Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
- Đại vương và chánh hậu đã rời thành đi theo hội chúng tu khổ hạnh, vậy bây giờ ta phải làm gì?
Từ đó về sau, dân chúng rời bỏ nhà cửa cùng các đồ vật trong đó, và ra đi, đem theo con cái, các tiệm buôn bán mở rộng cửa hàng, song chẳng ai buồn quay lại nhìn chúng nữa, cả kinh thành trống vắng không một bóng người.
Và chánh hậu cùng với đoàn người hộ tống dài cả ba trăm dặm đường đi đến cùng nơi chốn ấy như các vị trước đây. Với hội chúng này, Tôn giả Hatthipāla cũng đứng ở trên không và thuyết pháp; rồi sau đó cùng toàn thể dân chúng dài hơn mười dặm khởi hành về hướng Tuyết sơn.
Toàn quốc độ Kāsi náo loạn, la hét vang lừng. Câu chuyện nam tử Hatthipāla đã làm cho kinh thành Ba-la-nại trống vắng bằng cách nào, với hội chúng dài hơn cả mười hai dặm đường chàng ra đi về vùng Tuyết sơn ra sao để theo sống đời tu khổ hạnh, dân chúng bảo nhau:
- Thế thì hiển nhiên chúng ta càng nên làm việc ấy!
Cuối cùng, hội chúng này cứ tăng dần đến độ chiếm cả ba mươi dặm đường, rồi vương tử cùng cả đại chúng ấy đi đến Tuyết sơn.
Sakka (Đế-thích) Thiên chủ trong lúc xét suy, đã nhận biết mọi việc đang xảy ra. Ngài suy nghĩ: “Vương tử Hatthipāla đã làm Đại sự xuất thế; quần chúng đông đúc lắm, như thế chúng phải có nơi cư trú” Ngài liền ra lệnh cho Thiên sứ Vissakamma (Thần xây dựng):
- Này hiền hữu, hãy ra đi xây dựng vùng am tu dài ba muơi sáu dặm và rộng ba mươi lăm dặm, rồi thâu góp về đó tất cả mọi thứ cần dùng cho các vị tu hành.
Vị này tuân lệnh, và dựng bên bờ sông Hằng ở một nơi mát mẻ dễ chịu cả một vùng am thất theo đúng tầm cỡ cần dùng, chuẩn bị trong các am đầy đủ nệm rơm lót bằng cánh lá cây, lại để sẵn sàng mọi vật dụng cần thiết cho các người tu hành. Mỗi am đều có các cửa ra vào, một chốn đi dạo mát, có chỗ ở riêng biệt dùng cho ban ngày và ban đêm, tất cả đều được quét vôi trắng sạch sẽ sáng sủa, lại có thêm các trường kỷ để nghỉ ngơi. Đó đây rải rác đủ loại trái cây trổ hoa chi chít trên cành khoe đủ sắc hương ngào ngạt.
Khi thiên sứ Vissakamma đã xây xong khu ẩn cư và cung cấp cho các thảo am đủ mọi vật cần thiết, vị ấy ghi các hàng chữ bằng son đỏ trên bức tường: “ Ai muốn sống đời tu tập xin mời đến chỗ các vật dụng này.” Sau đó, vị ấy dùng thần lực xua đuổi ra khỏi vùng ấy mọi thứ tiếng kêu kỳ quái, mọi ác điều và mãnh thú, những loại phi nhân rồi trở về cõi của mình. Tôn giả Hatthipāla chợt thấy vùng ẩn am này là tặng vật của Đế- thích Thiên chủ, ngài đi theo con đường mòn và thấy phiến đá ghi chữ kia. Ngài nghĩ thầm: “Đế -thích Thiên chủ hẳn đã nhận thấy ta vừa làm đại sự xuất thế.” Ngài mở một cánh cửa và bước vào am, cầm lên những vật dụng dành cho người tu khổ hạnh; ngài lại bước ra đi dọc theo chốn dạo chơi,và quanh quẩn đó đây vài lần. Sau đó, ngài thâu nhận cả hội chúng vào nếp sống tu hành,và đi quan sát cả vùng ẩn cư ấy. Ngài để dành phần giữa là cho phụ nữ có con thơ, phần kế đó cho các bà già, phần kế nữa cho các phụ nữ không có con cái gì,còn các am thất khác ở chung quanh đều dành cho nam giới. Thế rồi một hôm,vị vua kia nghe tin đồn là không có vua cai trị vì Ba-la-nại liền đi xem và thấy cả kinh thành được trang hoàng rực rỡ với nhiều báu vật. Bước vào cung điện,vua ấy thấy vàng bạc nằm ngổn ngang từng đống.Vị ấy bảo:
- Kìa, rời bỏ kinh thành như thế này để trở thành người tu hành ngay khi cơ duyên tốt lành vừa đến, thật là một việc cao cả thay!
Vị vua ấy vừa hỏi đường một anh chàng say rượu nào đó, liền đi tìm Tôn giả Hatthipāla. Khi Hatthipāla nhận biết vị vua ấy đã đến ven rừng, liền bước ra đón mừng, vừa trên không vừa thuyết pháp cho toàn hội chúng mới. Sau đó, ngài dẫn đám người ấy vào rừng ẩn cư, tiếp nhận cả đoàn vào hội chúng tu tập. Cùng cách trên, sáu vị vua khác gia nhập vô đây. Bảy vị vua này đều từ bỏ mọi phú quý vinh quang. Chốn ẩn cư này rộng cả ba mươi sáu dặm cứ đông đúc dần dần. Mỗi khi có một vị đạo nhân nào khởi tư tưởng tham dục hay các tưởng tượng như thế, ngài thường thuyết pháp cho vị đó và giảng dạy hội chúng tư duy về công hạnh viên mãn (Các hạnh Ba-la-mật) và thiền định, nên dần dần các vị này tu tập pháp môn nhập định. Hai phần hội chúng được tái sanh vào cảnh giới Phạm thiên, còn một phần ba lại
*
Trên đảo Tích Lan(Ceylon) này, các vị đã làm Đại sự xuất thế là Trưởng lão Dhammagutta, vị này đã làm cho địa cầu chấn động. Trưởng lão Phussadeva, một thị dân của thành Uparimaṇḍalakamalaya; Trưởng lão Malayamahādeva từ vùng Bhaggiri; Trưởng lão Mahāsī, từ vùng Vāmantapabbhāra; Trưởng lão Mahānāga từ vùng Kāḷavallimaṇḍapa; các vị trong hội chúng của ngài Kuddāla, Mūgapakkha, Cullasutasoma, của Hiền giả Ayoghara và cuối cùng của tất cả hội chúng Hatthipāla
Do vậy, bậc Thế Tôn bảo:
- Hãy vội làm việc lành, các vị sẽ được an lạc! Nghĩa là an lạc chỉ đến với ta nếu ta vận dụng hết công sức mình.
*
Khi Pháp thoại này chấm dứt, bậc Đạo sư bảo:
- Như vậy, này các Tỷ-kheo, ngày xưa Như Lai làm Đại sự xuất thế cũng như bây giờ.
Nói xong, Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy phụ vương Suddhodana (Tịnh Phạn) là vua Esukārī, mẫu hậu Mahāmāyā là vị chánh hậu kia, Kassapa(Ca-diếp) là vị tế sư, Bhaddakāpilānī là vị phu nhân, Anuruddha (A-na-luật-đà) là Ajapāla, Moggallāna (Mục-kiền-liên) là Gopāla, Sāriputta(Xá-lợi-phất) là Assapāla, hội chúng của đức Phật là toàn thể đám người kia và Ta chính là Hiền giả Hatthipāla.
(TIỀN THÂN AYOGHARA)
Mầm sống một khi nhập tử cung…
Câu chuyện này bậc Đạo sư kể về Đại sự xuất thế của Ngài.Tại đây, một lần nữa, Ngài bảo:
-Này các Tỷ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên Như Lai làm Đaị sự xuất thế,vì trước kia Như Lai cũng đã làm như thế.
Và Ngài kể cho Tăng chúng một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại,bà chánh hậu thọ thai; đến thời mãn nguyệt khai hoa, bà sinh một vương tử ngay sau buổi rạng đông. Bấy giờ, trong một đời trước có một phụ nữ khác cũng lấy chồng chung với bà, đã thốt lời thề rằng nàng sẽ tìm cách ăn thịt hài nhi của bà đời sau. Chuyện kể lại,vì nàng không sinh sản gì nên đem lòng tức giận cả hai mẹ con bà thuở ấy, mới thốt lên lời nguyền như trên. Bởi duyên cớ đó, nàng tái sinh thành một quỷ cái. Còn người mẹ kia, nay trở thành chánh hậu và sinh hạ hoàng nam này. Con quỷ cái ấy tìm cơ hội hiện hình khủng khiếp chụp lấy hài nhi ngay trước mặt người mẹ và mang đi mất. Hoàng hậu thét lên vang lừng:
- Một con quỷ đã bắt hoàng nam của ta rồi!
Con quỷ kia nhai ngấu nghiến trệu trạo đứa hài nhi như ăn một củ hành sống, rồi nuốt chửng hết. Sau đó, nó lại biến hóa tay chân ra đủ hình dạng để đe dọa cho hoàng hậu kinh hoảng lên, rồi biến đi. Khi vua hay tin dữ ấy, ngài câm lặng không nói gì được, ngài suy nghĩ: “Còn biết làm sao chống chọi lại con quỷ cái kia chứ?”
Lần kế tiếp, hoàng hậu lâm bồn, vua sắp đặt quân canh phòng bên mình bà. Bà hạ sinh một vương tử nữa, con quỷ ấy lại đến vồ lấy đứa bé ăn thịt rồi biến mất.
- Hễ hoàng nhi nào do chánh hậu của trẫm sinh ra đều bị một con quỷ cái đến vồ lấy ăn thịt. Vậy phải làm sao bây giờ?
Sau đó, có người tâu:
- Bọn quỷ rất sợ lá thốt nốt, chúa thượng nên cho buộc một ngọn lá ấy vào tay chân hoàng hậu.
Một kẻ khác lại tâu:
- Bọn quỷ cũng sợ cái nhà bằng sắt. Vậy phải dựng lên một cái.
Nhà vua chấp thuận. Ngài triệu tập tất cả thợ rèn trong quốc độ ngài và ra lệnh dựng cho ngài một cái nhà bằng sắt, và cho người giám sát công việc của họ. Ngay trong kinh thành, tại một địa điểm khả ái, họ xây lên một ngôi nhà có cột trụ và mọi bộ phận trong nhà không gì khác ngoài sắt; trong chín tháng ngôi nhà được hoàn tất, thật là một lâu đài vững chắc kiên cố, được đèn chiếu sáng suốt ngày đêm không bao giờ ngưng cả.
Khi vua biết rằng hoàng hậu sắp mãn nguyệt khai hoa, ngài truyền lệnh sắp đặt tiện nghi đầy đủ mọi quý tướng tốt lành, và hai vị đặt tên con là Ayoharakumāra hay vương tử Thiết thất (Vương tử ở trong ngôi nhà sắt)
Vua giao hài nhi cho các nhũ mẫu trông nom, lại sắp đặt một đội vệ sĩ hùng hậu giữ quanh lâu đài ấy, trong khi ngài cùng chánh hậu đi diễu quanh kinh thành hướng về phía hữu, rồi ngự lên thượng lầu nguy nga lộng lẫy của hoàng cung. Đồng thời, con quỷ cái vì cần uống nước đã đi tìm thứ nước của Thiên Vương Vessavaṇa(Tỳ-sa-môn) nên bị giết.
Trong ngôi nhà sắt kia, bậc Đại sĩ lớn lên cùng với trí khôn phát triển dần, ngài được dạy đủ mọi môn học thuật cũng tại nơi đó cả.
Vua hỏi các triều thần:
- Nay vương nhi đã mấy tuổi rồi?
Hội chúng đáp:
- Tâu chúa thượng, vương tử vừa lên mười sáu. Thật là một trang anh hùng đầy dũng lực cường tráng đủ để chế ngự cả ngàn con quỷ kia!
Vua liền quyết định giao vương quyền vào tay vương tử. Ngài ra lệnh cho kinh thành trang hoàng rực rỡ, truyền bảo rước vương tử ra khỏi ngôi nhà sắt đến triều kiến ngài. Quần thần tuân lệnh. Toàn thành Ba-la-nại được
- Tâu Điện hạ, xin Điện hạ ngự du một vòng theo phía hữu quanh kinh thành đang nô nức mở hội này, đây chính là giang sơn sự nghiệp của Điện hạ, sau đó sẽ đến đảnh lễ đấng Hoàng thượng là Đại vương quốc độ Kāsi vì hôm nay chính là ngày Điện hạ đón nhận chiếc lọng trắng. Bậc Đại sĩ ngự đám rước ngài diễn quanh khinh thành theo về phía bên hữu, ngài thấy các hoa viên tuyệt mỹ, đủ màu sắc xinh tươi với hồ nước, các thửa ruộng,vườn cây, nhà cửa phố xá khắp nơi đều đẹp mắt,ngài tự nhủ thầm: “ Tất cả cảnh sắc thế này mà trong bao lâu vương phụ lại giam giữ ta rất cẩn mật, chẳng hề cho ta thấy kinh thành được trang hoàng rực rỡ như thế kia. Ta đã có lỗi gì vậy?” Ngài liền đem cậu ấy hỏi các triều thần. Hội chúng đáp:
-Tâu Điện hạ ngài chẳng có lỗi gì. Song có một con quỷ cái đã xé xác ăn hai vương huynh của ngài mất đi nên đức Thượng hoàng cho ngài ở trong ngôi nhà sắt và chính ngồi nhà sắt ấy đã cứu mạng ngài. Những lời này lại làm ngài suy nghĩ: “ Suốt mười tháng ta đã ở trong bụng mẹ, chắc hẳn có khác gì cái địa ngục hình Chảo Sắt( Thiết Oa địa ngục) hay Địa ngục phân dơ ( Phẩn Nị địa ngục) đâu, rồi khi ta ra khỏi bụng mẹ, cả mười sáu năm trời nay ta sống trong ngục thất kia, không bao giờ có cơ hội nhìn ra ngoài. Mặc dù ta đã thoát được đôi bàn tay của con quỷ kia, ta vẫn không sao thoát được tuổi già và thần chết. Vậy ta sẽ xin phép phụ vương đi theo đời sống tu hành,và ta sẽ lên vùng Tuyết sơn để thực hiện ước nguyện.”
Như vậy, sau khi ngài dự đám lễ hội rước ngài ngự quanh kinh thành xong, ngài vào hoàng cung, đảnh lễ phụ vương và đứng chờ lệnh. Vua ngắm dung sắc tuyệt mỹ của ngài, lại nhìn đến đám quần thần với tấm lòng yêu thương mãnh liệt bừng lên trong đôi mắt. Quần thần hỏi:
- Tâu Chúa thượng, Chúa thượng muốn truyền cho chúng thần làm gì?
- Các hiền khanh hãy đưa vương nhi ngự lên một đám trân châu báu ngọc, làm lễ quán đảnh cho vương nhi với nước từ ba vỏ ốc xà cừ, xong rồi giương chiếc lọng trắng viền tua vàng lên che cho vương nhi.
Song bậc Đại sĩ đảnh lễ phụ vương và thưa trình:
- Tâu phụ vương, con không muốn liên hệ gì với vương triều nữa. Con
- Này vương nhi, tại sao con lại muốn rời bỏ vương vị và sống theo đời tu khổ hạnh?
- Tâu phụ vương, suốt mười tháng con nằm trong bụng mẹ chẳng khác nào Địa ngục phân dơ; khi đã sinh ra đời, vì sợ con quỷ dữ mà con phải sống trong cảnh giam cầm, chẳng bao giờ có cơ hội nhìn ra ngoài. Con thấy giống như bị nhốt vào ngục Ussada (Ngục có thanh sắt bao bọc). Nay đã thoát nạn quỷ cái ấy, song con chẳng bao giờ thoát được tuổi già và cái chết, vì không ai có thể chiến thắng thần chết cả. Con nhàm chán sự sinh ra đời rồi. Vậy trước khi già, bệnh, chết kéo đến với con, con quyết theo đời người tu hành, tiến bước trong chánh hạnh. Con không muốn ngai vàng dành cho con đâu. Tâu phụ vương, xin phụ vương ban ơn chấp thuận cho con đi.
Rồi ngài thuyết pháp cho thân phụ như vầy:
1. Mầm sống, một khi nhập tử cung,
Mới vừa khởi sự bước đầu xong,
Nó liền tiến mãi hoài liên tục,
Sinh mệnh dòng kia chẳng thể dừng.
2. Không một quyền năng, chẳng lực hùng
Giúp người tránh lão tử sau cùng,
Mọi loài khổ lụy vì sinh lão,
Con quyết tìm thanh tịnh bản thân.
3. Đại vương chiến thắng bởi hùng binh,
Bốn đạo quân nhìn thật đáng kinh,
Sao chẳng phá tan quân Diêm chúa,
Nên con nguyền phạm hạnh phần mình.
4. Dù mã, tượng, xa với đạo quân
Vây quanh, vài kẻ thoát nhanh chân,
Song không ai thoát tay thần chết,
Con quyết đời thanh tịnh để phần.
5. Với mã, tượng, xa, các đạo binh,
Anh hùng tiêu diệt thảy tan tành,
Song không thấy có người nào đủ
Sức mạnh phá tan được tử hình,
Cuộc đời phạm hạnh để cho mình.
8. Voi điên, da đẫm ướt trên đường,
Phố xá giẫm tan, giết hại dân,
Song chẳng thấy người đầy thế lực
Giẫm ta, tiêu diệt tử ma vương,
Cho nên con quyết lòng tu tập
Thanh tịnh đời riêng với bản thân.
7. Xạ thủ đại hùng, thiện xảo thay,
Bắn như tia chớp tự xa bay,
Song con không thấy người thừa sức
Làm tổn thương được thần chết này,
Vì thế lòng con giờ quyết định
Theo đời thanh tịnh để phần đây.
8. Rừng núi, hồ sông với thạch bàn,
Không lâu để sụp đổ điêu tàn,
Đúng thời, vạn vật thành không cả,
Con quyết đời thanh tịnh bước đàng.
9. Giống như cây ở mé bờ sông,
Bán áo, người say đổi rượu nồng,
Cuộc sống muôn loài đều khổ cả,
Nên con quyết phạm hạnh riêng phần.
10. Tứ đại rã tan, chúng lụi dần,
Trẻ già, nam nữ, cả nhân quần,
Ngã như trái rụng vì cây đổ,
Con quyết đời thanh tịnh bản thân.
11. Xuân của thế gian khác nữ thần,
Ngự trên tinh tú ấy cô Hằng
Chẳng bao giờ tuổi xuân về nữa
Đối với lão niên kiệt quệ dần,
Lạc thú ái ân nào có được,
Nên con quyết phạm hạnh riêng phần.
12. Ác quỷ thần tiên, lúc nổi sân
Phun luồng khí độc hại phàm nhân,
Chẳng giúp vào xô ngã tử thần,
Vì vậy lòng con giờ đã quyết
Cuộc đời thanh tịnh để riêng phần.
13. Khi ác thần, yêu quái quỷ tinh
Nổi sân, được vuốt dịu làm lành,
Do người cúng bái, song không thể
Làm tử thần tan hết bất bình,
Vì vậy giờ đây con quyết định
Cuộc đời thanh tịnh để phần mình.
14. Những người gây tội ác, hung tàn,
Khi lộ bị hình phạt chúa ban,
Song với tử thần, không thể phạt,
Nên con nguyền phạm hạnh lên đàng.
15. Những người gây tội ác đau thương,
Tìm cách cản tay các đế vương,
Song với tử thần tay lưỡi hái
Việc này xem quả thật vô phương,
Cho nên con quyết giờ đây chọn,
Thanh tịnh đời con tiến thẳng đường.
16. Quân vương, võ tướng, Bà-la-môn,
Những kẻ mang danh vị tối hôn,
Những đại phú gia, người thế lực
Tử thần cũng chẳng rũ lòng thương,
Cho nên con quyết từ đây sống
Phạm hạnh đời con đã chọn đường.
17. Cọp, beo, sư tử chụp con mồi,
Tất cả đều ăn sống nuốt tươi,
Cho dẫu con mồi mong giãy giụa,
Tử thần đâu sợ hổ, sư nhai.
Cho nên con trẻ từ đây quyết
Phạm hạnh riêng con sống cả đời.
18. Kẻ xiếc trên sân khấu lộn sòng
Diễn trò lừa bịp mắt người trông,
Thánh hạnh đời con đã quyết lòng.
19. Nọc độc rắn rồng lúc nổi sân
Tấn công, giết lập tức người trần,
Nọc kia, thần chết không hề sợ,
Thanh tịnh đời con quyết chọn phần.
20. Nanh độc rắn dùng lúc nổi sân,
Vị lương y có đủ tài năng
Làm tiêu tan hết xà công lực,
Song chữa vết thương của tử thần
Không một anh hùng nào đủ sức,
Nên con quyết hạnh phạm riêng phần.
21. Lương y chữa nọc rắn tài tình,
Đã chết, giờ đây khuất bóng hình,
Bố-giạ, Vệ-tài, Đa-mẫn nữa,
Nên con quyết phạm hạnh cho mình.
22. Vài kẻ tinh thông thuật, chú thần,
Tàng hình đi trước mặt tha nhân,
Tuy nhiên không thể tàng hình mãi,
Mà tử thần trông thấy vẫn gần,
Vì vậy lòng con nay quyết định
Cuộc đời thanh tịnh để riêng phần.
23. Bất cứ ai theo hạnh phúc chánh chân
Đều là người được hưởng bình an,
Khéo hành chánh đạo nhiều công đức,
Hạnh phúc thay là bậc chánh nhân!
Chẳng bao giờ có người chánh hạnh
Rơi vào trong đọa xứ đau buồn.
24. Đúng chăng nghiệp quả của riêng mình
Đều phải do tà, chánh phát sinh?
Tà hạnh dẫn người vào địa ngục,
Chánh chân đưa đến cõi Thiên đình.
Khi bậc Đại sĩ đã thuyết pháp như vậy qua hai mươi bốn vần kệ xong, ngài tiếp:
Sau đó, chẳng khác nào con voi điên cuồng bật tung xiềng xích bằng sắt, hoặc chú sư tử nhỏ bé phá vỡ chiếc lồng vàng, ngài đập tan mọi dục vọng phàm tục trong lòng và đảnh lễ song thân rồi ra đi.
Tiếp theo đó, phụ vương của ngài phán:
- Ta cũng không thiết ngai vàng quốc độ nữa!
Rồi vua cha từ giã thế sự, ra đi cùng ngài. Khi các ngài đi rồi, chánh hậu, đám triều thần Bà-la-môn, các gia chủ cùng mọi người khác trong kinh thành đều bỏ nhà cửa ra đi hết.
Thế là một đoàn đại chúng trải dài ba mươi hai dặm đường, cùng với đám đông này, ngài tiến về phía Tuyết sơn.
Khi Sakka Thiên chủ (Đế-thích) biết rằng ngài đã xuất gia, liền sai Thiên sứ đi xây dựng một vùng am thất trải dài cả mười hai dặm, bề rộng bảy dặm và truyền bảo vị ấy đem vào đó mọi thứ cần thiết cho cuộc đời tu tập khổ hạnh. Cách thức bậc Đạo sĩ tiếp tục thâu nhận đám người này vào hội chúng xuất gia của ngài và thuyết giáo cho hội chúng, sau đó hội chúng được sinh lên Phạm thiên giới hay chứng đắc quả Tam quả Bất Lai như thế nào, tất cả đều diễn ra giống như trước kia.
Khi Pháp thoại này chấm dứt, bậc Đạo sư bảo:
- Như vậy này các Tỷ-kheo, trước kia Như Lai cũng đã làm Đại sự xuất thế.
Sau đó, Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, song thân của vương tử kia là phụ hoàng và mẫu hậu ngày nay, hội chúng của đức Phật là đám thần dân và Ta chính là Hiền giả Ayoghara (Thiết Thất)