Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 100: 528. CHUYỆN HIỀN GIẢ ĐẠI BỒ-ĐỀ - Phần 4 (trang 700-706)

     Làm càn, cho bạn phải ưu sầu,
     Gánh sầu mang nặng, mình riêng chịu,
      Chân chánh, không làm vướng bận nhau.
Đại tướng:
36. Thiện hành dẫn dắt tới thiên đường,
       Xin chớ cản chân, tấu Đại vương,
      Tặng vật Ummadantī, thần cống hiến,
       Như vua ban thưởng bậc Sa-môn.
Quân vương:
37. Khanh đối cùng ta thật chí thành,
      Khanh và hiền nội, bạn chân tình,
     Đạo nhân, thần thánh đều chê trách,
     Nguyền rủa, ta mang mãi nặng mình.
Đại tướng:
38.Thần chắc dân quê đến thị dân
     Chẳng hề than chúa thiếu công bằng,
    Vì Ummadantī, chính thần dâng hiến,
     Thỏa nguyện, rồi đem trả lại thần.
Quân vương:
39. Khanh cùng trẫm quả thật ân cần,
      Khanh với phu nhân chính bạn vàng,
     Chính nghiệp thiện nhân vang vọng khắp,
     Chánh hành khó vượt, tựa triều dâng.
Đại tướng:
40. Tâu Chúa công, ban thưởng hạ thần
      Những gì thần ước, đại ân nhân,
     Xin hoàn gấp bảy quà thần tặng,
     Xin nhận Ummadantī, của biếu không.
Quân vương:
41. Tri kỷ Ahipāraka, quả thật tình,
     Theo đường chân chánh tự xuân xanh,
     Đâu còn ai nữa trong nhân thế
     Nỗ lực cho ta được tốt lành?
Đại tướng:
42. Tấu Minh quân, hiển hách vô song,
      Thông hiểu chánh hành, đại trí nhân,
     Vạn tuế pháp vương, đầy chánh hạnh,
      Tránh đường tà, dạy bảo cho thần.
Quân vương:
43. Đến đây, Đại tướng Ahipāraka,
      Hãy lắng nghe lời nói của ta,
      Ta sẽ dạy khanh toàn chánh đạo
      Thực hành bởi các thiện nhân xưa.
44. Vua cầu chánh pháp, được ân trời,
     Bậc trí tối ưu giữa mọi người,
      Không phản bạn lành là thiện hảo,
      Tránh đường tà, cực lạc cao vời.
45. Dưới quyền đức độ của minh quân
      Như bóng cây che nắng trú thân,
      Tất cả thần dân đều lạc nghiệp,
      Hưởng đời phú quý mãi gia tăng.
46. Việc ác, nào ta có tán đồng,
      Dù là vô ý vẫn sai lầm,
     Ngu si là tội ta khinh ghét,
      Nghe ví dụ này, khắc tận tâm.
47. Bò già đi lạc giữa dòng sông,
      Cả đám bò con lạc bước luôn;
      Vậy nếu trưởng đoàn đi lạc lối,
      Mục tiêu hạ liệt lại đưa đường,
     Cả đoàn thấp kém, liền theo gót,
    Cả nước than thời loạn nhiễu nhương.
48. Song nếu bò cha lái đúng dòng,
      Đoàn bò thẳng tiếp bước sau lưng;
      Vậy khi tướng lãnh theo chân chánh,
      Dân chúng sẽ cùng tránh bất công,
      Thanh tịnh an bình liền phát khởi
       Khắp miền cương thổ với non sông.
49. Ví dầu trẫm được cả trần gian,
     Cũng chẳng làm sao, hỡi Tướng quân
     Trẫm chẳng thể nào gây ác nghiệp
      Mà mong đạt đến cõi Thiên đàng.
50. Những gì quý giá giữa nhân gian,
      Nô lệ, bò trâu với bạc vàng,
      Thuấn mã, xiêm y, kho của cải,
      Ngọc châu sáng rực, gỗ chiên-đàn,
      Mọi nơi nhật nguyệt ngày đêm chiếu,
      Đổi lấy bất công cũng chẳng màng,
      Trẫm vốn Sivi dòng quý tộc,
      Người cai trị chính đáng công bằng.
51. Làm cha, lãnh đạo, giữ giang sơn,
      Trẫm bảo tồn quyền lợi nước non,
       Trẫm quyết trị dân theo chánh đạo,
       Chẳng còn ai lệ thuộc riêng phần.
                                                   *
Đại tướng:
52. Luật pháp Đại vương thật tốt lành,
      Mong ngài ngự trị hưởng trường sinh,
      Dẫn đường đưa nước nhà an lạc,
       Cường thịnh nhờ ngài đại trí minh.
53. Hân hoan tràn ngập chúng thần dân,
      Vì Đại vương chân chánh nhiệt tâm,
      Các bạo chúa nào quên chánh đạo
      Từ nay ắt phải mất ngai vàng.
54. Với xuân huyên là đấng song thân,
     Xin thực hành chân chánh, Đại vương,
      Nhờ tiến bước lên theo chánh đạo,
      Đại vương sẽ đạt đến thiên đường.
55. Với hoàng nam, chánh hậu, cung tần,
      Xin thực hành chân chánh, Đại vương,
       Nhờ tiến bước lên theo chánh đạo,
      Đại vương sẽ đạt đến thiên đường.
56. Với bao bằng hữu, đám triều thần,
      Xin thực hành chân chánh, Đại vương,
      Nhờ tiến bước lên theo chánh đạo,
       Đại vương sẽ đạt đến thiên đường.
57. Trong chinh chiến hoặc bước hành trình,
      Xin Đại vương chân chánh thực hành,
       Nhờ tiến bước lên theo chánh đạo,
       Đại vương sẽ đạt đến thiên đường.
58. Nơi thôn dã hoặc chốn kinh thành,
      Xin Đại vương chân chánh thực hành,
      Nhờ tiến bước lên theo chánh đạo,
       Đại vương sẽ đạt đến thiên đường.
59. Mọi miền quốc độ, khắp giang sơn,
       Xin thực hành chân chánh, Đại vương,
       Nhờ tiến bước lên theo chánh đạo,
       Đại vương sẽ đạt đến thiên đường.
60. Với La-môn, các bậc Sa-môn,
       Xin thực hành chân chánh, Đại vương,
       Nhờ tiến bước lên theo chánh đạo,
       Đại vương sẽ đạt đến thiên đường.
61. Với loài súc vật, các chim muông,
      Xin thực hành chân chánh, Đại vương,
      Nhờ tiến bước lên theo chánh đạo,
       Đại vương sẽ đạt đến thiên đường.
62. Thực hành chân chánh, tấu Quân vương,
       Do đấy, nguồn ân phước tưới tràn,
         Nhờ tiến bước theo đời chánh hạnh,
       Đại vương sẽ đạt đến thiên đường.
63. Chính nhờ tỉnh giác, tấu Quân vương,
      Thiên đạo tiến lên vững bước luôn,
       Giáo sĩ, chư Thiên và Đế-thích
        Từ xưa đã đạt đến thiên đường.
Khi vừa đã nghe đại tướng Ahipāraka của ngài thuyết giảng chánh pháp như vậy xong, ngài đoạn trừ hết lòng tham đắm đối với nàng Ummadantī.
Sau khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Đạo sư thuyết giảng các Thánh đế và nhận diện tiền thân:
-  Thời bấy giờ, Ānanda là người lái xe Sunanda, Sāriputta (Xá-lợi-phất) là tướng Ahipāraka, Uppalavaṇṇā (Liên Hoa Sắc) là nàng Ummadantī, các đệ tử của đức Phật là đám triều thần và Ta chính là vua Sivi.
  Vào đoạn kết thúc các Thánh đế, vị Tỷ-kheo kia đã được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu).
                                        528. CHUYỆN HIỀN GIẢ ĐẠI BỒ-ĐỀ
                                             (TIỀN THÂN MAHĀ BODHI)
Ý nghĩa gì chăng những vật này…
Câu chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về sự Viên mãn của Trí tuệ tối thắng.
Hoàn cảnh câu chuyện sẽ được kể trong Tiền thân Mahā Ummagga, (số 546, tập VII). Vào dịp này, bậc Đạo sư bảo:
-Không phải chỉ bây giờ mà cả xưa kia nữa, Như Lai cũng đã sáng suốt đánh bại mọi kẻ tranh chấp biện luận.
Cùng với các lời nói này, Ngài kể câu chuyện quá khứ.
                                                               *
   Ngày xưa, trong triều vua Brahmadatta, Bồ-tát được sinh tại Ba-la-nại, trong quốc vương Kāsi vào một gia đình Bà-la-môn miền bắc có thế lực, của cải lên đến tám trăm triệu. Cha mẹ đặt tên ngài là nam tử Bodhi (Đại Trí). Khi ngài lớn khôn, ngài được dạy đủ các môn học thuật tại Takkasilā, rồi trở về nhà ngài sống trong sự săn sóc nuông chiều của gia đình.
  Dần dần, ngài đoạn trừ mọi ác dục thế gian và lui về sống ở vùng Tuyết sơn, bắt đầu cuộc đời tu hành của một du sĩ ẩn thực. Ngài ở đó một thời gian thật lâu, ăn toàn củ và trái rừng. Vào mùa mưa, ngài hạ sơn đi khất thực dần dần đến gần thành Ba-la-nại.
  Tại đấy, ngài trú ngụ trong vườn ngự uyển. Hôm sau, ngài đia vào kinh thành khất thực, với tư cách của một vị khất sĩ, ngài đến gần hoàng môn. Vua đứng bên cửa sổ trông thấy ngài, và rất hoan hỷ trước dáng điệu thanh thản của ngài, liền mời ngài vào cung và ngồi trên vương tọa.
  Sau một hồi đàm đạo thân hữu, vua được nghe ngài thuyết pháp rồi tiếp đãi cúng dường ngài đủ thứ cao lương mỹ vị. Bậc Đại sĩ nhận vật thực và suy nghĩ: “Thật ra vương triều này đầy hận thù và cừu địch. Ta không biết ai sẽ giải thoát cho ta khỏi nỗi lo sợ đang khởi lên trong lòng ta.”
    Vừa nhìn thấy con chó săn màu hung được vua cưng quý đang đứng gần đó, ngài lấy một miếng thịt tỏ vẻ muốn cho con chó. Vua thấy thế liền truyền đem dĩa của con chó lại và bảo ngài lấy thức ăn cho con chó. Bậc Đại sĩ tuân lệnh và cũng vừa chấm dứt bữa ăn.
    Vua xin ngài chấp nhận việc xây một túp lều tranh cho ngài trong ngự viên của hoàng thành, truyền ban tặng ngài đủ vật dụng của một ẩn sĩ, và mời ngài an trú tại đó. Mỗi ngày hai ba lần, vua đến thăm, tỏ lòng cung kính đối với ngài. Đến giờ cơm, bậc Đại sĩ liên tục được ngồi vào trong vương tọa thọ dụng các thức ngự thiện cùng với vua. Cứ thế mười hai năm liền trôi qua.
   Lúc bấy giờ, vua có năm vị cố vấn đã dạy ngài các thế pháp cũng như thánh sự. Một vị trong số đó không chấp nhận thuyết nghiệp nhân. Một vị khác tin rằng mọi việc đều do một đấng tối cao sắp đặt. Một vị thứ ba chủ trương thuyết tiền nghiệp. Vị thứ tư tin vào sự đoạn diệt sau khi chết. Vị thứ năm chủ trương thuyết giai cấp Sát-đế-lỵ. Vị không chấp nhận nghiệp nhân dạy dân chúng rằng, con người trong thế gian này sẽ được thanh tịnh hóa nhờ luân hồi. Vị tin vào hành động của đấng tối cao dạy rằng, thế giới này do vị tối cao ấy sáng tạo. Vị tin vào kết quả của tiền nghiệp dạy rằng, mọi ưu lạc ở đời này là kết quả của một nghiệp quá khứ. Vị tin vào thuyết đoạn diệt dạy rằng, không ai ở đời này tái sinh vào một thế giới khác vì thế giới này sẽ bị đoạn diệt. Vị chủ trương thuyết Sát-đế-lỵ dạy rằng, quyền lợi của cá nhân mình phải được thỏa mãn cho dù phải giết cả cha mẹ mình.
   Năm vị này được vua chỉ định ngồi xử án trong triều và vì tham muốn của hối lộ, họ đã tước đoạt tài sản của những người chủ nhân chính đáng. Một ngày kia, có một kẻ bị sạt nghiệp vì một vụ xử án sai lầm, thấy bậc Đại sĩ đi vào cung khất thực liền đảnh lễ và than thở vào tai ngài:
  Thưa Tôn giả, tại sao ngài thọ thực trong cung điện, mà lại thờ ơ trước những việc do những vị phán quan cầm cân nẩy mực của Thánh thượng đang làm tan gia bại sản mọi người vì muốn ăn hối lộ? Ngay bây giờ đây, năm vị kia nhận của hối lộ từ tay một người vu cáo nên đã tước đoạt hết tài sản của tôi một cách vô lý.
  Nghe vậy, bậc Đại sĩ động lòng thương hại, đi vào triều xử bản án lại cho đúng và trả quyền tài sản cho người kia. Dân chúng đồng tình hoan nghênh ngài nhiệt liệt.
 Vua nghe tiếng ồn ào liền hỏi có việc gì, khi nghe nói vậy, vừa lúc bậc
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây