được trong kinh thành này cả.
Rồi chàng ra đi, rời khỏi Ba-la-nại, chàng đến vùng biên địa và sống với một gia đình thương gia giàu có, làm việc bằng đôi tay của mình. Những người này sau một thời gian biết được chàng là thái tử nên không để cho chàng làm việc nữa, họ hầu hạ chàng như thể một vương tử phải được cung phụng vậy.
Bấy giờ, sau một thời gian, triều thần đến làng đó để vẽ họa đồ đồng ruộng. Lúc ấy, người lái buôn nói với vương tử:
Chàng đồng ý làm việc ấy và viết như sau: “Ta đang sống với một gia đình thương nhân nọ, ta xin vương đệ vì ta mà miễn thuế cho họ.”
Vua chấp thuận, và làm y theo như vậy. Từ đó, dân làng và dân cả vùng ấy đến gặp chàng bảo:
- Hãy xin cho chúng thần được miễn thuế, rồi chúng thần sẽ đóng thuế cho ngài.
Chàng làm thỉnh nguyện thư cho họ, và xin cho họ miễn thuế. Sau đó dân chúng trả thuế cho chàng. Lúc ấy, lợi tức và danh tiếng chàng rất lớn; cùng với lợi danh này, lòng tham của chàng cũng khởi lên, vì thế dần dân chàng đòi cả thị trấn, chàng đòi chức phó vương cũ và vương đệ chàng cứ ban cho chàng tất cả. Lúc ấy, lòng tham của chàng cứ tăng trưởng, chàng không hài lòng với chức vị phó vương, và quyết định chiếm lại ngai vàng. Nhắm mục đích ấy, chàng lên đường cùng với một đám người, đóng tại ngoại ô kinh thành và gửi thư vào vương đệ chàng:
- Hãy trao quốc độ cho ta, không thì giao chiến!
Vị vương đệ suy nghĩ: “Ngày trước kẻ ngu si này đã từ chối ngai vàng, địa vị phó vương và tất cả, nay lại bảo muốn đánh chiếm lại. Nếu ta giết anh ta trong chiến trận thì đó là điều ô nhục cho ta, vậy ta cần gì làm vua nữa?” Vì thế chàng gửi chiếu chỉ:
- Tiểu đệ không muốn gây binh đao, xin vương huynh cứ lấy ngai vàng.
Vương huynh chấp thuận việc ấy và phong vương đệ làm phó vương.
Từ đó, chàng cai trị vương quốc. Nhưng chàng tham lam như vậy nên một vương quốc chưa làm chàng thỏa mãn mà chàng muốn hai vương quốc, rồi ba, tuy thế, vẫn thấy lòng tham vô tận.
Thời bấy giờ, Sakka (Đế-thích) Thiên chủ nhìn ra ngoài. Ngài suy nghĩ: “Ai là người chăm lo phụng dưỡng cha mẹ đây? Ai là người bố thí và làm điều thiện đây? Ai là người bị tham dục chi phối?” Ngài suy nghĩ: “Kẻ ngu si này không hài lòng trị vì ở Ba-la-nại. Được, ta sẽ dạy cho y một bài học.”
Vì vậy, ngài giả dạng một thanh niên Bà-la-môn, đứng ở cửa cung rồi đưa tin rằng có một thanh niên lanh lợi đang đứng ở cửa. Chàng được phép vào chầu, liền tung hô chúc tụng vạn tuế vua xong xuôi, vua hỏi:
Chàng đáp:
- Tâu Đại vương, tiểu sinh có chuyện cần tâu với Đại vương, song tiểu sinh muốn được giữ cẩn mật.
Nhờ thần lực của Đế-thích Thiên chủ, ngay lúc ấy, mọi người rút lui cả. Sau đó, chàng thanh niên nói:
- Tâu Đại vương, tiểu sinh biết ba kinh thành trù phú, đông dân, quân đội và chiến mã đều hùng cường; tiểu sinh nhờ quyền lực của mình sẽ làm chủ ba kinh thành ấy, và sẽ dâng tặng Đại vương. Song Đại vương không được trì hoãn mà phải đi liền lập tức.
Vua đầy lòng tham nên đồng ý ngay.
Song vì thần lực của Đế-thích ngăn cản, nên vua không hỏi: “Thế công tử là ai, từ đâu đến? Công tử sẽ nhận lại cái gì?”
Đế-thích Thiên chủ nói vậy xong, trở về cõi Trời Ba mươi ba.
Sau đó vua triệu quần thần lại, và bảo họ:
- Một thanh niên vừa đến đây, hứa sẽ lấy và dâng cho trẫm thống trị ba vương quốc! Các khanh hãy đi tìm kẻ ấy. Ra lệnh đánh trống khắp kinh thành, triệu tập quân sĩ, không được trì hoãn, vì trẫm sắp chiếm ba vương quốc kia đấy.
Quần thần đáp:
-Tâu Đại vương, thế Đại vương có tiếp đãi thanh niên ấy hoặc hỏi xem chàng ở đâu chăng?
- Ồ không, không, trẫm không tiếp đãi chàng, cũng không hỏi chàng ở đâu cả. Vậy cứ đi tìm chàng!
Quần thần đi tìm, song không thể tìm ra chàng khắp kinh thành này. Nghe vậy, vua buồn bực:
- Quyền cai trị ba kinh thành đã mất rồi.
Vua lại suy nghĩ liên miên: “Ta bị tước mất vinh quang tột bậc; chắc chắn thanh niên ấy bỏ đi, bực tức ta lắm vì chẳng ban cho chàng tiền lộ phí, cũng chẳng cấp nơi cư trú.”
Sau đó, trong cơ thể vua nóng như thiêu đốt, trong khi cơ thể nóng bừng như vậy thì ruột vua mắc bệnh kiết lỵ ra máu; thức ăn đưa vào lại chảy ra hết, các y sĩ không thể nào chữa trị được, nên vua kiệt sức. Bệnh trạng vua được đồn đãi khắp kinh thành.