Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
- Tâu Đại vương, tất cả bọn này đều là phường dối trá, toàn cõi Diêm-phù sẽ bị suy tàn vì nạn lừa đảo kia. Xin Đại vương hãy khuyến dụ Uddālaka từ bỏ việc hành trị khổ hạnh của nó và làm Tế sư theo gót hạ thần, lại cho phép đám người này khỏi phải tụ tập khổ hạnh rồi cho chúng đủ gươm, giáo, mộc để làm tùy tùng của Đại vương.
Vua chấp nhận, làm theo lời ngài dạy và tất cả bọn ấy đều đến phụng sự vua.
*
Khi bậc Đạo sư đã chấm dứt Pháp thoại, Ngài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên, mà kẻ này trước kia cũng đã làm một tên lừa đảo.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, Tỷ-kheo gian dối này là Uddālaka, Ānanda là vua và Ta chính là vị Tế sư.
( TIỀN THÂN BHISA)
Mong nhiều trâu ngựa, lắm kim ngân…
Chuyện này do bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ- kheo thối thất.
Trường hợp này cũng sẽ xuất hiện trong số 531, Tiền thân Kusa. Ở đây, một lần nữa, bậc Đạo sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo, có đúng là ông đã thối thất chăng?
- Bạch Thế Tôn, quả đúng vậy.
- Vì cớ gì?
- Bạch Thế Tôn, vì ác dục.
- Tại sao, này Tỷ-kheo, ông lại thối thất, sau khi đã hành trì đạo lý này trước khi đưa đến Giải thoát, và tất cả chỉ vì ác dục? Ngày xưa, trước khi đức Phật ra đời, những bậc trí nhân khởi đầu cuộc sống tu hành, ngay cả những vị ngoại đạo cũng đã phát hạnh nguyện và đoạn trừ ngay các tưởng khởi lên có liên hệ các dục hoặc sức cám dỗ của dục.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh làm con trai của một đại danh gia Bà-la-môn có tài sản đến tám trăm triệu đồng tiền. Gia đình đặt tên ngài là Mahā Kañcana hay Đại chúa tể Hoàng kim. Vào lúc ngài mới biết đi chập chững, một bé trai khác lạ sinh ra đời trong nhà vị Bà-la-môn ấy và được đặt tên là Upakañcana hay Tiểu chúa tể Hoàng kim. Cứ như vậy, bảy nam nhi liên tiếp ra đời và cuối cùng là một quý nữ, được đặt tên là Kañcanadevi hay Công nương Hoàng kim.
Khi Mahā Kañcanda lớn lên, ngài đi học tập tại Takkasilā đầy đủ mọi môn học thuật rồi ngài trở về nhà. Lúc ấy, song thân ngài muốn lập cho ngài một gia thất riêng. Hai vị bảo:
Song ngài đáp:
- Thưa cha mẹ, con không muốn lập gia đình. Đối với con, ba cõi sinh hữu đều như lửa đốt, bị trói buộc xiềng xích như ngục tù, đáng ghê tởm tựa đống phân. Con chẳng hề có ý nghĩ gì về việc đó, dù chỉ là trong giấc mộng. Cha mẹ có các con trai kia, xin bảo chúng làm chủ gia đình và để cho con yên thân.
Dù hai vị van nài ngài nhiều lần, nhờ bạn hữu của ngài đến năn nỉ ngài tận miệng, ngài cũng chẳng muốn gì về việc ấy cả. Sau đó, bạn bè hỏi ngài:
- Này hiền hữu, thế bạn muốn gì mà bạn chẳng thiết tha đến việc tận hưởng tình yêu và lạc thú?
Ngài bảo họ, ngài đã từ bỏ thế tục. Khi song thân hiểu việc này, hai vị đề nghị việc kia với các con trai thứ, nhưng chẳng ai chịu nghe cả, ngay cả nương tử Kañcana cũng không. Dần dà cha mẹ qua đời. Trí giả Mahā Kañcana làm lễ an táng song thân xong, với kho tang tám trăm triệu ấy, ngài phân phát hào phóng cho tất cả đám hành khất và du sĩ; rồi ngài đem sáu em trai cùng em gái, một gia nhân và một nữ tỳ, cùng một người bạn đường, ngài làm đại sự xuất gia và sống ẩn dật trong dãy Tuyết sơn.
Tại đó, trên một vùng đất vừa ý gần một hồ sen, các vị xây một khu am thất ẩn cư tu hành và ăn toàn trái cây, củ rừng. Khi họ vào rừng, chỉ đi từng người một, nếu có vị nào thấy trái cây hay lá rau gì liền gọi các vị kia. Và tại đó, vừa bảo nhau những điều gì nghe thấy được, các vị vừa thu lượm các thức ăn sẵn có, chẳng khác gì cái chợ nhỏ trong làng. Song bậc Sư trưởng, vị khổ hạnh Mahā Kañcana lại nghĩ thầm: “ Ta đã bỏ qua cả gia sản tám trăm triệu và sống đời tu hành, rồi để ham đi quanh quẩn kiếm trái rừng, thật chẳng hợp lý. Từ nay, ta muốn một mình ta đi lượm trái rừng thôi.” Sau đó, trở về nhà, buổi tối, ngài tập hợp mọi người lại và nói cho họ biết ý định của ngài:
- Các em cứ ở đây, và tụ tập đời ẩn sĩ, để ta đi hái quả cho các em.
Nghe vậy, Upakañcana và các người kia ngắt lời:
- Chúng tiểu đệ đã theo hiền huynh đi tu hành, vậy chính hiền huynh phải ở nhà và tụ tập đời ẩn sĩ, và hiền muội cũng ở nhà nữa, cùng với nữ tỳ. Tám người chúng em thay phiên nhau đi hái quả, còn ba người ở nhà khỏi làm việc ấy.
Sau một thời gian, họ lượm được các củ sen để ăn và sống tại đó, tự hành xác với lửa nóng như thiêu như đốt và các loại cực hình khác, nên các giác quan đều tê liệt cả, trong khi họ cố hết sức để nhập định.
Vì công hạnh sáng chói của họ, chiếc ngai của Sakka( Đế- thích) Thiên chủ rung động lên. Ngài bảo:
- Các vị này chỉ thoát khỏi tham dục thôi, hay họ là các vị hiền nhân rồi? Họ có phải hiền nhân chăng? Nay ta muốn tìm hiểu xem sao.
Thế là nhờ thần lực của mình, suốt ba ngày, Thiên chủ làm cho phần thực phẩm của bậc Đạo sư biến mất.
Ngày đầu tiên, khi không thấy phần mình, ngài nghĩ: “ Có lẽ phần của ta đã bị quên mất.” Vào ngày thứ hai: “ Chắc hẳn ta có lỗi lầm nào. Chính là vì muốn nhắc nhở ta về điều này một cách cung kính mà người đó không chia phần cho ta.” Vào ngày thứ ba: “ Tại sao họ lại không chia phần cho ta như thế được? Nếu ta có gì lỗi lầm thì ta phải hòa giải phần mình trước.”
Vì thế, buổi tối, ngài đánh cồng lên. Tất cả đều đến và hỏi ai đã đánh cồng.
- Này các hiền đệ, chính ta đánh.
- Thưa Tôn giả, tại sao vậy?
- Này các hiền đệ, trong ba ngày qua, ai đem thức ăn vào?
Một người đứng dậy nói:
- Chính tiểu đệ.
Rồi vị ấy vẫn đứng yên rất cung kính.
- Khi hiền đệ chia phần, có để dành phần cho ta chăng?
- Có chứ, thưa Tôn sư, đó là phần của vị Sư trưởng.
- Còn ai mang về thực phẩm hôm qua?
Một người khác đứng lên và nói:
Rồi vị ấy kính cẩn đứng chờ.
- Thế hiền đệ có nhớ phần ta chăng?
- Tiểu đệ đã để phần Sư trưởng cho hiền huynh đấy.
- Thế hôm nay ai đem thực phẩm về?
Một người nữa đứng dậy và kính cẩn đứng chờ.
- Hiền đệ có nhớ chia phần cho ta không?
- Tiểu đệ đã để phần Sư trưởng cho hiền huynh đấy.
Ngài liền bảo:
- Này các hiền đệ, hôm nay la ngày thứ ba ta không có phần ăn. Ngày đầu tiên ta không thấy phần mình, ta nghĩ người nào chia phần đã quên ta. Ngày thứ hai, ta nghĩ chắc ta đã phạm lỗi lầm gì. Song hôm nay, ta quyết định rằng nếu có lỗi lầm gì, ta sẽ hòa giải, và vì thế ta đánh cồng triệu tập các tiểu đệ. Các hiền đệ bảo đã để các phần củ sen cho ta mà ta chẳng có được chút gì cả. Ta phải tìm hiểu xem ai đã lấy trộm và ăn hết phần đó. Khi ta đã từ bỏ cuộc đời và mọi tham dục ở đời rồi thì lấy trộm là chuyện không đúng đắn, dù chỉ là một củ sen.
Khi các vị kia nghe thấy lời ấy, họ đồng kêu to:
- Ôi thật là một việc ác!
Và tất cả các vị đều lo lắng vô cùng.
Lúc bấy giờ, vị Thần trú trên cây gần am thất ấy, đó là cây cổ thụ lớn nhất rừng, bước ra ngồi giữa các vị. Cũng vậy, có một con voi, không thể nào chịu nổi sự huấn luyện mà không đau đớn, nên phá chiếc cọc ở nơi nó bị trói vào, rồi chạy trốn vào rừng. Thỉnh thoảng, voi thường đi đến kính lễ đám hiền giả này, nên bây giờ nó cũng đến đứng một bên. Có một con khỉ đã được huấn luyện để làm trò với bầy rắn, cũng chạy trốn thoát khỏi tay người huấn luyện rắn vào trong rừng; nó ở tại vùng am thất ấy, nên hôm nay nó cũng đến kính lễ các hiền giả và đứng sang một bên. Thiên chủ Đế- thích quyết tâm thử các vị ẩn sĩ này nên cũng tàng hình đứng cạnh hội chúng.
Lúc ấy, vị em thứ hai của Bồ- tát, ẩn sĩ Upakañcana, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ ngài rồi cúi chào khắp hội chúng và nói như sau:
- Bạch Tôn sư, không kể đến các người kia, tiểu đệ xin được phép thanh minh cho mình khỏi tội này chăng?
- Này hiền đệ, được lắm.
- Nếu đệ đã ăn các củ sen của Tôn huynh, đệ sẽ thành một người như vầy, như vầy.
Và vị ấy trang nghiêm phát nguyện qua vần kệ đầu:
1. Mong nhiều trâu ngựa, lắm kim ngân,
Vợ quý, nó giữ gìn luyến thương,
Mong nó sinh nhiều trai gái đủ,
Kẻ ăn phần trộm của La-môn!
Nghe thế, các vị tu khổ hạnh kia đều đặt tay lên hai tai và kêu to:
- Không, không thưa Tôn giả, lời thề nguyền ấy quả thật nặng nề lắm!
Và Bồ-tát cũng nói:
- Này hiền đệ, lời nguyền của em nặng lắm đấy! Em không ăn phần đó, thôi, ngồi xuống nệm rơm đi.
Vị ấy, sau khi thề nguyện xong, liền ngồi xuống.
Người em thứ ba đứng lên đảnh lễ bậc Đại sĩ và ngâm vần kệ thứ hai để thanh minh cho mình:
2. Mong nó nhiều con, lắm áo quần,
Vòng hoa tay khoác, ngát chiên- đàn,
Tâm tư sôi sục đầy tham dục,
Kẻ trộm phần ngài, hỡi Đạo nhân!
Khi vị ấy ngồi xuống, các vị kia lần lượt ngâm vần kệ. Vị thứ tư:
3 .Mong nó nhiều danh vọng, ruộng vườn,
Nhà kho, con cái, sẵn sàng dâng,
Nó không hiểu tháng năm dần mất,
Kẻ trộm phần ngài, hỡi Đạo nhân!
Vị thứ năm:
4. Mong nó lừng danh đại tướng quân,
Đế vương tối thượng ngự huy hoàng,
Thế gian bốn cõi đều phần nó,
Kẻ trộm phần ngài, hỡi Đạo nhân!
5. Mong nó trở thành một Đạo nhân,
Mà không chế ngự được tham sân,
Chỉ tin tinh tú, ngày lành tốt,
Được hiển vinh nhờ các đế vương,
Hỡi ngài, Tôn giả Bà-la-môn!
Vị thứ sáu:
6. Vệ-đà, mong nó học uyên thâm,
Người quý trọng đức độ Thánh nhân,
Mong nó được muôn người bái phục,
Kẻ ăn phần trộm, hỡi La-môn!
Vị thứ bảy:
7. Ơn trời cho nó được ngôi làng,
Có đủ giàu sang, bốn loại hàng,
Khi chết dục tham không chế ngự,
Kẻ ăn phần trộm, hỡi La-môn!
8. Nó làm lý tưởng, bạn quay quần,
Vũ khúc, hoan ca, nhạc đắm hồn,
Mong nó đầy tràn ơn lộc chúa,
Kẻ ăn phần trộm, hỡi La-môn!
Tiểu muội:
9. Mong nàng làm tuyệt thế giai nhân,
Chúa tể thế gian chọn má hồng,
Chánh hậu giữa muôn người toại ý,
Kẻ ăn phần trộm, hỡi La-môn!
Nô tỳ:
10. Khi mọi nữ tỳ tập hợp xong
Mong nàng oai vệ ngự ngai vàng,
Cao lương mỹ vị đầy ngon ngọt,
Kiêu hãnh vì ân phước của nàng,
Người đã lấy phần ăn trộm đó,
Hỡi ngài, Tôn giả Bà- la- môn
Thần cây:
11. Mong nó bảo tồn viện Kajañ,
Trùng tu quang cảnh đã tiêu tàn,
Hàng ngày làm cửa song nhà mới,
Kẻ trộm phần ngài, hỡi Đại nhân!
Con voi: