Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
Tay chân run rẩy, đầu co giật,
Như nộm gỗ nhờ tay kéo lên,
Đại đế mua đi, bình rượu đó,
Đầy lên tận miệng, rượu cay men.
9. Bợm rượu bị thiêu đốt ruột gan,
Hoặc làm mồi lũ chó rừng hoang,
Dấn thân từ ngục hay thần chết,
Còn phải chịu hao tốn bạc vàng,
Bình rượu ta đầy lên tận miệng,
Cực nồng, mua lấy, hỡi Vương quân!
10. Túy ông mất hết vẻ thanh tao,
Trò chuyện những điều bẩn thỉu sao,
Ngồi đứng trần truồng cùng đám bạn,
Mọi đàng ô trọc, bệnh lao đao,
Bình ta đầy rượu tràn lên miệng,
Cực mạnh, quân vương, hãy lấy vào!
11. Kẻ uống thường hay thói tự cao,
Nhãn quang chẳng sáng suốt đâu nào,
“Thế gian của tớ,” lòng thầm nghĩ
Chẳng có vua nào sánh kịp đâu!
12. Rượu nồng là thứ đại kiêu căng,
Ác quỷ nhát gan tựa nhộng trần,
Kết hợp đánh nhau và phỉ báng,
Ấy nhà cho trộm, điếm dung thân.
13. Dù gia đình có thật giàu sang,
Hưởng thọ kho vô số bảo tàng,
Giữ của trời cho phong phú nhất,
Rượu này cũng sẽ phá tan hoang.
14. Bạc vàng, đồ đạc ở trong nhà,
Đồng ruộng trâu bò, thóc vựa kho,
Ta sợ tiêu vong vì rượu mạnh,
Là mầm suy sụp của toàn gia.
15. Túy ông đầy nặng tính kiêu căng,
Thách đố bà con cùng máu huyết,
Dám làm ô uế mối hôn nhân.
16. Nữ thần uống rượu cũng kiêu căng,
Phỉ báng chồng mình lẫn phụ thân
Bất chấp thanh danh nhà quý tộc,
Biến thành nô lệ tính điên khùng.
17. Bợm rượu, gan liều dám sát nhân,
Sa môn chân chính, Bà-la-môn,
Rồi cùng mọi cõi đời đau khổ,
Hối tiếc hành vi quá bạo tàn.
18. Rượu vào, phạm ác nghiệp ba phần:
Lời nói, việc làm với ý tâm,
Địa ngục chìm sâu đầy khổ não,
Vì hành động ác tạo sai lầm.
19. Có kẻ, người năn nỉ uổng công,
Dù đem dâng mấy đống vàng, song
Khi say, chúng dụ theo đường chúng,
Lời dối tuôn ra cũng sẵn lòng.
20. Ví người say giữ việc thông tin
Gặp cảnh gian nguy đến đột nhiên
Hãy ngắm, kẻ này thề thốt nặng:
“Việc này tâm trí chợt quên liền!”
21. Ngay người thanh lịch nhất, khi say
Cũng hóa ra phường tục tử ngay,
Đệ nhất trí nhân mà túy lúy,
Cũng huyên thuyên nói xuẩn ngu đầy.
22. Uống nhiều, nhịn đói, ngã chơi vơi,
Đất cứng trần là chỗ nghỉ ngơi,
Lúc nhúc trẽn trơ như lũ lợn,
Chịu bao nhục nhã nhất trên đời.
23. Như bò bị đánh ngã trên sàn,
La liệt nằm từng đống hỗn mang,
Ngọn lửa chứa trong men rượu nặng,
24. Mọi người kinh hoảng vội lùi ra,
Tránh độc dược kia tựa độc xà,
Dũng sĩ to gan nào giải khát,
Cho mình bằng rượu giết người ta?
25. Ta chắc sau khi uống rượu nồng,
Andhakā tộc, với Vṛishṇi cùng
Lang thang bờ biển rồi nhào xuống.
Vì chiếc chùy kia của họ hàng.
26. Tiên say bị đọa khỏi cung trời
Thần lực mất liền, Đại đế ơi!
Ai muốn nếm mùi ghê tởm ấy,
Mua đi bình rượu của nhà tôi.
27. Chẳng phải sữa chua, mật ngọt đây,
Song ngài luôn nhớ mãi từ nay,
Cái gì chứa đựng trong bầu ấy,
Đại đế xin mua lấy rượu này!
Khi nghe xong bài thuyết giảng trên, vua nhận thấy thống khổ do rượu nồng gây ra, nên lòng hoan hỷ, tán thán Thiên đế qua hai vần kệ sau:
28. Chẳng song thân dạy khéo như ngài,
Ngài thật nhân từ, thiện hảo thay,
Chân lý ngài tìm ra tối thượng,
Trẫm vâng lời dạy bảo hôm nay.
29. Năm đệ nhất thôn của trẫm ban,
Bảy trăm bò, thị nữ trăm nàng,
Mười xe tuấn mã thuần cao quý,
Vì lợi ích ngài đã dạy răn.
Đế-thích nghe vậy liền xuất đầu lộ diện, vừa trụ trên không vừa ngâm hai vần kệ:
30. Một trăm thị nữ vẫn nhà ngài,
Làng mạc, đàn bò, cũng mặc ai,
Chẳng ngựa xa, đòi thuần chủng quý,
Sakka Thiên chủ chính danh này.
31. Hưởng đủ bơ tươi, thịt ướp, cơm,
Thích nhiều chân lý ta vừa dạy,
Trong sạch cõi Thiên đến đúng đường.
Đế-thích Thiên chủ thuyết giáo cho ngài xong lại trở về Thiên giới. Nhà vua liền chừa rượu mạnh và ra lệnh đập vỡ các bình rượu kia. Sau đó, ngài kiên tâm giữ Ngũ giới và bố thí, về sau được sinh vào cõi Thiên.
Nhưng việc uống rượu mạnh dần dần phát triển khắp cõi Diêm-phù-đề.
*
Bậc Đạo sư chấm dứt Pháp thoại và nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, Ānanda là nhà vua kia, còn Đế-thích Thiên chủ chính là Ta.
(TIỀN THÂN JAYADDISA)
Kìa, đã nhịn ăn đã bảy buổi sáng…
Câu chuyện này bậc Đạo sư kể về một Tỷ-kheo phụng dưỡng mẹ mình.
Phần mở đầu cũng giống như chuyện kể trong số 540, Tiền thân Sāma. Nhưng vào dịp này, bậc Đạo sư bảo:
- Các hiền nhân ngày xưa đã từ bỏ chiếc lọng trắng có các vòng kim hoa để phụng dưỡng song thân.
Nói xong, Ngài liền kể câu chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa, có một vị vua ở kinh thành phía bắc Pañcāla, trong quốc độ Kampilla, mệnh danh là Pañcāla. Hoàng hậu của ngài có thai, sinh được một hoàng nam. Trong suốt tiền kiếp xưa, bà có một tình địch trong hậu cung, đang cơn nóng giận đã thề:
- Một ngày kia, ta sẽ ăn thịt con bà.
Và để lời nguyền kia có công hiệu, nàng biến thành một con quỷ cái. Sau đó, ác quỷ tìm cơ hội chụp lấy hài nhi ngay trước mặt hoàng hậu, nhai ngấu nghiến như miếng thịt tươi rồi bỏ đi. Lần thứ hai cũng làm y hệt như thế; nhưng đến lần thứ ba, khi hoàng hậu đã vào phòng sinh, đám vệ binh liền canh gác quanh hoàng cung rất chặt chẽ.
Vào ngày bà sinh con, quỷ cái lại xuất hiện và chụp lấy hài nhi. Hoàng hậu thét lên:
- Qủy cái!
Lập tức binh lính cầm khí giới chạy đuổi theo con quỷ cái khi nghe báo động. Vì không kịp ăn thịt hài nhi, quỷ cái chạy trốn, ẩn mình dưới cống. Hài nhi nhận quỷ cái ấy làm mẹ, ngậm vú đòi bú; và quỷ cái kia bỗng sinh lòng thương hài nhi như mẹ thương con, liền đi đến nghĩa địa giấu hài nhi trong hang đá và chăm sóc kỹ lưỡng.
Khi hoàng tử khôn lớn, học hành tinh thong mọi mặt, chàng lên nắm vương quyền theo nghi lễ giương chiếc lọng trắng và trị vì quốc độ. Vào thời ấy, hoàng hậu của vua sinh hạ Bồ-tát được đặt tên là Alīnasattu. Khi hoàng tử lớn khôn, tinh thông mọi môn học thuật, liền được phong làm phó vương. Còn cậu bé làm con của quỷ cái vì bất cẩn làm hư hỏng rễ cây kia nên không thể giấu mình được nữa, phải sống trong nghĩa địa ăn thịt người nhưng vẫn xuất lộ nguyên hình.
Dân chúng thấy vậy sợ hãi, đến kêu than với nhà vua:
- Tâu Đại vương, một con quỷ có hình dạng rõ ràng đang ăn thịt người trên nghĩa địa. Dần dần nó sẽ tìm đường vào kinh thành ăn thịt dân. Xin Đại vương ra lệnh bắt nó đi.
Nhà vua chấp thuận ngay và ra lệnh bắt quỷ nọ. Một đạo binh cầm khí giới đứng quanh thành. Con quỷ ấy trần truồng nom thật khủng khiếp, nhưng lại sợ chết nên thét to và nhảy vào giữa ba quân. Quân sĩ la lên:
- Quỷ đây rồi!
Và họ cũng lo sợ cho mạng sống của họ, nên tan rã thành hai nhóm và bỏ chạy. Con quỷ thoát được và chạy ẩn mình trong rừng, từ đó không dám lai vãng chỗ có người ở.
Nó sống dưới gốc cây đa gần con đường lớn xuyên qua rừng. Khi dân chúng qua lại đường đó, nó bắt lấy từng người một đem vào rừng giết ăn thịt. Lúc bấy giờ, có một Bà-la-môn dẫn đầu đám bộ hành, đưa một ngàn đồng tiền cho đám kiểm lâm rồi đi ngang qua đường ấy với năm trăm cỗ xe. Con quỷ có hình người liền rống lên nhảy vào đám người ấy. Họ hốt hoảng chạy trốn ngã lăn lóc dưới đất. Quỷ chụp lấy gã Bà-la-môn nhưng vì bị mảnh gỗ
Đến ngày thứ bảy, vua Jayaddisa truyền lệnh đi săn và khởi hành từ kinh thành. Ngay lúc nhà vua lên đường, một người dân vùng Takkasilā, là một Bà-la-môn tên gọi Nanda, đang phụng dưỡng cha mẹ, đến yết kiến đức vua, mang theo bốn bài kệ, mỗi bài trị giá bốn trăm dồng tiền.
Nhà vua dừng lại để nghe kệ, và ra lệnh làm chỗ nghỉ ngơi cho ngài. Trong lúc đi săn, người bảo:
- Người nào để con hươu chạy thoát từ phía mình thì phải trả tiền cho vị Bà-la-môn về các bài kệ ấy.
Sau đó, một con hươu sao xuất hiện, chạy thẳng về phía nhà vua để thoát thân. Các cận thần cười rộ lên. Nhà vua chụp lấy kiếm, đuổi theo con hươu chừng ba dặm, bắt được nó, liền lấy kiếm xẻ đôi và gánh lên đòn.
Lúc trở về, ngài đi đến chỗ quỷ nhân đang ngồi, nghỉ ngơi một lát trên bãi cỏ kusa rồi định tiếp tục đi, lúc đó quỷ nhân xuất hiện thốt lên:
- Dừng lại, ngươi định đi đâu, ngươi là mồi ngon của ta!
Rồi chụp lấy tay ngài, quỷ ngâm vần kệ:
1. Kìa, bảy ngày qua chịu đói lòng,
Mồi ngon bỗng xuất hiện sau cùng,
Phải chăng danh tiếng ngươi lừng lẫy,
Ta muốn biết tên họ, giống dòng?
Nhà vua kinh hoảng khi thấy quỷ nhân, nên đứng sững như trời trồng, không thể chạy trốn được, song rồi tỉnh trí dần, ngài đáp vần kệ thứ hai:
2. Nếu ngươi biết Chiến Thắng là vua,
Của xứ Pañcāla, quốc độ ta,
Săn bắn trong rừng ta lạc bước,
Xin dùng hươu nọ thả ta ra.
Con quỷ nghe vậy liền ngâm vần kệ thứ ba:
3. Muốn cứu mạng, ngài đã hiến dâng
Mồi kia ngon thật đấy Quân vương,
Ta xơi ngài trước và không bỏ
Thú nếm thịt hươu, chớ nói quàng!
Khi nhà vua nghe vậy liền nhớ đến Bà-la-môn Nanda,và ngâm vần kệ thứ tư: