Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 70: Chương Mười Lăm- Phẩm Hai Mươi Bài Kệ - Phần 13 (trang 485-491)

5.           Vì sao kẻ ốm đói như vầy
              Bắt được rồng kia mãnh lực đầy?
               Long nữ, xin nàng cho trẫm biết,
               Làm sao đánh giá đúng rồng này?
Long nữ:
6.             Thần lực ngài, ngay cả thị thành,
                Ngài thiêu ra đống bụi tan tành,
                Song ngài yêu chuộng đường thanh tịnh,
                Khổ hạnh đi tìm lại chính danh.
Sau đó, vua hỏi bằng cách nào chàng kia bắt được ngài, nàng đáp qua vần kệ sau:
7.            Vào ngày trai giới, đấng Long vương
               Bốn pháp hành trì hạnh Thánh nhân,
              Gã múa rối kia tìm bắt được,
              Xin ngài vì thiếp, cứu lang quân!
Sau những lời trên, nàng lại ngâm hai vần kệ khác xin giải thoát cho ngài:
8.             Mười sáu ngàn kìa đám nữ nhân,
                Rỡ ràng vòng ngọc với kim ngân,
                Dưới dòng nước đã tôn Rồng thánh
                Là chúa tể cho chúng ẩn thân.
9.            Đại vương, mong rộng lượng, công bằng,
               Xin chuộc Long vương được thoát thân
              Bằng một làng, trăm bò cái chẵn,
              Thêm vàng, đem phước báo Quân vương.
Đức vua liền ngâm tiếp ba vần kệ:
10.         Này xem ta chánh đáng, đào hoa,
             Ta chuộc cho rồng chúa được tha
              Bằng một làng, trăm bò cái chẵn,
              Thêm vàng, đem phước báo cho ta.
11.         Rồi trẫm tặng chàng vòng ngọc tai,
              Với vàng trăm lượng chẳng hề sai,
              Tọa sàng xinh đẹp như hoa gấm,
              Gối nệm nằm chen bốn dãy dài.
12.          Bò đực cùng bò cái một trăm,
               Và hai người vợ cũng chung dòng,
               Xin tha rồng chúa đầy thanh tịnh,
               Việc ấy sẽ đem lắm phước phần.
Nghe vậy, người bắt rắn đáp lời:
13.           Thần không cầu thưởng, tấu Anh quân,
                 Mà để chúa rồng được thoát thân,
                 Như vậy, nay thần xin giải phóng,
                 Việc này sẽ tạo lắm hồng ân.
   Sau lời này, chàng ta đem bậc Đại sĩ ra khỏi thúng. Long vương từ từ bò ra, tiến vào trong một cái hoa, tại đó ngài trút bỏ xác cũ và hiện hình một nam tử phục sức cực kỳ lộng lẫy. Ngài đứng sừng sững, chẳng khác nào ngài vừa rẽ mặt đất ra và bước lên. Còn nàng Long nữ Sumanā từ trên trời giáng xuống đứng cạnh ngài. Vị rồng chúa đứng chắp tay tỏ vẻ tôn trọng vua lắm.
Để giải thích việc này, bậc Đạo sư ngâm hai vần kệ:
14.             Tự do, rồng chúa xứ Campā,
                   Liền nói như vầy với đức vua:
                  “Chúa tể Kāsi nuôi quốc độ,
                   Cầu ngài vinh hiển tự bây giờ,
                   Thần xin đảnh lễ ngài cung kính,
                   Trước lúc trở về viếng cố gia.”
Đức vua:
15.               Đời thường nói các đấng siêu phàm
                    Khó được lòng tin ở thế gian,
                   Ví thử chúa rồng nay nói thật,
                    Long cung đâu, hãy chỉ ngay đàng!
Nhưng bậc Đại sĩ muốn vua tin tưởng, liền thề nguyền như sau qua hai vần kệ:
16.               Dù gió thổi tung cả núi đồi,
                    Mặt trời, trăng rớt khỏi bầu trời,
                    Suối sông, xoáy ngược dòng đang cháy,
                    Chúa thượng, thần không thể dối lời.
17.               Ví trời nức nẻ, hải dương khô,
                     Đất mẹ bao la vỡ vụn ra,
              Dù núi Tu-di rung bật gốc,
              Đại vương, thần chẳng dối bao giờ.
Dù có lời cam đoan như vậy, vua vẫn chưa tin bậc Đại sĩ và bảo:
18.         Đời thường nói các đấng siêu phàm
              Khó được lòng tin ở thế gian,
             Ví thử chúa rồng nay nói thật,
             Long cung đâu, hãy chỉ ngay đàng!
Một lần nữa vua ngâm vần kệ trên và thêm:
-  Ngài phải biết ơn ta về các hành động tốt ta đã làm cho ngài đấy. Tuy nhiên, ta có tin ngài chân chánh hay không, thì việc ấy tùy ta định đoạt.
Vua nói rõ điều này qua vần kệ:
19.        Ngài đầy nọc độc, đủ quyền năng,
             Chiếu sáng rực trời, chóng nổi sân,
             Ngài bị giam, nhờ ta giải thoát,
             Quyền ta là phải được tri ân.
Bậc Đại sĩ liền thề nguyền như vầy để vua tin tưởng:
20.         Kẻ nào không muốn đáp ân tình,
              Sẽ chẳng làm sao hưởng phước lành,
               Kẻ đó bỏ mình trong rọ nhốt,
               Chịu thiêu trong ngục tối hồn kinh.
Bấy giờ, vua mới tin ngài và cảm ơn ngài như vầy:
21.         Ngài nguyện lời kia quả thật chân,
              Giận hờn tan biến, tránh thù hằn,
              Như ta tránh lửa trong mùa hạ,
              Mong điểu vương xa lành chúa rồng.
Phần ngài, bậc Đại sĩ cũng ngâm kệ nữa để cảm tạ vua:
22.          Như mẹ hiền kia muốn bố ân
              Cho con độc nhất quý vô ngần,
              Đại vương nhân ái cùng rồng rắn,
              Xin phụng sự vua, mỗi chúng thần.
   Bấy giờ, vua ao ước đi viếng cảnh giới loài rồng, nên truyền lệnh cho quân sĩ chuẩn bị sẵn sàng lên đường qua vần kệ:
23.         Đoàn vương xa, hãy thắng yên cương,
              Đứng sẵn bầy la khéo luyện thuần,
                 Vương tượng, cân đai vàng chói lọi
                 Ta cùng đi viếng xứ Long vương.
Sau đây là vần kệ phát xuất từ Trí tuệ tối thắng của đức Phật:
24.            Trống con, trống lớn, đánh thì thùng,
                  Chũm chọe, tù và thổi dậy rân,
                  Kìa ngắm Uggasena vương ngự đến
                  Huy hoàng hiện giữa đám cung tần.
   Vào lúc vua rời kinh thành, bậc Đại sĩ dùng thần lực khiến cảnh giới Long vương xuất hiện với một bức tường thành bao quanh làm bằng bảy loại châu báu, cùng các tháp canh tại cổng thành; ngài hóa phép cho các con đường dẫn đến Long cung đều được trang hoàng rực rỡ. Theo đường này, vua cùng đám tùy tùng bước vào cung và trông thấy một khung cảnh đầy kỳ thú với nhiều lâu đài nguy nga lộng lẫy cao sang.
  Để giải thích việc này, bậc Đạo sư ngâm kệ:
25.             Chúa tể Kasī thấy đất bằng,
                  Nơi nơi rải khắp cát như vàng,
                  Hoa san hô đẹp trồng quanh chốn,
                  Đỉnh tháp bằng vàng ở tứ phương.
26.             Sau đó, Đại vương lại đặt chân
                  Ngự vào đại sảnh của Long thần,
                 Tựa thiên lôi chủy đồng lóe sáng,
                  Hay cả vầng hồng tỏa ánh quang.
27.             Vào đến Campeyya đại sảnh đường,
                  Vừa dời gót ngọc, đấng Quân vương,
                  Ngàn cây đổ bóng che im mát,
                  Không khí ngàn mùi tỏa diệu hương.
28.              Bên trong cung điện chúa Campeyya,
                   Đại đế vừa khi ngự đến đây,
                   Đàn trổi khúc thần tiên tuyệt diệu,
                  Yêu kiều Long nữ múa như bay.
29.             Ngài được mời lên bảo tọa vàng,
                  Nệm êm ái sực nức chiên-đàn,
                  Cả đoàn kiều nữ khoan thai lướt
                  Khắp sảnh đường theo gót rộn ràng.
    Vừa khi vua an tọa tại đó, quân hầu đã dâng lên đủ thức cao lương mỹ vị thần tiên, họ cũng đem các thứ này mời mười sáu ngàn Long nữ kia và toàn thể hội chúng ấy. Suốt bảy ngày, vua cùng đám tùy tùng thọ hưởng các thực phẩm thần tiên cùng mọi lạc thú khác.Vừa ngự trên bảo tọa, vua vừa ca ngợi cảnh vinh quang của bậc Đại sĩ. Vua hỏi:
   -   Này Long vương, tại sao ngài bỏ mọi cảnh huy hoàng này để đi nằm trên tổ kiến giữa cảnh trần thế của con người và hành trì ngày trai giới vậy?
  Bậc Đại sĩ liền đáp lại vua.
  Để giải thích sự việc này, bậc Đạo sư ngâm kệ:
  30.               Chốn kia, vua hưởng thú vui tràn,
                     Rồi tới Campeyya chúa, hỏi han:
                    “Cung điện ngài đây vinh hiển quá,
                    Hồng như vầng nhật tỏa hào quang,
                    Trên trần không chốn nào như vậy,
                    Vì cớ sao ngài muốn ẩn thân?
31.               Đứng đây toàn tuyệt sắc giai nhân
                   Cầm lấy bằng đầu ngón búp măng
                   Chén rượu trong bàn tay ửng đỏ,
                    Ngai vàng ôm sát ngực và thân,
                   Tại sao ngài muốn làm tu sĩ,
                    Chẳng thấy cảnh kia ở cõi trần?
32.               Suối, sông, hồ cá đẹp, trong ngần,
                    Đều có bến xây bậc vững vàng,
                    Trên trần chẳng chốn nào như thế,
                    Vì cớ sao ngài muốn ẩn thân?
33.               Đàn công, sếu hạc, với thiên nga,
                    Bao vẻ mê hồn cu gáy ca,
                    Vì cớ sao ngài làm ẩn sĩ,
                    Trên đời đâu thấy cảnh kia mà?
34.               Đây trồng tilak, đó xoài, sal,
                   Hoa quế, hoa chuông nở rộ tràn,
                   Chẳng thấy cảnh này nơi địa giới,
                   Sao ngài làm ẩn sĩ trần gian?
35.              Nhìn các hồ kia, gió thoảng đưa,
             Hương thần tiên tỏa khắp đôi bờ,
            Cảnh này không thấy trên trần giới,
            Vì cớ sao ngài muốn ẩn cư?”
Long vương:
36.        Chẳng vì thọ mạng, của hay con,
            Ta phấn đấu vầy với bản thân,
             Nếu được, chính lòng ta ước nguyện
            Tái sinh làm một kẻ phàm nhân.
Vua lại nói
37.         Phục sức cao sang, mắt đỏ ngầu,
              Rộng vai và nhẵn nhụi đầu râu,
              Chiên-đàn tẩm ướt, như Thiên đế,
             Phán bảo toàn dân chúng địa cầu.
38.         Lực thần vĩ đại thật hùng oai,
             Làm chủ quyền mơ ước mọi loài,
             Rồng chúa, xin vui lòng giải đáp,
             Vì sao địa giới vượt Long đài?
Câu hỏi này được Rồng chúa đáp lại như sau:
39.        Thanh tịnh, điều thân, chỉ đạt thành
              Khi người ta sống giữa quần sinh,
              Nếu làm người, chẳng bao giờ nữa
             Ta thấy tử sinh đến với mình.
             Vua lắng nghe và đáp kệ này:
40.       Quả thật là chân chánh thiện tâm,
            Tôn sùng bậc trí tuệ uyên thâm,
            Tâm tư siêu việt thường sinh khởi,
            Khi trẫm nay chiêm ngưỡng chúa rồng,
           Cùng với cả đoàn Long nữ ấy,
           Trẫm mong làm thiện nghiệp muôn phần.
Long vương bảo ngài:
41.       Quả thật là chân chánh thiện tâm,
            Tôn sùng bậc trí tuệ uyên thâm,
            Tâm tư siêu việt thường sinh khởi
            Khi Đại vương nhìn thấy tiểu quân,
             Cùng với cả đoàn Long nữ ấy,
             Ngài mong thành thiện nghiệp muôn phần.
Sau buổi đàm đạo ấy, vua Uggasena muốn ra đi, liền tạ từ ngài và bảo:
-  Này Long vương, trẫm ở lại đây lâu rồi, nay trẫm cần phải về.
Bậc Đại sĩ liền chỉ các kho báu cho vua xem, vừa tặng bất cứ thứ gì vua muốn lấy, ngài vừa ngâm kệ:
42.        Vàng thoi bỏ đó, kể không cùng,
             Bạc chất như cây cả mấy tầng,
             Ngài lấy mà xây tường đá bạc,
             Đem về dựng gác ngọc lầu vàng.
43.       Ta đoán năm ngàn xe ngọc trai,
             San hô chen giữa ửng hồng tươi,
             Lấy đi để trải đầy cung điện
            Chẳng thấy đất dơ lộ phía ngoài.
44.       Đại vương, hãy dựng một cung đình,
             Như tiểu quân nay muốn tấu trình,
            Tại đó xin ngài lên ngự trị,
            Thành Ba-la-nại sẽ phồn vinh,
             Mong ngài cai trị dân hiền đức,
            Và trị nước nhà thật xứng danh.
  Vua chấp thuận lời đề nghị này. Sau đó, bậc Đại sĩ ban lời bố cáo khắp kinh thành bằng tiếng trống lệnh:
  -   Hãy để cho đám tùy tùng của đức vua từ nhân giới lấy đem về bất cứ món gì trong các kho báu của ta, cả vàng ròng nữa như ý muốn.
 Rồi ngài truyền đưa bảo vật đến tặng vua chất đầy hàng trăm cổ xe.
 Xong xuôi, vua giã từ cảnh giới Long vương trong muôn vẻ huy hoàng trọng thể và trở về thành Ba-la-nại. Từ đó về sau, tục truyền rằng đất được lát vàng khắp cả xứ Diêm-phù-đề (Ấn Độ).
                                                           *
  Khi Pháp thoại này chấm dứt, bậc Đạo sư bảo:
 -   Như vậy, các bậc trí nhân ngày xưa đã giã từ cảnh vinh quang trong thế giới loài rồng để hành trì ngày trai giới.
 Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây