Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 15: Chuyện Tiền Thân- Chương Mười- Phẩm Mười Bài kệ - Phần 13 (trang 101-106)

mất cô chị đầu là công nương Añjanā, vì thế họ bảo:
-    Hãy chia vương quốc ra mười một phần.
  Song Aṅkura đáp:
  -    Thôi cho chị ấy phần của tiểu đệ, và đệ sẽ làm việc khác mà sống, các vương huynh chỉ giảm thuế cho đệ ở mỗi vương quốc của các vương huynh thôi.
  Họ đồng ý và đưa phần chàng cho chị đầu; họ sống chung với nàng Dvāravatī, cả chín ông vua, trong khi Aṅkura đóng tàu đi buôn.
  Với thời gian, các vua ấy sinh được nhiều con trai và con gái và lâu sau đó, các bậc cha mẹ họ từ trần. Vào thời ấy, chuyện kể là con người sống đến hai mươi ngàn tuổi.
 Sau đó, vương tử yêu quí của Đại vương Vāsudeva mất di. Vua dở sống dở chết vì sầu muộn, nên xao lãng mọi việc, cứ nằm than khóc, bám chặt lấy sàng tọa. Lúc ấy, Trí giả Ghata suy nghĩ: ‘Trừ ta ra không ai đủ khả năng xoa dịu nỗi buồn của hoàng huynh. Ta muốn tìm phương tiện để  làm giảm nỗi ưu phiền cho ngài.” Vì thế, chàng làm vẻ điên cuồng đi khắp kinh thành, nhìn lên bầu trời và kêu lớn:
 -    Cho ta một con thỏ! Cho ta một con thỏ!
Cả kinh thành chấn động lên. Họ bảo nhau:
-    Trí giả Ghata nổi điên rồi!
Vừa lúc ấy, một cận thần tên là Rohiṇeyya, đi vào yết kiến vua Vāsudeva và mở đầu câu chuyện bằng cách ngâm vần kệ đầu tiên:
1.               Hắc đế Kaṇha, hãy đứng lên,
                 Sao ngài nhắm mắt ngủ, nằm yên,
                Kìa bào đệ, gió to đang cuốn
                Tâm trí chàng bay mất, hãy nhìn:
                Mất trí, Ghata mồm lảm nhảm,
                Hỡi ngài Đại đế tóc đen huyền!
                                                                     *
        Khi viên cận thần nói vậy xong, bậc Đạo sư thấy vua ấy đứng dậy, rồi với Trí tuệ tối thắng, Ngài cảm hứng ngâm vần kệ thứ hai:
2.            Chốc lát vua dài tóc Kesava,
               Nghe Rohiṇeyya lớn tiếng gào la,
                     Đứng lên, đại đế đầy phiền muộn
                     Vì nỗi khổ buồn của Ghata.
                                                               *
    Vua đứng lên, vội vàng bước xuống từ cung thất tiến về phía Trí giả Ghata, ngài chụp mạnh lấy chàng bằng cả hai tay và ngâm vần kệ thứ ba hỏi chàng:
1.                   Sao dáng điên rồ, đệ bước qua
                       Khắp miền non nước Dvāraka,
                       Và kêu: “Thỏ, thỏ,” này cho biết,
                       Ai lấy thỏ con của đệ à?
Trước câu hỏi của vua, chàng chỉ đáp lại bằng cách ngâm mãi các lời kệ ấy. Còn vua ngâm thêm hai vần kệ nữa:
4.                   Thỏ làm bằng ngọc hoặc vàng ròng,
                      Như đệ ước ao, bạc hoặc đồng,
                      Vỏ ốc, san hô, hay đá cuội,
                      Ta làm ngay thỏ, đệ an lòng.
5.                    Còn có nhiều loài thỏ biết bao,
                       Vẫn thường quanh quẩn chốn rừng sâu,
                       Được mang về nữa. ta đòi bắt,
                       Hãy nói, em thích chọn thứ nào?
Nghe lời vua, bậc hiền nhân đáp lại bằng cách ngâm vần kệ thứ sáu:
6.                    Em chẳng ước ao thỏ thế gian,
                       Mà mơ con thỏ ở cung trăng,
                       Này Kesava, thỏ kìa, đem xuống,
                        Em chẳng đòi thêm một đặc ân.
“Chắc em ta đã nổi điên rồi,” vua suy nghĩ khi nghe nói vậy. Lòng đầy sầu muộn, ngài ngâm vần kệ thứ bảy:
7.                     Nói thật này, em sẽ chết thôi
                        Nếu em cầu khẩn chuyện kia hoài,
                        Em đòi chuyện chẳng ai mong ước,
                       Con thỏ cung trăng ở cõi trời!
Trí giả Ghata khi nghe vua đáp lại, liền đứng yên không nhúc nhích và
nói:
-   Này vương huynh, anh biết rằng con người đòi thỏ mặt trăng thì không thể nào có được và sẽ phải chết. Vậy tại sao anh phiền muộn vì đứa con trai đã mất?
8.             Nếu Kaṇha hiểu chuyện này mau,
               Và giải khuyên người khóc khổ đau,
                Anh vẫn cớ sao đang phiền muộn
                Đứa con trai đã chết từ lâu?
Rồi chàng nói tiếp khi vẫn đứng trên đường:
-   Này anh, em chỉ cầu xin cái có thật, còn anh lại phiền muộn vì cái không còn nữa.
Sau đó, chàng giáo hóa vua bằng hai vần kệ sau:
9.             Con ta sinh, ước chẳng lìa trần,
                 Không một người hay cả thánh thần
                Có thể đạt lời nguyền kia, vậy
                 Sao điều không có, lại cầu mong?
10.           Không có bùa thiên, hoặc thuốc thần,
                Chẳng loài cỏ thuốc hoặc tiền vàng
                Đủ công năng để làm cho sống
                Người chết, Kaṇha vẫn khóc than.
Vua nghe vậy, đáp:
-   Này hiền đệ, em có mục đích tốt lành lắm. Em đã làm như vậy để xua tan mọi phiền muộn của ta.
Sau đó, ngài ngâm bốn vần kệ để tán thán Trí giả Ghata:
11.            Trẫm nghe nhiều bậc trí nhân,
                 Nhiều người lỗi lạc khuyên toàn điều hay,
                  Song Ghata đã khéo thay,
                  Mở đôi mắt trẫm từ nay sáng bừng!
12.            Ta đang thiêu đốt trong lòng,
                  Như khi người đổ dầu trong lửa đào,
                  Em đã mang nước lạnh vào,
                 Và em dập tắt khát khao, tủi buồn.
13.            Vì con, bao nỗi sầu tuôn,
                  Mũi tên độc cắm trong hồn của ta,
                  Em vừa an ủi khuây khoa
                Nỗi niềm bi thiết, nhổ ra tên này.
14.           Tên vừa nhổ, hết đau ngay,
                Giữ tâm thanh thản, ta rày bình an,
                Nghe lời chân lý, hỡi chàng,
               Ta không còn phải khóc than đau buồn.
                                                  *
Và cuối cùng:
15.              Hãy làm như đấng từ tâm,
                   Và như các bậc trí nhân đại hiền,
                   Giải tan các nỗi ưu phiền,
                   Như Ghata đã giải khuyên anh mình.
Đây là vần kệ phát xuất từ Trí tuệ tối thắng.
                                                   *
  Bằng cách ấy, Vāsudeva Đại vương đã được vương tử Ghata an ủi nỗi buồn.
  Sau một thời gian dài, vua cai trị vương quốc, các vương tử của Mười anh em làm vua kia suy nghĩ:
-     Dân chúng đồn rằng Kaṇhadīpāyana có thần thông lực. Ta thử xem sao. Thế là cả bọn ấy kiếm một thanh niên cho gã phục sức đẹp vào rồi buộc một chiếc gối quanh bụng gã làm như thể gã có thai. Rồi họ đem gã vào yết kiến ngài và hỏi:
-    Thưa Tôn giả, khi nào thì người đàn bà này sinh con?
Nhà ẩn sĩ nhận thấy (nhờ thần lực) rằng Mười anh em vương tử này đã đến hồi mạt vận; rồi khi xem kỹ hạn kỳ mạng sống của chính mình được chừng nào, ngài hiểu là ngài phải chết đúng ngày hôm ấy. Sau đó, ngài hỏi:
-      Thưa các vị vương tử, người này là gì của các vị?
Họ khăng khăng đáp lại:
-      Xin hãy trả lời cho chúng ta rõ.
Ngài đáp:
-      Từ ngày thứ bảy kể từ nay, người này sẽ sinh ra một khúc gỗ keo. Với khúc gỗ ấy, nó sẽ phá tan dòng họ Vāsudeva, dù cho các vị có lấy thanh gỗ ấy và đốt đi rồi thả tro xuống sông.
Họ đáp:
-    A, đạo sĩ này giả hiệu. Đàn ông không thể nào đẻ con được!
Rồi họ làm một sợi dây thừng giết ngài lập tức.
   Các vị vua triệu các vương tử vào hỏi tại sao đã giết đạo sĩ. Khi các vị nghe như vậy đều kinh hãi. Các vị cho người canh giữ chàng trai kia, và đến ngày thứ bảy, chàng ta lấy ra từ trong bụng một khúc gỗ keo, họ đem đốt đi và thả tro xuống sông. Tro ấy trôi theo dòng nước dính vào một bên bờ nhờ một cái ngõ vào phía sau, từ nơi ấy mọc lên một cây Eraka.
    Một ngày kia, các vua đề nghị đi du hí dưới sông. Vì thế. các vị ấy đến ngõ sau này dựng một chiếc rạp lớn, và trong cái rạp rực rỡ ấy, các vị vua ăn uống vui đùa. Sau đó, các vị bắt đầu đấm đá nhau và chia thành hai phe gây gỗ dữ dội. Cuối cùng, một người trong đám đó thấy không có gì tốt hơn để làm cây gậy liền hái một ngọn lá Eraka, ngay sau khi hái, nó liền biến thành cái gậy gỗ keo trong tay, người ấy dùng gậy đánh nhiều người. Rồi các người khác cũng hái như vậy, và các lá cây mà họ hái đều biến thành gậy gộc, và bọn người ấy dùng gậy đánh nhau cho đến chết. Trong lúc cả bọn tàn sát lẫn nhau, chỉ có bốn người: Vāsudeva, Baladeva, công chúa Añjanā, vương tỷ, và vị quan tế sư nhảy lên xe chạy trốn. Còn cả đám kia chết hết không sót ai.
     Bấy giờ, bốn vị ấy dùng xe trốn đi đến khu rừng Kāḷamattikā, nơi ấy gã đấu vật Muṭṭhika tái sinh làm quỷ đúng như lời nguyện của y. Khi y nhận thấy Baladeva, y liền dựng lên một ngôi làng tại đó rồi giả dạng làm người nô bộc vừa đi vừa nhảy nhót la hét vừa búng tay một hồi:
    -    Ai muốn đấu đây?
    Baladeva mới thấy y liền nói:
    -    Này anh, em sẽ cố đánh gã này.
   Vāsudeva cố hết sức ngăn cản chàng, song chàng vẫn xuống xe, đi đến gã, búng tay; gã kia chụp ngay chàng trong lòng bàn tay và nhai chàng ngấu nghiến như một củ cải!
    Vāsudeva thấy chàng đã chết, liền đi suốt đêm cùng chị và viên tế sư rạng ngày sau vừa đến một làng ở biên địa. Vua nằm xuống trong chổ ẩn sau một bụi rậm, nhờ chị và viên tế sư vào làng bảo nấu một ít thức ăn đem đến dâng ngài. Một người thợ săn (tên là Jarā hay Lão niên) thấy bụi rậm lay động: “Chắc có con lợn rồi!” Gã suy nghĩ và đâm một giáo xuyên suốt chân ngài.
  -     Ai đã bắn ta bị thương đó? Vāsudeva la lớn.
  Người thợ săn thấy gã đã đâm nhằm một người nên kinh hoàng bỏ chạy trốn. Vua hồi tỉnh đứng lên gọi gã thợ săn:
 -  Này lão tiều phu, tới đây đừng sợ!
Khi gã đến, Vāsudeva hỏi:
-     Người là ai?
-     Tâu Chúa thượng, tiểu thần là Jarā.
Vua nghĩ thầm
-     Than ôi! Hễ ai bị Lão niên đâm bị thương đều phải chết, người xưa vẫn nói như vậy. Chắc chắn ta phải chết hôm nay rồi.
Sau đó, vua bảo:
 -     Này lão tiều phu, xin đừng sợ, đến đây buộc vết thươmg lại cho ta.
Khi miệng vết thương buộc lại xong, vua để gã đi. Vết thương khiến ngài đau đớn ghê gớm, ngài không thể ăn thứ gì mà các người kia mang đến. Sau đó, ngài bảo các người kia:
-     Hôm nay ta phải chết. Các người yếu đuối lắm, không bao giờ có thể có nghề gì khác để sinh sống, vậy hãy học chuyên khoa này của ta.
Nói xong, ngài dạy cho hai người học một chuyên khoa, rồi để cho họ ra đi, và ngài chết ngay hôm đó. Như vậy, trừ công nương Añjanā, tất cả đều chết không ai sót. Câu chuyện kể như vậy.
                                                              *
Khi bậc Đạo sư đã chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
-     Này cư sĩ, như vậy ngày xưa, có người đã thoát khỏi khổ đau vì con chết bằng cách nghe theo lời dạy của các bậc trí nhân; thôi, ông đừng nghĩ đến chuyện ấy nữa.
Sau đó Ngài tuyên thuyết các Sự thật, vị cư sĩ đã được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu).
Và Ngài nhận diện tiền thân:
-     Vào thời ấy, Ānanda (A-nan) là Rohiṇeyya, Sāriputta (Xá-lợi-phất) là Vāsudeva, các đệ tử của đức Phật là các người kia, và Ta chính là Trí giả Ghata.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây