Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 40: 482. CHUYỆN LỘC VƯƠNG - Phần 9 (trang 273-279)

                Hai đầu dê nghiến nát như tương
                Ngay liền tại chỗ, như thầy vậy,
                 Số phận chim kỳ quái lạ thường!
                                                         *
     CHUYỆN CÂY CỌ DỪA
     Một chuyện khác nữa: Gần một cây cọ dừa kia, bọn chăn bò cất giấu nhiều của cải. Dân chúng Ba-la-nại thấy cây đó liền cho một người leo lên cây hái quả. Trong lúc gã đang ném quả xuống thì một con rắn hổ đen bò ra từ một tổ kiến, bắt đầu leo lên cây, bọn người đứng phía dưới cố xua đuổi nó bằng gậy, đá v.v... nhưng không được, kêu la lớn gọi người kia:
   - Con rắn đang bò lên cây!
  Gã ấy kinh hoảng hét lớn. Những người đứng dưới lấy tấm vải thô cầm bốn góc, bảo gã kia ngã vào tấm vải. Gã gieo mình xuống, rơi vào chính lòng tấm vải giữa bốn người kia nhanh như gió, khiến bọn người ấy không giữ gã được, phải đập đầu vào nhau mà chết.
  Để giải thích việc này, bậc Đại sĩ ngâm vần kệ thứ năm:
5.         Bốn người muốn cứu mạng anh chàng,
           Bốn góc cầm chung một tấm màn,
           Bọn chúng vỡ đầu ra chết tiệt,
           Như thầy, thật quái lạ kinh hoàng!
                                                       *
 CHUYỆN CON DÊ CÁI
   Đám người khác lại kể chuyện này: Một bọn ăn trộm dê sống ở Ba-la- nại, một đêm kia bắt được một con dê cái, định làm một bữa chè chén trong rừng. Để dê khỏi kêu, chúng bịt mõm mó và cột nó vào một bụi tre. Hôm sau, khi chúng đến giết con dê, chúng quên mất con dao phay.
  Chúng bảo nhau:
   -   Này, ta hãy giết dê rồi nấu. Hãy đem con dao phay ra đây!
   Nhưng chẳng ai có dao.
   - Nếu không có dao thì ta không thể nào ăn thịt nó được, dù ta có giết chết nó. Thôi thả nó ra. Việc này cũng do phước phần nào đó của con dê đây.
   Vì thế, chúng thả dê ra. Bấy giờ, tình cờ có người thợ tre đến trước đó
lấy một bó tre. Gã để quên một con dao của người đan rổ, giấu dưới đám lá định khi trở về sẽ lấy dùng. Nhưng con dê tưởng mình đã thoát thân nên bắt đầu vui chơi nhảy nhót dưới bụi tre, lấy chân sau đánh đá làm sao mà con dao rớt ra. Đám ăn trộm nghe tiếng dao rớt, chạy đến nơi thấy việc như vậy, vô cùng mừng rỡ, thế rồi chúng giết dê ăn thịt.
    Như vậy, để giải thích việc con dê đã tự giết mình bằng chính hành động của nó như thế nào, bậc Đại sĩ ngâm vần kệ thứ sáu:
   6.         Dê cái cột trong bụi trúc dày
               Nhảy quanh, tìm thấy một dao phay,
               Cổ dê, chúng cắt bằng dao ấy,
               Kỳ quái, dê kia giống hệt thầy!
Sau khi kể chuyện này, ngài giải thích:
-  Song còn những kẻ dè dặt trong lời nói, biết giữ gìn ngôn ngữ, thường thoát khỏi số phận chết chóc đau thương.
Rồi ngài kể một chuyện thần tiên của loài Kinnara. (Khẩn-na-la: các ca thần của Sakka Thiên chủ)
                                                               *
  CHUYỆN ĐÔI CA THẦN
  Chuyện kể rằng, một thợ săn sống ở Ba-la-nại, một bữa nọ vào vùng Tuyết sơn bằng cách nào đó đã bắt được một cặp tiên núi, gồm một tiên nữ và lang quân của nàng, rồi đem về dâng vua. Vua chưa bao giờ thấy loài hữu tình này cả. Vua hỏi:
  -   Này thợ săn, chúng là loài gì?
  -  Tâu Chúa thượng, chúng có thể hát êm tai và nhảy múa rất đẹp mắt, không có con người nào có thể ca múa hay bằng chúng được.
 Vua ban thưởng gã thợ săn ấy rất hậụ hỉ, rồi ra lệnh cho đôi tiên ca múa. Song hai vị nghĩ: “Nếu chúng ta không diễn tả đầy đủ ý nghĩa bài ca thì bài ca sẽ thất bại, hội chúng sẽ mạ lỵ và làm thương tổn chúng ta; và hơn nữa, người nào nói nhiều thường hay nói dối.” Vì thế, sợ phải dối trá này kia, hai vị không múa hát dù vua nài nỉ thế nào cũng mặc. Cuối cùng, vua nổi cơn thịnh nộ và bảo:
 -  Hãy giết bọn này, đem nấu và dâng cho ta dùng.
 Vua ban lệnh này qua vần kệ thứ bảy:
7.             Bọn này đây chẳng phải là tiên,
               Cũng chẳng nhạc thần của cõi Thiên,
                Là thú do người kia dẫn đến
                Vì mong kiếm một túi đầy tiền,
               Vậy bây hãy nấu, ta dùng tối
                Một đứa, rồi mai một đứa liền!
 Lúc ấy tiên nữ nghĩ thầm: “Bây giờ vua nổi giận chắc chắn ngài sẽ giết chúng ta. Vậy đây là lúc nên nói,” và lập tức nàng ngâm vần kệ:
8.            Mười vạn khúc ca biểu diễn lầm
              Chẳng bằng một mảy khúc kỳ âm,
              Hát tồi có tội, nên tiên chúng
              Chẳng dám làm (không bởi hận tâm).
 Vua rất hoan hỷ vì tiên nữ, lập tức đáp vần kệ:
9.             Hãy để nàng đi, bởi nói rồi,
                Cho nàng thấy lại Tuyết sơn thôi,
                Song bây hãy bắt chàng kia giết,
                Bảo nấu, ta dùng bữa sáng mai!
  Trong lúc ấy, vị tiên kia suy nghĩ: “Nếu ta giữ yên mồm, chắc chắn vua sẽ giết ta, vậy đây là lúc phải nói.” Và chàng ngâm vần kệ nữa:
10.          Trâu bò trông cậy đám mây trời,
               Trông cậy bò trâu, ấy mọi người,
               Còn phận tôi nương nhờ Chúa thượng,
               Hiền thê này lại dựa vào tôi,
               Xin ngài đoán số phần chàng nọ
              Trước lúc chàng quay lại núi đồi.
 Khi chàng đã nói lợi này xong, chàng ngâm hai vần kệ nữa để nói rõ cho vua rằng hai vị yên lặng không phải vì không muốn tuân lệnh vua, song vì hai vị nghĩ rằng nói là sai lầm:
11.         Khác người, khác cách, tấu Minh quân,
             Tránh lỗi cho mình thật khó khăn,
              Điều được kẻ này khen tốt đẹp,
              Kẻ kia lại thấy đó sai lầm.
12.         Có người cho tất cả điên cuồng,
              Tưởng tượng mỗi người vẫn khác luôn,
            Thật khác, nhiều người nên lắm ý,
           Ý người chẳng có luật thông thường.
 Vua phán:
 -   Chàng ta nói đúng sự thật, đó quả là một vị tiên khôn ngoan.
Vì thế vua rất hoan hỷ, ngâm vần kệ cuối cùng:
13.       Đôi vợ chồng tiên giữ lặng thinh,
            Nay chàng cất tiếng bởi hồn kinh,
           Bình an, hạnh phúc, tha chàng bước,
           Vẫn biết lời hay tạo phước lành.
 Sau đó, vua đặt đôi tiên núi vào chiếc lồng vàng, truyền đưa người thợ săn vào,, bảo gã thả hai vị ra ở nơi trước kia gã đã bắt.
Bậc Đại sĩ nói thêm:
 -  Này sư phụ, đôi tiên núi biết phòng hộ lời nói như trên, và nhờ nói đúng thời nên được thả tự do vì nói năng khéo léo; còn thầy do nói năng sai lạc mà phải chịu đại họa.
Rồi sau khi so sánh cho vị tế sư thấy rõ như thế, ngài an ủi ông:
  -  Xin sư phụ đừng sợ, con sẽ cứu mạng sư phụ.
Vị kia hỏi:
 -   Còn có cách nào chăng? Làm thế nào con cứu ta được nữa?
 Ngài đáp:
 -  Vì chưa đến đúng lúc các hành tinh gặp gỡ.
 Ngài để cho ngày ấy trôi qua, vào canh giữa đêm( canh ba), liền đem đến đó một con dê đã chết và nói:
 -   Xin thầy muốn đi đâu thì đi mà sinh sống.
 Rồi ngài thả cho ông đi ngay, chẳng hề có ai hay biết gì cả. Còn ngài làm tế lễ với thịt dê ấy, xong dựng cổng thành trên đó.
                                                      *
Khi bậc Đạo sư đã chấm dứt Pháp thoại, Ngài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên Kokālika bị hủy hoại vì chính lời nói của mình, mà ngày xưa cũng thế nữa.
Sau đó, Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, Kokālika là tế sư da ngăm ngăm đen, còn Ta là Hiền giả Takkāriya.
                                      482. CHUYỆN LỘC VƯƠNG
                                              (TIỀN THÂN RU RU)
  Thần tâu Hoàng thượng biết tin nai…
  Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Trúc Lâm về Devadatta (Đề-bà-đạt-đa).
  Có người bảo vị ấy:
  -    Bậc Đạo sư đem lại thật nhiều lợi ích cho hiền hữu, này hiền hữu Đề-bà-đạt-đa, Hiền hữu đã thọ Đại giới từ đức Như Lai. Hiền hữu đã học với ngài Tam Tạng Kinh điển, Hiền hữu đã nhận được nhiều lợi dưỡng và danh vọng.
  Khi những điều như vậy được nói, người ta thường nghe thuật lại một cách đáng tin cậy là vị ấy sẽ trả lời:
  -    Không đâu hiền hữu, bậc Đạo sư chẳng làm gì lợi lạc cho ta dù chỉ bằng một cọng cỏ. Ta đã thọ Đại giới của chính ta, ta tự học Tam Tạng kinh điển, ta nhận được lợi dưỡng và danh vọng do từ bản thân ta chứ không nhờ ai cả.
 Trong Chánh pháp dường, Tăng chúng nói về việc này:
 - Đề-bà-đạt-đa thật là vong ơn bội nghĩa, này Hiền hữu, và lại quên cả thân tình.
 Bậc Đạo sư bước vào và muốn biết Tăng chúng đang bàn luận gì khi ngồi đó. Các vị trình với Ngài. Ngài bảo:
 -    Này các Tỷ-kheo, nay không phải là lần đầu Đề-bà-đạt-đa vong ơn bội nghĩa, mà trước kia kẻ ấy đã vô ơn. Thuở xưa, nó đã dược Ta cứu mạng, nhưng nó không biết công đức to lớn của Ta.
 Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
                                                               *
  Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, có một vị đại phú thương có tài sản tám trăm triệu chỉ sinh được một con trai, đặt tên là Mahādhanaka hay Đại phú ông.
  Nhưng ông không dạy cho con việc gì cả, ông bảo:
  -    Con trai ta sẽ thấy việc học làm mệt mỏi tấm thân mà thôi.
  Ngoài việc múa ca, ăn uống, tiệc tùng, cậu trai chẳng biết việc gì cả. Khi cậu khôn lớn, cha mẹ cậu cưới cho cậu một cô gái xứng đôi với cậu, rồi cả hai vị qua đời. Sau khi song thân mất đi, cậu bị đám người chơi bời phóng đảng, rượu chè, cờ bạc vây quanh nên đã tiêu hết tài sản một cách hoang phí. Lúc đó, cậu phải vay tiền rồi không trả lại nổi, bị chủ nợ thúc đòi. Cuối cùng, cậu nghĩ: “Đời ta còn nghĩa lý gì với ta nữa? Ta đang bị biến đổi thành một con người khác rồi, thà chết sướng hơn.” Sau đó, cậu bảo đám chủ nợ:
  -    Hãy đem các giấy nợ đến đây, ta có cả một gia bảo chôn ở bờ sông Hằng, các ông sẽ được phần đó.
  Họ cùng đi với cậu. Cậu làm như thể chỉ chỗ đây đó là nơi chôn gia sản (song lúc đó cậu có ý định nhảy xuống sông trầm mình) và cuối cùng cậu ta nhảy xuống sông Hằng. Trong lúc nước cuốn xoáy cậu đi ra, cậu kêu to lên đầy kinh hoảng.
  Lúc bấy giờ, bậc Đại sĩ sinh làm một con nai chúa và sau khi rời đàn, hiện đang trú ẩn tại một khúc sông, chỉ riêng mình nai trong khóm cây sāla chen lẫn đám xoài trổ hoa rất đẹp. Lớp da trên mình nai có màu vàng óng ả láng mượt, bàn chân trước và bàn chân sau đỏ như thể nhuộm son, cái đuôi giống như cái đuôi bò rừng, cặp sừng như hình xoắn ốc bằng bạc, đôi mắt nai tựa hồ đôi hạt minh châu lóng lánh, khi nai quay mồm về hướng nào thì trông chẳng khác quả cầu bằng vải đỏ. Vào khoảng nửa đêm, nai nghe tiếng kêu thê thảm ấy liền nghĩ thầm: ‘Ta nghe tiếng người kêu. Trong lúc ta đang sống đây, nó chẳng phải chết! Ta sẽ cứu mạng nó.”
  Vừa rời khỏi chỗ ẩn nấp trong bụi cây, ngài bước xuống bờ sông và gọi to bằng giọng nói an ủi:
  -    Này người kia, đừng sợ, ta sẽ cứu anh sống.
  Rồi nai rẽ dòng nước, mang cậu lên bờ đến tận nơi nai trú ẩn. Suốt hai ba ngày liền, nai săn sóc và cho cậu ăn trái cây rừng. Sau đó, nai bảo cậu:
  -    Này người kia, ta sẽ mang anh ra khỏi rừng và đặt anh trên đường cái đến Ba-la-nại, anh sẽ về bình an. Song ta yêu cầu anh đừng bị lòng tham tiền bạc lôi kéo mà báo cho vua, hay một người quyền thế nào đó biết là trong chỗ kia một con nai vàng óng cần phải bắt đấy.
     Người kia hứa giữ lời, và bậc Đại sĩ sau  khi được hứa rồi, liền để cậu trên lưng và đưa ra đường cái hướng về thành Ba-la-nại rồi trở về đường cũ.
    Vào ngày cậu ta đi về thành Ba-la-nại , bà hoàng hậu mệnh danh là Khemā (Thái Hòa) nằm mộng về sáng thấy một con nai màu hoàng kim thuyết pháp cho bà, nên bà suy nghĩ: “Nếu không có một con nai thần như thế này thì chắc hẳn ta đã không nằm mộng thấy ngài. Hẳn nhiên phải có một vị như vậy, nên ta muốn thông báo việc này với đức vua.”
  Sau đó, bà đến yết kiến vua và thưa:
  -  Tâu Đại vương, thần thiếp đang mong mỏi được nghe bài thuyết pháp của một con nai hoàng kim. Nếu làm được việc ấy, thiếp mới sống, nếu không thiếp chẳng thiết sống nữa.
 Vua an ủi bà và bảo:
 -  Nếu có một con vật như thế sống trong cõi trần gian này thì ái khanh sẽ toại nguyện.
Rồi vua triệu các Bà-la-môn vào và hỏi:
 -  Có loài vật nào như loài nai hoàng kim chăng?
 -  Tâu Chúa thượng, có.
  Vua liền đặt một túi tiền mười ngàn đồng đựng bên trong một cái hộp bằng vàng lên lưng một con voi đã được trang điểm thật lộng lẫy: “Bất kỳ ai được tin về một con nai hoàng kim thì vua sẽ chấp thuận trao cho người đó túi tiền mười ngàn đồng tiền vàng này cùng chiếc hộp bằng vàng và cả con voi ấy nữa hoặc một con khác tốt đẹp hơn.” Vua ra lệnh khắc một vần kệ trên một phiến vàng, giao cho một viên quan trong triều và bảo vị ấy nhân danh vua hát vần kệ ấy lên giữa dân chúng toàn thành. Sau đó, vua ngâm vần kệ đầu trong chuyện Tiền thân này:
1.          Ai mang tin báo trẫm về nai,
            Tối thượng lộc vương của cả loài?
            Ai được trẫm ban phần thưởng quý,
           Ngôi làng tuyệt hảo, gái xinh tươi.
  Viên triều thần mang phiến vàng ấy đi, công bố khắp kinh thành. Vừa lúc ấy, con trai của vị phú thương đi vàoBa-la-nại, khi nghe lời công bố ấy, cậu đến gần viên quan và nó:
  - Tiểu sinh có thể đưa tin về một con nai như vậy, các ngài hãy dẫn tiểu sinh vào yết kiến đức vua.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây