Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
Vào dịp lễ Trai giới ngày mười lăm( rằm) trong tháng, hoàng hậu giữ hạnh nguyện Bát quan trai giới và ngồi trầm tư về các công đức trong một cung thất lộng lẫy trên một sàng tọa êm ái. Các cung nữ khác đều ở trong ngự uyển, cầu nguyện sẽ cúng tế đủ loại dê bò. Vì công đức sáng chói của hoàng hậu Sumedhā nên cung điện của Thiên chủ Sakka (Đế- thích) rúng động.
Đế- thích Thiên chủ suy xét và hiểu rằng bà Sumedhā đang cầu tự. “Được rồi, bà sẽ được một hoàng nam. Song ta không thể ban cho bà một hoàng nam này hay một hoàng nam nọ một cách thiếu quan tâm, mà ta muốn đi tìm một vị nào xứng đáng.” Rồi ngài thấy một Thiên tử còn trẻ tên là Naḷakāra( Người đan giỏ).
Chàng có đẩy đủ đức độ thiện hạnh, trong một đời trước đó sống ở Ba- la- nại, thì chuyện này xảy ra cho chàng. Vào mùa gieo hạt, khi chàng ra đồng, chàng gặp một vị Độc Giác Phật. Chàng bảo các tá điền gieo hạt, cúng dường một bữa ăn rồi dẫn vị ấy trở lại bờ sông Hằng. Chàng cùng con trai dựng túp lều, trụ bằng thân cây sung và đan kết lau sậy làm vách tường, gắn cửa vào và dọn một lối đi. Chàng mời vị Độc Giác Phật ở đó suốt ba tháng và khi hết mùa mưa, hai cha con chàng đắp lên Ngài ba chiếc y rồi để Ngài ra đi. Cùng cách ấy, hai cha con thiết đãi đồ ẩm thực bảy vị Độc Giác Phật trong túp lều ấy rồi cúng dường mỗi vị ba chiếc y, xong để các vị ai đi đường nấy.
Vì vậy, dân chúng vẫn kể chuyện hai cha con làm nghề đan giỏ, tìm các cây liễu trên bờ sông Hằng( để lấy gỗ đan giỏ) và hễ khi nào thấy một vị Độc Giác Phật thì họ cúng dường như trước đã nói. Lúc mạng chung, họ được tái sinh vào cõi trời Ba mươi ba, và cứ an trú sáu tầng trời cõi Dục liên tục tới lui theo vòng luân hồi sinh tử, tận hưởng vinh quang tột đỉnh giữa chư Thiên.
Hai vị ấy sau khi mạng chung ở cõi này lại ước mong được lên các Thiên giới cao hơn. Đế- thích Thiên chủ nhận thức rằng một trong hai vị Thiên tử này sẽ thành đức Như Lai, nên Thiên chủ đến cửa cung của hai vị, đảnh lễ vị ấy khi vị ấy đứng lên chào đón Thiên chủ và bảo:
- Thưa Tôn giả, ngài nên sinh vào thế giới loài người.
Song vị Thiên tử bảo:
- Thưa Tôn giả, ngài sẽ được hưởng trọn vẹn mọi lạc thú có thể hưởng được trong nhân giới; ngài sẽ ngự trong một cung điện làm toàn bằng bảo ngọc cao hai mươi lăm dặm. Xin ngài đồng ý cho.
Vị Thiên tử liền chấp thuận. Khi Đế- thích Thiên chủ đã được vị ấy hứa lời rồi, liền giả dạng một hiền nhân giáng xuống ngự viên, xuất lộ nguyên hình vừa bay lượn trên đầu các cung phi này, vừa ca hát:
- Ta sẽ ban diễm phúc cho ai được một nam tử đây? Ai mong được diễm phúc có một nam tử đây?
- Thưa ngài, xin cho con, xin cho con!
Hàng ngàn cánh tay giơ lên. Sau đó Thiên chủ bảo:
- Ta sẽ ban các nam tử cho những người đức độ. Vậy về công đức các nàng làm được những gì? Cuộc đời các nàng, lối sống các nàng ra sao?
Họ đều hạ tay xuống và thưa:
- Nếu ngài muốn thưởng công cho người đức hạnh thì xin ngài đi tìm chánh hậu Sumedhā.
Ngài liền bay qua không gian và dừng lại ở cửa sổ cung thất của bà. Khi đó, đám cung nữ đến trình với bà:
- Tâu lệnh bà, một vị Thiên chủ đã bay qua không gian và đứng ngay tại cửa sổ cung thất lệnh bà để ban cho lệnh bà diễm phúc được một vương tử.
Bà liền đến đó đón ngài vô cùng trọng thể. Vừa mở cửa sổ ra, bà vừa hỏi:
- Tâu Thiên chủ, tiện thiếp trộm nghe rằng ngài sẽ ban diễm phúc cho một nữ nhân đức hạnh được một nam tử, có đúng vậy chăng?
- Đúng vậy, ta sẽ làm như thế.
- Vậy xin ngài làm ơn ban cho tiện thiếp diễm phúc ấy.
- Hãy cho ta biết, Chánh hậu đã tạo được công đức gì, rồi nếu Chánh hậu làm đẹp ý ta, ta sẽ ban cho diễm phúc ấy.
Bà liền ngâm mười lăm vần kệ này nêu rõ công đức của mình:
1. Thiếp là Chánh hậu chúa Suruci,
Vương hậu đầu tiên chúa cưới về,
Với chúa Suruci vạn tuế,
Thiếp đã sống trọn đạo hiền thê.
Là chính kinh thành của quốc gia,
Thiếp chẳng hề xem thường thánh ý,
Chẳng chê ngài thấp kém, sai ngoa,
Dù sau lưng chúa , hay ngoài mặt.
Về khẩu, ý, thân, đủ cả ba.
3. Thánh giả, điều này nếu thật chân,
Cầu mong vương tử được ngài ban;
Còn khua môi thiếp toàn hư vọng,
Bảy mảnh đầu này phải vỡ tan.
4. Phụ hoàng, mẫu hậu của vương quân,
Hai đấng sinh thành ngự trị dân,
Trong lúc các ngài còn tại thế,
Vẫn thường dạy thiếp đạo hiền nhân.
5. Thiếp ước không làm hại mạng ai,
Quyết làm hành động chánh chân hoài,
Ân cần tận tụy hầu hai vị,
Không mệt mỏi cho dẫu tối ngày.
6. Thánh giả, điều này nếu thật chân,
Cầu mong vương tử được ngài ban;
Còn khua môi thiếp toàn hư vọng,
Bảy mảnh đầu này phải vỡ tan.
7. Thứ phi sau thiếp cứ tăng dần,
Mười sáu ngàn không thiếu một nàng,
Tuy thế chẳng hề, thưa Thánh giả,
Xảy hờn ghen giữa đám hồng quân.
8. Thiếp mừng khi chúng được an lành,
Với mọi cung phi, thắm thiết tình,
Lòng thiếp nhân từ cùng tất cả,
Khác nào đối với bản thân mình.
9. Thánh giả, điều này nếu thật chân
Cầu mong vương tử được ngài ban;
Còn khua môi thiếp toàn hư vọng,
Bảy mảnh đầu này phải vỡ tan.
Tất cả nơi đây ở hợp quần,
Thiếp đối ân cần ban thực phẩm,
Tươi cười nét mặt, tạo hân hoan.
11. Thánh giả, điều này nếu thật chân
Cầu mong vương tử được ngài ban;
Còn khua môi thiếp toàn hư vọng,
Bảy mảnh đầu này phải vỡ tan.
12. Các nhà ẩn sĩ, Bà- la- môn,
Hễ thấy người nào đến khẩn van,
Thiếp đãi uống ăn đều khắp cả,
Đôi bàn tay rửa sạch hoàn toàn.
13. Thánh giả, điều này nếu thật chân
Cầu mong vương tử được ngài ban;
Còn khua môi thiếp toàn hư vọng,
Bảy mảnh đầu này phải vỡ tan.
14. Vào ngày mồng tám, nửa tuần trăng,
Mười bốn, mười lăm, các buổi rằm,
Thiếp vẫn chuyên tâm trì giới luật,
Bước theo Thánh đạo của hiền nhân.
15. Thánh giả, điều này nếu thật chân
Cầu mong vương tử được ngài ban;
Còn khua môi thiếp toàn hư vọng,
Bảy mảnh đầu này phải vỡ tan.
Qủa thật, dù cả trăm, cả ngàn câu kệ cũng không đủ lời tán thán mọi công đức của bà; tuy thế, Đế- thích Thiên chủ cứ để cho bà tự tán thán trong mười lăm vần kệ này. Ngài cũng không ngắt ngang câu chuyện, mặc dù ngài còn nhiều việc phải làm ở nơi khác. Sau đó, ngài bảo:
- Công đức của Chánh hậu thật là kỳ diệu và sung mãn tràn trề thay!
Rồi ngài ngâm hai vần kệ ca ngợi bà:
16. Nương nương hỡi, Chánh hậu Huy Hoàng,
Công đức này cao trọng thập toàn
Đều thấy trong nàng, này Chánh hậu,
Chính nàng ca ngợi đại danh nàng.
Muôn vẻ vinh quang, trí vẹn toàn,
Đại đế Videha chánh trực,
Sắp ra đời đó chính con nàng.
Khi bà nghe những lời này, bà vô cùng hoan hỉ ngâm hai vần kệ để hỏi Thiên chủ:
18. Bụi bẩn, lấm lem tóc rối bồng,
Hình ngài lơ lửng ở trên không,
Nói bằng một giọng đầy thân ái,
Làm thiếp cảm rung tận cõi lòng.
19. Có phải ngài Thiên đế đại hùng,
Trên trời ngài ngự, hỡi hiền nhân?
Xin cho thiếp biết từ đâu đến,
Cho biết là ai đó giáng trần?
Thiên chủ đáp lời bà qua sáu vần kệ:
20. “Thiên nhãn Sakka” nàng thấy đây,
Vì Thiên chúng vẫn gọi như vầy,
Nhưng khi Thiên chúng đều đoàn tụ
Trong Thiện pháp đường mỹ diệu thay.
21. Khi nữ nhân hiền đức vẹn toàn,
Tại đây được thấy giữa trần gian,
Chánh chân nội tướng đầy nhân ái
Với mẹ chồng, như phận sự nàng.
22. Khi chư Thiên biết một hồng nhan,
Lòng trí cao minh, nghiệp thiện toàn,
Dù nữ nhi, mà từ thượng giới,
Thiên chúng đích thân đến với nàng.
23. Giữ đời đức hạnh, hỡi nương nương,
Nhờ tích trữ toàn việc thiện lương,
Công chúa xuất thân, đà đạt được
Trọn niềm hạnh phúc vẫn cầu mong.
24. Vậy nàng gặt hái nghiệp duyên nàng
Bằng cảnh huy hoàng ở thế gian,
Công chúa, về sau trên thượng giới
25. Nữ nhi hiền đức, hưởng hồng ân,
Cứ sống giữ gìn hạnh chánh chân,
Nay lúc ta cần về thượng giới,
Vui mừng vì diện kiến tôn nhan.
Ngài bảo:
- Ta còn việc phải làm trên thiên giới. Vậy ta đi đây, còn nàng hãy chuyên tâm tinh cần.
Cùng với lời khuyên nhủ này, ngài ra về.
Tảng sáng hôm ấy, Thiên thần Naḷakāra được nhập mẫu thai của hoàng hậu. Khi bà biết chuyện ấy, bà liền tâu với vua.Vua làm đủ mọi việc cần biết cho một thai phụ. Sau mười tháng, bà sinh hạ một vương tử, hai vị đặt tên là Mahāpanāda. Toàn dân của hai quốc độ đều đến kêu lên:
- Tâu Chúa thượng, chúng hạ thần xin mang tiền mua sữa tới tặng hoàng thái tử.
Rồi mỗi người thả một đồng vàng vào trong sân chầu thành một đống tiền lớn.
Vua không muốn nhận tiền này, nhưng dân chúng không chịu lấy lại, và tâu với vua khi họ ra về:
- Tâu Chúa thượng, số tiền này để dành cấp dưỡng vương tử khi ngài lớn lên.
Vương nhi lớn lên giữa cảnh huy hoàng và khi chàng đến tuổi trưởng thành, không quá mười sáu, chàng đã kiện toàn tất cả mọi môn học thuật.
Vua nghĩ đến tuổi trưởng thành của chàng, bảo hoàng hậu:
- Này ái hậu, khi đến thời làm lễ quán đảnh cho hoàng nhi, ta hãy xây cho con ta một cung điện tuyệt đẹp vào dịp đó.
Bà thỏa thuận hoàn toàn. Vua liền cho triệu các người có tài đoán biết nơi chốn an lành để xây cung điện và họ bảo:
- Này các hiền hữu, hãy tìm một kiến trúc sư thượng thủ và xây cho ta một cung điện không xa cung ta. Cung này dành cho hoàng tử mà chúng ta sắp phong vương để kế vị ta đó.
Họ tâu rằng việc ấy tốt lành thay và bắt đầu đi vào khảo sát mặt đất.
Lúc ấy, chiếc ngai của Đế- thích Thiên chủ nóng rực lên. Nhận thấy điều này, Thiên chủ lập tức triệu Vissakamma, vị Thiên thần chuyên xây dựng đến và bảo:
Vissakamma liền giả dạng thợ hồ đi đến gần đám thợ kia bảo:
- Hãy đi ăn sáng xong rồi trở về đây.
Sau khi họ đi khuất cả rồi, vị ấy lấy cây gậy đập xuống đất, lập tức một cung điện hiện ra cao bảy tầng đúng kích thước như trên.
Bấy giờ, triều đình cử hành liên tiếp ba đại lễ cho thái tử Mahāpanāda: lễ khánh thành cung điện, lễ giương chiếc lọng hoàng gia trên đầu chàng( lễ phong vương) và lễ thành hôn cho chàng. Trong thời gian hành lễ, toàn dân cả hai xứ tụ tập lại tổ chức hội hè yến tiệc suốt bảy năm mà vua cũng không giải tán quần chúng. Xiêm y, đồ trang sức, đồ ẩm thực và mọi thứ khác hoàng gia đều cung cấp đầy đủ cả.
Sau bảy năm ấy, dân chúng bắt đầu càu nhàu than phiền và vua Suruci hỏi tại sao, họ đáp:
- Thưa Đại vương, trong lúc chúng hạ thần mãi vui chơi hội hè đình đám thì bảy năm đã trôi qua. Thế khi nào thì lễ hội này mới chấm dứt?
Vua đáp:
- Này các hiền hữu, suốt thời gian qua, vương nhi chua hề một lần nào cười cả. Vậy khi nào vương nhi cười thì ta sẽ giải tán.
Sau đó, dân chúng đi đánh trống và tập hợp các người làm trò múa rối, nhào lộn lại với nhau. Hàng ngàn người diễn trò kéo đến và chia nhau thành bảy ban ca múa, nhưng họ không thể nào làm vương tử cười được. Rõ rang chàng là một người đã từng xem múa hát của các vũ thần chốn Thiên đình rồi thì không thể nào ham thích được các vũ công hạ giới như thế này.
Sau đó, hai tên hề múa rối lanh lợi xuất hiện, đó là Bhandukaṇṇa và Pandukaṇṇa tức Tai Cụt và Tai Vàng. Chúng tâu:
- Chúng tiểu thần sẽ làm cho hoàng tử cười.
Bhandukaṇṇa liền hóa phép ra một cây xoài vĩ đại, mà gã gọi là “Vô song địch,” mọc lên trước cửa cung, sau đó gã ném ra một cuộn dây làm cho nó mắc vào một cành xoài rồi gã trèo lên cây xoài Vô song địch ấy.
Thời bấy giờ người ta bảo cây xoài Vô địch ấy là của Vessavaṇa ( Tỳ- sa- môn Thiên Vương). Bọn nô lệ của thần Vessavaṇa bắt lấy gã, như thường lệ, chặt ra từng khúc và thả xuống đất. Bọn người làm trò ảo thuật kia ghép các khúc đó lại và tưới nước lên. Gã đó liền choàng mớ xiêm y cả bên trong