Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
PHẨM BỐN MƯƠI BÀI KỆ
521. CHUYỆN BA CON CHIM
(TIỀN THÂN TESAKUṆA)
Điều này cha muốn hỏi Vessan…
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên, về việc giáo giới vua Kosala.
Bấy giờ, vị vua này đến nghe thuyết pháp và bậc Đạo sư bảo vua như sau:
-Thưa Đại vương, một vị vua phải cai trị vương quốc chân chánh, vì bất cứ khi nào các quân vương bất chánh thì quần thần cũng bất chánh theo.
Và khi giáo giới vua theo chánh đạo như đã kể trong Chương bốn, Ngài nêu ra những khổ đau liên hệ đến việc theo ác đạo, hoặc hạnh phúc liên hệ đến việc từ bỏ ác đạo và trình bày đầy đủ chi tiết nỗi bất hạnh phát sinh từ dục lạc; vừa so sánh dục lạc với cơn mộng hoặc đại loại như thế, Ngài vừa bảo:
- Trong trường hợp những người ở đời này:
Không bạc tiền mua chuộc được Tử thần,
Không từ tâm làm lắng dịu Ma quân,
Không ai thắng trong chiến trường Thần chết,
Vì tất cả đều có ngày tiêu diệt.
Và khi bước sang thế giới bên kia, trừ các thiện nghiệp công đức của riêng mình, con người không có một nương tựa vững chắc nào khác. Vì vậy, con người cần phải từ bỏ các mối quan hệ hạ liệt và vì thanh danh của mình, con người không được buông lung, phóng dật mà phải tinh cần thực hành giới luật chân chánh, giống như các vị vua ngày xưa, trước khi đức Phật ra đời, đã an trú vào lời dạy của các bậc trí, cai trị đúng pháp và lúc từ trần đạt đến cõi Thiên.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại không có con kế vị, và lời vua cầu xin vương tử hoặc công chúa đều không được đáp ứng. Bấy giờ, một hôm, vua cùng đám quần thần hộ tống đông đảo đến ngự viên, và sau khi du hí nửa ngày trong vùng ấy, ngài bảo trải sàng tọa cho ngài nằm dưới gốc cây sāla vương giả. Sau một giấc ngủ trưa ngắn, ngài thức dậy và nhìn lên cây sāla, ngài thấy một tổ chim trên đó. Vừa chợt thấy nó, một ước muốn chiếm tổ chim kia nảy sinh trong lòng, ngài truyền gọi một vị hầu cận đến bảo:
- Hãy trèo lên cây xem thử có gì trong tổ không?
Người ấy trèo lên, thấy có ba quả trứng trong đó, liền trình vua. Ngài phán:
- Vậy khanh hãy cẩn thận đừng thổi hơi vào chúng.
Rồi trải một ít vải trong một cái hộp, ngài dặn người ấy đi xuống nhẹ nhàng, và đặt trứng vào trong đó.
Khi trứng đã được đưa xuống xong, ngài cầm hộp đến hỏi đám cận thần xem các trứng này thuộc giống chim gì. Họ đáp:
- Chúng thần không biết, song đám thợ săn sẽ biết.
Vua truyền gọi các thợ săn đến hỏi. Họ đáp:
-Tâu Đại vương, một trứng chim cú, một trứng khác là chim Maynah và trứng thứ ba là chim anh vũ.
- Có ba loại trứng khác nhau trong một tổ chim ư?
-Tâu Đại vương, phải, khi không có gì đáng lo ngại thì vật gì được khéo sắp đặt sẽ không hư hoại được.
Vua đẹp ý bảo:
- Chúng nhất định sẽ là các con trẫm.
Rồi giao ba quả trứng cho ba vị quan trong triều chăm sóc, ngài bảo:
-Đây sẽ là các con trẫm. Các khanh hãy cẩn thận chăm nom chúng và khi nào chim non nở ra khỏi vỏ, hãy báo tin cho trẫm.
Ba vị chăm sóc trứng rất chu đáo. Trước tiên, trứng chim cú được ấp nở và vị quan đầu đi tìm một người thợ săn bảo:
-Hãy xem chim non này thuộc giống gì, nó là chim trống hay mái?
Khi kẻ ấy xem xét xong, tuyên bố đó là chim trống, vị quan đến trình vua:
Vua hài lòng, ban thưởng ông nhiều vàng bạc và bảo:
- Hãy chăm sóc con trẫm cẩn thận và đặt tên nó là Vessantara.
Rồi ngài bảo ông ra về. Ông làm những việc được giao.
Sau đó vài hôm, trứng chim Maynah được ấp nở, vị quan thứ hai cũng vậy, sau khi bảo một thợ săn xem xét nó và nghe đó là chim mái, liền đi tâu trình vua một công chúa ra đời. Vua đẹp ý ban thưởng nhiều vàng bạc và bảo:
- Hãy chăm nom con gái trẫm thật cẩn thẩn và đặt tên nó là Kuṇḍalinī. Ngài lại bảo ông ra về. Ông cũng làm những việc được dặn.
Sau đó vài hôm nữa, trứng chim anh vũ được ấp nở và vị quan thứ ba, sau khi được người thợ săn xem xét kỹ, nói đó là chim trống, liền đi tâu vua một vương tử mới ra đời. Vua hoan hỷ ban thưởng rộng rãi và bảo:
- Hãy làm lễ tôn vinh vương tử của trẫm thật long trọng và đặt tên nó là Jambuka.
Rồi ngài bảo ông ra về. Ông làm theo lời dặn.
Ba con chim này lớn lên trong nhà ba vị quan ấy giữa mọi lễ nghi thích hợp với hoàng gia. Vua thường gọi chúng là “con trai trẫm, con gái trẫm.”
Các triều thần thường nói đùa với nhau:
- Hãy xem chúa thượng làm kia, ngài cứ đi quanh nói chuyện về bầy chim như các con của ngài vậy.
Vua suy nghĩ: “Quần thần này không biết mức độ trí tuệ của các con ta. Ta muốn chứng tỏ việc này cho họ thấy.”
Vì thế, ngài truyền một vị cận thần đến bảo Vessantara:
-Phụ vương muốn hỏi vương tử một câu. Vậy khi nào ngài có thể đến hỏi được?
Vị ấy đến chào Vessantara và đưa lời vua truyền. Vessantara mời vị quan chăm sóc mình đến và nói:
- Họ bảo phụ vương ta muốn hỏi ta một câu. Khi ngài đến, chúng ta phải bày tỏ tất cả lòng tôn kính đối với ngài.
Và chim hỏi thêm:
-Vậy khi nào phụ vương có thể đến?
Vị quan đáp:
- Xin mời Đại vương đến vào ngày thứ bảy kể từ hôm nay.
Vessantara nghe vậy liền bảo:
Cùng với những lời này, chim bảo ông ra về. Ông đi đến trình vua. Vào ngày thứ bảy, vua truyền đánh trống khắp kinh thành và đi đến nhà vương nhi của ngài đang cư ngụ.
Vessantara tiếp đãi phụ vương vô cùng cung kính và tỏ ra hết lòng quý trọng ngài cả đám nô tỳ và gia nhân. Sau khi vua ngự yến tiệc tại nhà Vessantara và thọ hưởng mọi sự chiêu đãi trọng thể, ngài ra về cung thất của ngài.
Sau đó, ngài truyền dựng một cái đình lớn trong sân chầu và truyền đánh trống khắp kinh thành báo tin, xong ngài ngự vào cái đình nguy nga lộng lẫy được quần thần đông đảo vây quanh, rồi bảo vị quan đưa Vessantara đến yết kiến ngài. Vị ấy đặt Vessantara lên một kim đôn. Con chim đậu lên lòng phụ vương và chơi với ngài, xong bay qua đậu lên kim đôn ấy.
Rồi giữa đám quần thần, vua ngâm vần kệ đầu hỏi chim về phận sự quân vương:
1. Điều này cha muốn hỏi Vessan,
Cầu chúc cho con yêu được lạc an,
Với một vị vua mong trị nước,
Sống sao tốt đẹp nhất trần gian?
Vessantara không trả lời trực tiếp câu hỏi trên, mà khiển trách vua cha về tính buông lung phóng dật, và ngâm vần kệ thứ hai:
2. Kaṃsa, chúa tể xứ Kāsi,
Phóng dật buông lung đã lắm khi,
Thúc dục con, dù đầy nhiệt huyết,
Phải luôn tỏ nhiệt huyết tràn trề.
Chim khiển trách vua qua vần kệ này và bảo:
- Tâu Đại vương, một vị vua phải cai trị đất nước đúng chánh pháp và tuân thủ ba chân lý này.
Rồi chim ngâm các vần kệ nói về phận sự quân vương:
3. Trước hết vị vua phải vứt đi
Mọi điều giả dối, giận, khinh khi,
Phải làm những việc cần hành động,
Nếu chẳng làm xong, sẽ lỗi thề.
Vì tham sân hướng dẫn đường vua,
Rõ ràng phải sống ăn năn tội,
Luyện tập để đừng phạm lỗi xưa.
5. Khi vua trị nước quá buông lung,
Đối với thanh danh, chẳng thật chân,
Mọi sự phồn vinh đều biến mất,
Chỉ còn ô nhục với hôn quân.
6. Thần nữ Cát tường với Vận may,
Khi con hỏi, đã đáp như vầy:
“Chúng ta thích hạng người can đảm,
Nghị lực thoát ly tật đố này.”
7. Rủi ro luôn phá hoại phồn vinh,
Thích những người làm các ác hành,
Những kẻ nhẫn tâm đầy độc ác,
Trong tâm ganh tị cứ dần sinh.
8. Thân thiết mọi người, tấu Đại vương,
Để cho mọi sự được an toàn,
Tránh xa vận rủi, song làm chỗ
An trú vận may thật vững vàng.
9. Con người tốt số lại can trường,
Ngự trị Kāsi, chính phụ vương,
Tiêu diệt địch quân từ gốc ngọn,
Hiển nhiên sẽ đạt đại vinh quang.
10. Thiên chủ Sakka mãi ngắm trông,
Tấm lòng can đảm ở phàm nhân,
Vì ngài giữ vững lòng can đảm,
Nhận thức đó là chính thiện lương.
11. Thát-bà, Thiên chúng lẫn loài người
Ca ngợi minh quân ấy hết lời
Các bậc thần linh đều ủng hộ
Tán dương nhiệt huyết lẫn anh tài.
12. Nỗ lực làm bao việc chánh chân,
Dù ai phỉ báng, chẳng buôn lung,
Phóng dật chẳng mong đạt phước phần.
13. Đây là phận sự của quân vương,
Dạy bảo phụ vương bước đúng đường,
Đủ đạt phước phần cho hiện hữu
Hoặc mang sầu não đến cừu nhân.
Như thế, chim Vessantara đã khiến trách vua phóng dật trong một vần kệ, rồi ngâm mười một vần kệ nữa để trả lời câu hỏi của vua với vẻ kỳ diệu của một vị Phật. Tâm quần chúng tràn đầy thích thú lẫn kinh ngạc chưa từng có và vô số tiếng reo tán thán vang dậy.
Vua xúc động với niềm hân hoan, liền hỏi quần thần phải làm gì cho vương tử vì đã nói như vậy. Họ đáp:
- Tâu Đại vương, vương tử phải được phong chức đại tướng quân.
Ngài quán:
-Tốt lắm, trẫm ban cho vương tử chức đại tướng.
Và ngài bổ nhiệm Vessantara vào chức vụ còn trống ấy.
Từ đó về sau, ở địa vị này, vương tử thực hành mọi ước nguyện của phụ vương. Đến đây chấm dứt Chuyện về câu hỏi chim Vessantara.
*
Sau vài ngày nữa, cũng như trước kia, vua gởi thông điệp đến Kuṇḍalinī, và vào ngày thứ bảy, ngài ngự đến thăm chim con rồi trở về cung, ngự giữa ngôi đình và truyền đưa Kuṇḍalinī đến yết kiến ngài. Khi chim này đã đậu trên kim đôn, ngài ngâm vần kệ hỏi chim về phận sự quân vương:
14. Kuṇḍalinī, ái điểu hoàng gia,
Con hãy đáp câu hỏi của cha,
Kẻ muốn lên ngôi vua trị nước,
Sống sao tốt nhất cõi người ta?
Khi vua cha hỏi chim về phận sự của một quốc vương như thế, chim con đáp:
-Tâu phụ vương, con chắc phụ vương muốn thử con vì nghĩ rằng: “Nữ nhi có thể bảo ta việc gì nào?” Vậy con xin đáp lời phụ vương bằng cách đặt mọi phận sự quân vương vào đúng hai phương châm.
15. Vấn đề được đặt, hỡi thân bằng,
Trong cặp phương châm thật rõ ràng,
Gìn giữ những gì ta phải đạt,
Tránh xa những việc chẳng nên làm.
16. Quốc sư hãy chọn các hiền nhân,
Thấy lợi ích vua thật rõ ràng,
Không phóng đãng và không phí phạm,
Thoát ly cờ bạc, rượu say nồng.
17. Người vậy hộ phòng vua chánh chân,
Nhiệt tình bảo vệ các kho tàng,
Như người điều ngự vương xa ấy,
Lèo lái giang sơn đến phú cường.
18. Luôn trị thần dân thật khéo khôn,
Giữ gìn đúng đắn các kho lương,
Đừng giao kẻ khác cho vay mượn,
Phải tự mình làm đúng kỷ cương.
19. Những ích lợi hay việc hại mình,
Đại vương phải biết thật phân minh,
Phải chê trách kẻ mang lầm lỗi,
Khen thưởng những người thật xứng danh.
20. Và chính bản thân, tấu Đại vương,
Dạy thần dân mọi nẻo hiền lương,
Kẻo e quốc độ cùng tài sản
Phải hóa mồi quan lại ác gian.
21. Canh phòng hành động của vua quan,
Cẩn thận, đừng nên quá vội vàng,
Vì kẻ ngu làm không nghĩ ngợi,
Về sau chắc chắn sống ăn năn.
22. Ta chẳng bao giờ được hận sân,
Vì chưng sân hận vỡ tràn lan
Liền đem nguy hại cho vua chúa,
Đánh bại người kiêu mạn nhất trần.
23. Phải biết chắc rằng bậc Đại vương,