Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 45:                                       486. CHUYỆN CHÚA CHIM ƯNG - Phần 3 (trang 312-318)

                                      486. CHUYỆN CHÚA CHIM ƯNG
                                          ( TIỀN THÂN MAHĀ UKKUSA)
Dân chúng đang nhen lửa đảo này....
Chuyện này bậc Đạo sĩ kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về Mittagandhata, một cư sĩ.
Tương truyền, người này là con cháu một dòng họ đã suy tàn ở Sāvatthi( Xá- vệ), phải nhờ một người bạn đi cầu hôn một thiếu nữ sang trọng. Nhà kia hỏi:
  - Thế cậu ấy có bạn bè thân thích nào để có thể giải quyết công việc cần lo liệu chăng?
Nhà trai đáp:
  -  Không, chẳng có ai cả.
Bên kia bảo:
  -  Thế thì trước tiên phải kiếm bạn đã.
  Người ấy nghe lời khuyên này đi bầu bạn với bốn người giữ cổng thành. Sau đó chàng dần dần kết bạn với những người giữ thành, những nhà thiên văn, nhiều người quý tộc trong triều, ngay cả vị tướng lãnh và phó vương. Nhờ giao thiệp với đám người này, chàng trở thành bạn thân thiết của vua, rồi sau đó là đạo hữu của tám mươi vị Trưởng lão; và nhờ Trưởng lão Ānanda, chàng đến yết kiến chính đức Như Lai. Lúc ấy, bậc Đạo sĩ an trú cả gia đình chàng vào Tam quy và Ngũ giới, vua lại phong cho một chức vụ cao và chàng được biệt danh “Mittagandhaka” hay “người kết giao nhiều bằng hữu”
    Vua còn ban cho chàng một dinh cơ lớn rồi ra lệnh cử hành hôn lễ cho chàng, nên tất cả mọi người từ vua chúa trở xuống đều mang tặng vật đến nhà. Lúc ấy, vợ chàng nhận được một tặng vật của vua ban, rồi tặng vật của vị Đại tướng quân, tặng vật của vị Phó vương, cứ thế dân chúng toàn thành đều đến nhà nàng. Vào ngày thứ bảy, đôi tân hôn ấy tổ chức đại lễ để mời đấng Thập Lực, nhiều vật phẩm cúng dường cao sang được đem dâng đức
Phật vàTăng chúng lên đến năm trăm vị Tỷ- kheo. Cuối buổi lễ, đôi tân hôn nhận lời tùy hỷ công đức từ đức Phật và được an trú vào Sơ quả Dự Lưu.
     Trong Chánh pháp đường, hội chúng nói đến chuyện này:
    -  Này các Hiền giả, cư sĩ Mittagandhaka theo lời vợ khuyên nhủ, và nhờ nàng, đã trở thành bạn của mọi người, được vinh quang tột bực từ vua ban; và sau khi thành thân hữu của bậc Đạo sư, đôi vợ chồng đã được an trú vào Sơ quả Dự Lưu.
    Bậc Đạo sư đi vào và hỏi Tăng chúng đang bàn luận gì. Các vị thưa với Ngài. Ngài bảo:
   -   Đây không phải là lần đầu tiên, này các Tỷ-kheo, người này nhận được vinh quang nhờ nữ nhân kia. Ngày xưa, khi còn là súc sinh, nhờ lời khuyên của nàng nên vị ấy đã kết bạn rất nhiều và thoát khỏi sự lo âu về tính mạng bầy con trẻ.
Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
                                                         *
     Một thưở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba- la- nại, một số người ở vùng biên địa thường cư trú tại nơi nào họ có thể kiếm thực phẩm nhiều nhất, như sống trong rừng và bắn giết những loài thú vật đông đúc tại đó để lấy thịt cho họ và gia đình họ. Không xa làng của họ là một cái hồ rộng, về phía nam bờ hồ đó có một con chim ưng trống, phía tây là một con chim ưng mái; phía bắc là một sư tử, chúa của mọi loài dã thú; phía đông là một chim ưng biển( đại bàng), chúa loại chim và ở giữa là một con rùa sống trên một hòn đảo nhỏ.
    Chim ưng trống đến hỏi chim ưng mái làm vợ. Chim mái bảo:
   -   Chàng có bạn bè nào không?
    Chim trống đáp:
  -  Thưa cô nương, không.
  -  Ta cần phải có vài chim bạn bảo vệ ta chống lại mọi nguy hiểm hay chuyện rắc rối có thể xảy ra, vậy chàng phải đi kiếm vài chim bạn.
  -  Ta phải làm bạn với ai đây?
  -  Ô kìa, với Đại bàng chúa sống trên bờ phía đông chứ còn ai nữa, rồi với sư tử ở phía bắc và rùa ở giữa hồ này.
  Chàng theo lời khuyên của nàng và làm như vậy. Sau đó, đôi chim
sống với nhau trong một cái tổ do chúng xây lấy; cũng cần nói thêm rằng trên một hòn đảo nhỏ trong hồ này có một cây Kadamba mọc, bốn phía là nước bao quanh. Sau đó, chúng sinh được hai chim trống.
    Một ngày kia, khi lông cánh đôi chim non còn non nớt, có vài người trai làng đi săn mồi khắp rừng suốt ngày mà chẳng kiếm được gì cả. Vì không muốn trở về làng tay không, họ đi xuống hồ bắt rùa cá; họ lên đảo, nằm dưới bóng cây Kadamba và đang lúc bị ruồi, muỗi, bọ chích đốt thật khổ sở, họ nhóm lửa lên đuổi muỗi mòng bằng cách chà xát củi khô vào nhau và hun khói. Khói đùn lên làm khó chịu bầy chim, khiến đôi chim non kêu lên chim chiếp.
   Đám dân làng bảo nhau:
  -  Kìa, có tiếng chim!
  -  Nào đốt lửa nhanh lên! Ta không thể nằm nhịn đói ở đây mà trước khi nằm ngủ, ta phải ăn một bữa thịt chim rừng chứ!
  Họ nhóm lửa làm cho ngọn lửa cao dần. Song chim mẹ nghe tiếng động ấy nghĩ thầm: “Những người này muốn ăn con ta. Ta phải kiếm bạn để cứu nhà ta khỏi hiểm họa này. Ta muốn bảo chim trống đi đến chúa  chim ưng kia.” Rồi chim mái bảo:
-  Này chàng, hãy đi báo cho chim ưng chúa biết mối nguy hiểm đang đe dọa các con ta.
Và nó ngâm vần kệ này:
1.                  Dân chúng đang nhen lửa đảo này
                    Để ăn bầy trẻ chốc liền đây,
                    Hỡi chàng, mau bảo cùng bè bạn
                     Nguy hiểm con ta cấp báo ngay.
Chim trống liền bay hết tốc lực đến chỗ kia và kêu lên để báo hiệu cho nó đến. Khi được phép, nó đến gần Đại bàng chúa và kính chào. Chim Ưng chúa bảo:
-   Tại sao bạn đến?
Chim trống liền ngâm vần kệ thứ hai
2.                 Chim chúa là ngài, hỡi chúa công,
                    Nay ta tìm chốn chúa an thân,
                    Dân làng săn muốn bắt bầy trẻ,
                    Xin chúa ban cho bạn nỗi mừng.
Chim đại bàng bảo chim ưng trống:
 -   Đừng sợ.
Vừa an ủi, nó vừa ngâm vần kệ thứ ba:
3.                 Đúng lúc hay không, bậc trí nhân
                    Kết giao cùng bảo vệ thân bằng,
                   Vì chim ưng hỡi, ta hành động,
                   Bạn thiện giúp nhau những lúc cần.
Sau đó, chim đại bàng chúa hỏi tiếp:
-    Này bạn, thế dân làng đã trèo lên cây chưa?
-    Họ chưa trèo lên, họ chỉ mới chất củi lên để đốt lửa.
-   Vậy bạn nên trở về mau và an ủi hiền thê của bạn rồi nói ta đến ngay.
   Chim ưng làm theo lời. Chim đại bàng chúa cũng đi, và từ một nơi gần cây kadamba, nhìn đám người ấy leo lên và đậu trên một ngọn cây. Ngay khi một người trèo lên đến gần tổ chim, chim đại bàng chúa liền nhào xuống hồ, dùng đôi cánh và mỏ rảy nước lên đám lửa đang cháy khiến chúng tắt hết. Đám người ấy trèo xuống, nhóm ngọn lửa khác để nấu bầy chim, rồi khi chúng trèo lên, chim đại bàng chúa lại dập ngọn lửa lần nữa. Cứ thế, khi lửa được nhóm lên là chim dập tắt đi. Cho đến nửa đêm, chim đại bàng chúa đã kiệt sức, lớp da dưới bụng trầy ra xơ xác dần, đôi mắt rướm máu. Thấy thế, chim mái bảo chim trống:
-  Này phu quân, đại bàng chúa đã mệt lả rồi, hãy đi đến báo cho bạn rùa, để chim đại bàng chúa được nghỉ ngơi.
Khi nghe vậy, chim ưng trống đến gần chim đại bàng chúa, ngâm kệ bảo bạn:
4.               Bạn thiện giúp nhau, việc ấy cần,
                 Ngài làm vì xót bạn gian nan,
                 Bình an con trẻ, ngài còn sống
                 Cẩn thận, đừng cho thể lực tàn.
Khi nghe lời này, chim đại bàng chúa cất cao giọng sư tử hống ngâm vần kệ thứ năm:
5.                Khi ta canh giữ ở cây này,
                  Ta chẳng lo rằng nếu chẳng may
                  Ta mất mạng mình vì chúng bạn,
                  Thiện nhân hành động vẫn như vầy.
                   Thế nên bạn hãy làm vì bạn,
                   Dù chính đời mình kết liễu ngay.
                                                       *
     Còn vần kệ thứ sáu này do bậc Đạo sư ngâm phát xuất từ Trí tuệ tối thắng của Ngài, còn Ngài tán thán công đức của chim Đại bàng chúa:
6.              Vương điễu noãn sinh lượn cõi không
                Đã làm một việc khổ vô cùng,
               Chúa ưng, trước lúc màn đêm xuống,
               Canh giữ bầy chim nhỏ vạn an.
                                                      *
Sau đó chim ưng trống nói:
-   Xin hiền hữu chúa chim Đại bàng hãy nghỉ ngơi chốc lát.
Rồi nó bay đi đến con rùa, đánh thức rùa dậy.
Rùa hỏi:
-   Này bạn, đến có việc gì vậy?
-   Có mối nguy hiểm như vậy xảy ra với chúng tôi, và chim Đại bàng chúa đã chịu khổ nhọc hết sức từ canh một, nay gần kiệt lực, cho nên tôi phải đến gặp bạn.
Cùng với những lời này, nó ngâm vần kệ thứ bảy:
7.               Cho dầu những kẻ bị sa chân
                  Qua lắm việc làm ác, bất nhân,
                  Cũng có cơ vươn mình tiến được,
                  Nếu xin nhờ giúp đỡ khi cần.
                 Các con ta gặp khi nguy khốn,
                  Ta chẳng bay ngay đến bạn vàng,
                  Hỡi bạn ngâm mình trong đáy nước,
                  Giúp nhà tôi, hãy vội lên đàng.
Khi nghe vậy, rùa ngâm vần kệ khác:
8.              Thiện nhân đối với một thân bằng,
                 Cho cả đồ dùng lẫn bản thân,
                 Vì bạn, hỡi ưng, ta hoạt động,
                 Thiện nhân giúp đỡ bạn khi cần.
      Chú rùa con, nằm không xa đó,nghe tiếng cha nói liền suy nghĩ: “ Ta không muốn cha ta phải nhọc sức, mà ta sẽ lãnh phần của cha ta.” Vì vậy, chú ngâm vần kệ thứ chín:
      9.             Xin cha an dưỡng, hỡi cha thân,
                      Việc của cha, con sẽ lãnh phần.
                     Con phụng sự cha là tốt nhất,
                      Con đi cứu cả tổ chim bằng.
     Rùa cha đáp lời con qua vần kệ:
     10.             Cứ làm việc thiện, hỡi rùa con,
                      Con phải giúp cha, thật chánh chơn,
                      Song chúng chỉ tha bầy trẻ nhỏ,
                      Vì cha, người thầy lớn khôn ngoan.
 Cùng với những lời này, rùa bảo chim ưng bay về và thêm:
 -   Này bạn ơi, đừng sợ. Nhưng bạn cứ đi trước rồi ta sẽ theo sau lập tức.
  Rùa lặn xuống nước, lượm một ít bùn, đến đảo dập tắt ngọn lửa và nằm im. Lúc ấy, đám dân làng kêu lên:
  -   Này, tại sao phải nhọc công về bầy chim ưng con thế kia? Ta hãy lật con rùa đáng ghét này lên mà giết nó cũng vừa đủ cho cả bọn ta mà.
   Vì thế, họ hái ít cây leo, bện thành sợi dây, nhưng khi họ đã buộc chặt dây ở chỗ này chỗ kia rồi, và xé cả quần áo để dùng vào việc này, họ lại không thể lật con rùa lên được. Con rùa cứ lôi họ đi theo nó rồi nhào xuống nước sâu. Bọn người ấy nôn nóng bắt rùa đến độ cũng nhào xuống theo, lội bì bõm, bắn nước lên tung tóe và uống nước đầy bụng. Họ bảo nhau:
   -    Này cứ xem đi, chim ưng chúa cứ làm tắt ngọn lửa của ta đến nửa đêm, nay thì con rùa làm ta rơi xuống nước và uống nước nhiều, thật quá khổ sở. Thôi ta cố nhen ngọn lửa khác, rồi đến sáng mai sẽ ăn được bầy chim ưng con.
   Sau đó, họ lại bắt đầu nhóm lửa. Chim ưng mái nghe tiếng ồn ào của bọn người này, liền bảo:
    -    Này chàng, sớm muộn gì, bọn người này cũng xé xác các con ta rồi mới chịu đi. Vậy chàng hãy đến báo cho bạn sư tử biết chuyện.
   Lập tức, chàng chim ưng đến gặp sư tử, sư tử này hỏi tại sao chim ưng đến giờ bất thường như vậy. Chim ưng liền kể cho sư tử nghe mọi việc từ đầu và ngâm vần kệ thứ mười một:
11.                 Oai hùng bậc nhất của muôn loài,
                      Loài thú vật kia lẫn mọi người
                     Chạy đến anh hùng lúc hoảng sợ,
                     Chim non gặp nạn, giúp nhà tôi,
                     Ngài là chúa tể muôn loài đó,
                     Vì thế nên tôi phải đến nơi.
Nghe nói vậy, sư tử ngâm vần kệ nữa:
12.              Ta giúp chim ngay, hỡi bạn Ưng!
                   Mau, ta đi giết bọn cừu nhân,
                   Hiển nhiên, bậc trí nhiều thông hiểu
                   Cần gắng công che chở bạn thân.
Nói vậy xong, sư tử bảo chim ưng ra về, còn dặn thêm:
-   Thôi bây giờ hãy về đi và an ủi các con dại.
Rồi sư tử tiến lên, đập tung tóe nước hồ trong suốt. Khi bọn dân làng thấy sư tử đến gần, họ sợ chết khiếp cả, liền kêu lên:
 -   Chim đại bàng chúa thổi tắt củi lửa của ta, con rùa làm ta mất quần áo đang mặc, song giờ đây ta tàn đời rồi! Con sư tử này sẽ giết chết chúng ta lập tức
 Họ liền chạy tứ tán. Khi sư tử đến gốc cây, chẳng còn thấy gì nữa. Sau đó chim ưng chúa, chim ưng trống, con rùa đều tiến lên vây quanh sư tử. Sư tử bảo cho chúng biết ích lợi của tình bằng hữu và nói:
  -   Từ rày về sau, hãy cẩn thận đừng để tan vỡ mối tình bằng hữu thân ái. Với lời khuyên này, sư tử ra đi. Rồi bọn kia cũng về chốn ở của riêng mình.
  Chim ưng mái nhìn con tự nghĩ: “Nhờ tình bằng hữu mà các con ta được trả lại cho ta.” Và trong lúc chim mái vui mừng, nó vừa nói với chim trống, vừa ngâm vần kệ nêu rõ hiệu lực của tình bằng hữu:
13.           Rõ ràng kết bạn hữu đầy nhà,
                Gặp bạn hiền, hoan lạc hiện ra,
                Tên bắn trên quân bào bất lợi,
                 Ta mừng, an ổn các con ta.
14.            Nhờ công giúp của bạn chân tình,
                Chim bạn đến mong góp sức mình,
                Đối đáp, chim non kêu ríu rít
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây