Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
Lời nói này của ngài cũng đúng như các lời khác. Vua lại một phen hài lòng khi nghe chuyện này nên ban thêm cho ngài tám đồng tiền nữa. Một lần nữa, có người đem dâng vua một tấm thảm quý có giá trị lớn. Vua liền đưa nó đến ngài như lần trước. Ngài sờ khắp tấm thảm, rồi bảo:
- Ở đây có một chỗ mà con chuột đã cắn một lỗ.
Họ xem kỹ và thấy chỗ đó, liền tâu với vua. Vua đẹp ý lại bảo cho ngài tám đồng tiền nữa.
Lúc bấy giờ, bậc trí giả mới suy nghĩ: “Chỉ được có tám đồng vàng để xem những việc kỳ diệu như thế đấy. Đây là món tiền tặng cho thợ hớt tóc, chắc hẳn vua này là cậu bé thường hớt tóc! Tại sao ta phải phụng sự một vị vua như thế chứ? Ta sẽ trở về nhà riêng của mình.” Thế là ngài trở về hải cảng Bharukaccha và sống tại đó.
Lúc ấy, có vài thương nhân chuẩn bị một chiếc thuyền và đang đi tìm một thuyền trưởng. Họ suy nghĩ: “Ngài Suppāraka thông minh kia là một bậc trí giả tài ba, có ngài trên tàu thì không con tàu nào đến hại nữa. Dù ngài mù lòa, bậc trí giả Suppāraka vẫn là người tuyệt hảo.” Vì thế họ đi đến ngài và mời ngài làm thuyền trưởng.
Ngài đáp:
- Này các hiền hữu, ta mù rồi, làm sao lái thuyền các bạn được?
Các thương nhân bảo:
- Thưa Tôn giả, quả ngài mù thật đấy, song ngài là người tài giỏi nhất.
Vì họ cứ năn nỉ ngài mãi không ngớt nên cuối cùng ngài chấp thuận.
Ngài bảo:
- Như các bạn đã nói với ta, thì ta sẽ làm thuyền trưởng của các bạn.
Sau đó, ngài bước lên chiếc thuyền của họ.
Họ lái thuyền ra giữa đại dương. Suốt bảy ngày liền, thuyền đi không gặp rủi ro nào, rồi một ngọn gió trái mùa nổi lên. Thuyền trôi dạt bốn tháng trên vùng đại dương hoang dã, cho đến lúc vào được một nơi gọi là biển Khuramāla (Bãi dao nhọn hoắc). Tại đây, loài cá có thân như người với mõm nhọn hoắc như lưỡi dao, nhào lộn dưới nước. Các thương nhân quan sát loài cá này, vừa hỏi bậc Đại sĩ biển này tên gì, vừa ngâm vần kệ đầu:
1. Đám người kia mũi nhọn như dao,
Vừa nhảy lên cao, lại lộn nhào,
Biển này đuợc biết với tên nào?
Bậc Đại sĩ nghe câu nói này, liền ôn lại trong trí các kiến thức thủy thủ của ngài, rồi đáp qua vần kệ thứ hai:
2. Này các thương nhân cảng Bharukaccha,
Đi tìm vàng bạc bán đường xa,
Đây là biển cả Khuramāla đó,
Thuyền của các người đã lạc qua.
Lúc bấy giờ, đại dương này có nhiều kim cương. Bậc Đại sĩ suy nghĩ rằng nếu ngài bảo chúng bạn đây là biển kim cương, họ sẽ làm chìm tàu do lòng tham hốt nhiều kim cương. Vì thế, ngài không nói gì cả; song sau khi đưa thuyền đến, ngài lấy một sợi dây thừng và thả lưới xuống như thể bắt cá. Với dây này, ngài đã hốt được một mớ kim cương và giấu trong thuyền, rồi ngài lựa những thứ ít giá trị quăng xuống biển.
Chiếc thuyền đi qua vùng biển này, đến một biển khác tên là Aggimāla (Vùng lửa cháy). Biển này tỏa ra ánh sáng như thể một ngọn lửa đang bừng cháy, như mặt trời đúng ngọ. Các thương nhân hỏi han ngài qua vần kệ:
3. Kìa đại dương như ngọn lửa hồng,
Như vầng nhật chiếu, bạn cùng trông,
Suppā, xin nói cho bè bạn,
Tên gọi là gì chốn đại dương?
Bậc Đại sĩ đáp lại họ qua vần kệ tiếp theo:
4. Này các thương nhân ở Bharukaccha,
Đi tìm vàng bạc bán đường xa,
Đây là biển cả Aggimāla đó,
Thuyền của các người đã lạc qua.
Bấy giờ, biển này chứa đầy vàng; cũng như trước, ngài lấy lên một mớ vàng và cất lên thuyền. Qua khỏi biển này, con thuyền đi đến một biển cả tên là Dadhimāla (Vũng sữa đông), óng ánh như sữa tươi hay sữa đông. Các thương nhân lại hỏi tên của biển qua vần kệ:
5. Kìa biển trắng phau giống sữa tươi,
Trắng như nhìn vũng sữa đông rồi,
Suppā, xin nói cùng bè bạn,
Tên gọi là gì của biển khơi?
6. Này các thương nhân ở Bharukaccha,
Đi tìm vàng bạc bán đường xa,
Đây là biển cả Dadhimāla đó,
Thuyền của các người đã lạc qua.
Trong biển này có rất nhiều bạc. Ngài lấy bạc theo cách như trước, rồi cất lên tàu. Chiếc thuyền đi qua biển này và đến một đại dương tên là Nīlavaṇṇakusamāla (Thảm cỏ kusa), có hình dáng một thảm cỏ kusa đen nhánh (cỏ cát tường) hay một cánh đồng lúa. Các thương nhân lại hỏi tên biển qua vần kệ:
7. Kìa, biển xanh như cỏ cát tường,
Tường như nhìn đám lúa nàng hương,
Suppā, hãy nói cho bè bạn,
Tên gọi là gì của đại dương?
Ngài đáp lời qua vần kệ tiếp theo:
8. Này các thương nhân xứ Bharukaccha,
Đi tìm vàng bạc bán đường xa,
Đại dương đây chính Nīlavaṇṇakusamāla đó,
Thuyền của các người đã lạc qua.
Bấy giờ trong biển này có rất nhiều ngọc bích quý. Cũng như trước, ngài lấy một mớ ngọc và cất trên thuyền. Qua khỏi biển này, con thuyền đi đến một biển tên gọi là Naḷamāla (Bãi lau sậy), có hình dáng một bãi lau sậy hay một rừng tre. Các thương nhân hỏi tên biển qua vần kệ:
9. Kìa đại dương như một khóm lau,
Khác nào ta thấy rặng tre đâu,
Suppā, hãy nói cho bè bạn,
Biển cả này tên gọi thế nào?
Bậc Đại sĩ đáp lại qua vần kệ sau:
10. Này các thương nhân xứ Bharukaccha,
Đi tìm vàng bạc bán đường xa,
Biển này tên gọi Naḷamāla đó,
Thuyền của các người đã lạc qua.
Bấy giờ biển này đây san hô với màu khóm tre, ngài lại hốt một mớ đá quý này và cất lên tàu.
11. Này nghe tiếng thét thật kinh hoàng,
Từ biển cả kia thật dị thường!
Hố thẳm, hãy nhìn nhiều đợt sóng
Dâng lên dốc đứng tựa sườn non,
Suppā, hãy nói cho bè bạn,
Đây gọi tên gì của đại dương?
Bồ-tát đáp lại qua vần kệ:
12. Này các thương nhân xứ Bharukaccha,
Đi tìm vàng bạc bán dường xa,
Vaḷabhāmukha đại dương này đó,
Thuyền của các người đã lạc qua.
Ngài nói tiếp:
- Này các hiền hữu, một khi thuyền vào trong biển Vaḷabhāmukha này thì không thể nào trở về được. Nếu thuyền này vào đó, nó sẽ chìm và tan nát.
Bấy giờ có cả bảy trăm mạng người trên thuyền này, họ đều sợ chết; nên họ đồng thanh thốt lên một tiếng kêu vô cùng thảm thiết, chẳng khác nào tiếng kêu la của những kẻ đang bị đốt cháy trong chốn địa ngục tận cùng (Vô gián Địa ngục). Bậc Đại sĩ nghĩ thầm: “Trừ ta ra, không ai có thể cứu mạng họ được. Ta quyết cứu họ bằng một lời thề chân lý.” Rồi ngài nói lớn:
- Này các hiền hữu, hãy mau mau tắm cho ta bằng nước hương thơm, mặc y phục mới cho ta, dọn ra một chén nước đầy và đưa ta đứng trước con thuyền.
Cả bọn vội làm như vậy. Bậc Đại sĩ cầm chén nước đầy bằng cả hai tay, và đứng trước mũi thuyền, thực hiện một lời nguyện cầu chân lý trong khi ngâm vần kệ cuối cùng:
13. Từ khi ta nhớ rõ về thân,
Trí tuệ đầu tiên phát khởi dần,
Là điều ta đã biết tinh tường,
Nếu lời cầu nguyện này chân chánh,
Mong ước thuyền về chốn vạn an.
Bốn tháng qua, con thuyền đã du hành trong những vùng biển xa xôi nay dường như được ban cho thần lực siêu phàm, nên chỉ trong một ngày nó trở lại hải cảng Bharukaccha, vào tận trên đất liền cho đến khi dừng lại trước cửa nhà của vị thuyền trưởng kia, sau khi nhảy vọt qua một khoảng chừng một ngàn một trăm cubit (1 cubit = 45cm). Bậc Đại sĩ phân phát cho đám thương nhân tất cả vàng bạc, trân châu, san hô, kim cương và bảo:
- Số châu báu này là đủ cho các bạn rồi, vậy đừng du hành đường biển nữa.
Sau đó, ngài thuyết pháp cho họ và đến khi đã làm xong các việc bố thí và các thiện sự suốt đời, ngài đi lên cộng trú với hội chúng ở Thiên giới.
*
Sau khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Đạo sư bảo:
- Này các Tỷ-kheo, ngày xưa Như Lai cũng rất thông thái như bây giờ vậy.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời bấy giờ, hội chúng của đức Phật là hội chúng thương nhân và Ta chính là Trí giả Suppāraka.