Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
33. Từ thành thị đến thôn trang,
Nhân dân lũ lượt lên đàng chen chân,
Kìa, đồng nô nức hô vang
Uy danh thái tử can tràng hùng anh,
Tượng, xa ngất nghểu đăng trình
Đến ngài đảnh lễ, cung nghênh khải hoàn.
Vua nghe thái tử đã trở về liền đi ra ngoài đón ngoài. Thái tử được đám đông hộ tống bước đến đảnh lễ vua cha. Vua cha hỏi:
- Này vương nhi, làm thế nào con thoát được ác quỷ kia?
Ngài đáp:
- Tâu phụ vương, vị đó chẳng phải quỷ đâu. Chính là bào huynh của phụ vương, là bá phụ của con đấy.
Ngài liền kể mọi chuyện cho vua cha nghe và nói:
- Vương phụ nên đi thăm bá phụ ngay.
Vua lập tức ban lệnh khua trống lên rồi cùng đoàn tùy tùng lên đường đi thăm hai vị ẩn sĩ. Vị ẩn sĩ trưởng kể lại đầy đủ chi tiết câu chuyện hài nhi bị quỷ bắt đi ra sao; thay vì ăn thịt, quỷ cái đem hài nhi về nuôi thành quỷ nhân, vua và quỷ liên hệ máu huyết như thế nào. Vua liền bảo:
- Này hoàng huynh, hãy về làm vua trị nước.
- Xin cảm tạ Đại vương, không được đâu.
Vua lại nói:
- Thế thì hoàng huynh đến ở trong vườn thượng uyển, ta sẽ cung cấp đủ bốn thứ vật dụng.
Nhà ẩn sĩ lại từ chối.
Sau đó, vua cho lập ngôi làng trên một ngọn núi, không xa nơi ẩn cư kia, xây hồ, trồng trọt, đất đai và đem một ngàn gia đình cùng nhiều của cải đến lập một ngôi làng lớn cùng ban bố thí, cúng dường cho hai vị ẩn sĩ. Ngôi làng lớn dần thành thị trấn Cullakammāsadamma. Vùng có quỷ nhân được bậc Đại sĩ Sutasoma điều phục mệnh danh là thị trấn Mahākammāsadamma.
*
- Vào lúc kết thúc các Thánh đế, vị Tỷ-kheo phụng dưỡng mẹ mình đã đắc quả Dự Lưu. Thời ấy, phụ vương và mẫu hậu là hai thân trong hoàng tộc ngày nay, ẩn sĩ là Sāriputta (Xá-lợi-phất), quỷ nhân là Aṇgulimāla, vương muội là Uppalavaṇṇā(Liên Hoa Sắc), hoàng hậu là mẹ của La-hầu-la và thái tử Alīnasattu chính là Ta.
(TIỀN THÂN CHADDANTA)
Ái hậu mắt nhung, đẹp tuyệt trần…
Câu chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Jetavana (Kỳ Viên) về một Sa-di-ni.
Một thiện gia tín nữ ở Xá-vệ nhận thấy nỗi khổ đau của cuộc đời thế tục, đã xuất gia tu hành. Một ngày kia, nàng cùng các Tỷ-kheo-ni khác đi đến nghe Pháp.
Trong lúc đức Phật ngồi thuyết giảng trên bảo tọa uy nghi, nàng chiêm ngưỡng kim thân của Ngài đầy đủ vẻ tối thắng mỹ diệu xuất phát từ công đức vô lượng của Ngài, nàng nghĩ thầm: “Ta không biết trong một đời trước nào ta từng phụng sự là thê thiếp của bậc vĩ nhân này chăng?”
Ngay lúc ấy, nàng chợt nhớ lại các đời trước của nàng. “Vào thời thượng tượng vương Chaddanta, ta đã từng làm vợ vĩ nhân này.” Tâm nàng tràn ngập hân hoan hạnh phúc khi nhớ lại việc ấy. Trong niềm xúc động sung sướng kia, nàng bật cười lớn và nghĩ thầm: “Ít có phụ nữ có thiện ý hay ác ý đối với vị này.”
Rồi hồi tưởng lại quá khứ, nàng nhận ra là vì cảm thấy bị đối xử thờ ơ lãnh đạm, nên nàng đã sinh lòng oán hận Đại tượng vương Chaddanta có chiều dài một trăm hai mươi cubit (gần năm mươi mét), và nàng đã nhờ tay thiện xạ Sonuttara dùng tên tẩm thuốc độc bắn trọng thương để giết ngài.Lúc ấy niềm đau khổ khởi lên, lòng nàng bồn chồn nóng rang, rồi không thể kềm chế xúc động kia, nàng bật tiếng khóc nức nở.
Thấy thế, bậc Đạo sư nở một nụ cười và khi được hội chúng Tỷ-kheo hỏi:
- Bạch Thế Tôn, duyên cớ gì khiến Thế Tôn mỉm cười?
Ngài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, Sa-di-ni này vừa khóc, khi nhớ lại một tội ác đã từng phạm để hại Ta trong một đời trước.
*
Một thuở nọ, có tám ngàn vương tượng nhờ tu luyện thần thông, du hành qua không gian đến an trú gần bên hồ Chaddanta ở vùng Tuyết sơn. Vào thời ấy, Bồ-tát tái sinh làm con của voi chúa. Thân ngài thuần trắng, bàn chân đỏ, da mặt đỏ hồng. Dần dần lớn khôn, ngài cao đến tám mươi tám cubit, và dài một trăm hai mươi cubit. Ngài có cái vòi như cuộn dây thừng bằng bạc dài năm mươi tám cubit; bộ ngà có chu vi mười lăm cubit, dài ba mươi cubit, tỏa ánh sáng lục sắc. Ngài là chúa đàn voi lớn gồm tám ngàn con, thường tôn kính cúng dường các vị Độc Giác Phật. Hai vị chánh cung hoàng hậu của ngài là Culla Subhaddā và Mahā Subhaddā (Tiểu Hiền Phi và Đại Hiền Phi). Tượng vương với quần thần tám ngàn voi ngự trong Kim động.
Lúc bấy giờ, hồ Chaddanta dài năm mươi dặm và rộng năm mươi dặm. Ở giữa hồ khoảng mười hai dặm, chẳng hề có cây Sevāla hoặc Paṇaka nào mọc, nên nước trong như khối ngọc thần. Bao quanh vùng nước này, gần đó là một dải toàn hoa súng trắng tinh khiết, rộng chừng một dặm. Kế đó là một dải toàn hoa súng xanh bao bọc, rộng chừng một dặm. Tiếp theo đó là loại sen trắng, sen hồng, đến súng trắng, súng hồng và loại súng trắng ăn được; đám súng trắng chen lẫn các loại súng khác, rộng chừng một dặm, cứ mỗi lớp bao quanh các lớp trước.
Kế tiếp bảy lớp cây này là một đám súng trắng xen lẫn các loại súng khác, cũng rộng chừng một dặm, bao quanh tất cả các lớp trước.
Kế đó, trong vùng nước sau vừa cho voi đứng được là một đám lúa đỏ.
Tiếp theo, trong vùng nước bao quanh là những khu rừng cây nhỏ đầy hoa thơm dịu dàng đủ màu vàng, xanh, trắng, đỏ. Như vậy, mười rừng hoa này rộng chừng một dặm mỗi thứ. Kế đó là rừng đậu đủ loại. Kế nữa là rừng chen lẫn bìm bìm, dưa, bí bầu và nhiều cây leo khác. Tiếp theo là một rừng mía cao bằng cây cau. Rồi đến một rừng chuối có quả lớn bằng chiếc ngà voi. Kế đó là một ruộng lúa. Rồi đến một vườn mít, trái bằng bình nước lớn. Tiếp theo là một vườn me đầy quả ngon ngọt. Sau đó là vườn táo voi. Rồi đến một rừng cây lớn đủ loại. Kế tiếp là một rừng tre. Vào thời ấy, phong cảnh vùng này tráng lệ như thế. Vẻ kỳ vĩ đương thời miêu tả trong bộ Luận Saṃyutta (Luận giải Bộ Kinh Tương Ưng).
Trong số các núi phía ngoài, có một ngọn cao sáu dặm, một ngọn cao năm dặm, một ngọn cao bốn dặm, một ngọn cao ba dặm,ngọn cao hai dặm và ngọn chỉ cao một dặm. Lúc bấy giờ, về phía góc hồ đông bắc được bao bọc bằng Thất Sơn như vậy, ở một nơi gió thường thổi trên mặt nước, có một cây đa lớn mọc lên.
Thân cây có chu vị năm dặm, cao bảy dặm. Bốn cành vươn ra bốn phía rộng sáu dặm, những cành mọc thẳng lên cao sáu dặm. Như vậy, từ rễ đến ngọn cao mười ba dặm, từ đầu ngọn cành cây phía này sang đầu ngọn cành cây phía kia rộng mười hai dặm. Cây này sinh ra tám ngàn chồi mọc thẳng tuyệt đẹp, chẳng khác nào Ngọc sơn lồ lộ kia.
Song về phía tây hồ Chaddanta trong Kim sơn, có Kim động chừng mười hai dặm. Tượng vương Chaddanta cùng đoàn tùy tùng tám ngàn voi, về mùa mưa thường sống ở Kim động này, về mùa nóng lại đứng dưới gốc đa lớn kia, giữa các nhánh cây để đón gió nhẹ hiu hiu thổi từ mặt hồ nước.
Một ngày kia, đám quần thần tâu với ngài:
- Đại thọ Sāla vương đang độ nở hoa.
Thế là được đám tùy tùng hộ tống, ngài có ý định đi du ngoạn trong vườn sāla, và khi vừa đến nơi ấy, trán ngài đụng vào một cây sāla đang nở rộ hoa.
Lúc bấy giờ, nàng Culla Subhaddā đứng theo chiều gió, nên một đám cành lá khô cùng kiến đỏ rớt xuống thân nàng. Còn nàng Mahā Subhaddā đứng chỗ khuất gió nên các hoa tươi, cùng phấn hoa và cành lá xanh tươi rơi trên thân nàng.
Culla Subhaddā nghĩ thầm: “Ngài để rơi trên mình nàng ái phi của ngài đầy hoa tươi, phấn hoa cùng cành lá xanh, còn trên mình ta, ngài lại làm rớt cả một mớ cành lá khô cùng bầy kiến đỏ lẫn lộn! Được lắm, rồi đây ta sẽ biết cách làm gì!”
Và nàng sinh lòng oán hận bậc Đại sĩ từ đó.
Sau đó, tám ngàn voi kia xuống hồ vui đùa thỏa thích trong nước, hái đủ loại ho dưới hồ, trang điểm bậc Đại sĩ khác nào một ngôi đền bằng bạc; sau đó chúng trang điểm cả hai hoàng hậu của chúa voi. Lúc ấy, có một con voi kia bơi quanh hồ, hái một đóa sen lớn bảy chồi dâng bậc Đại sĩ. Ngài dung vòi cầm hoa sen rảy phấn lên trán mình xong đưa tặng hoa cho chánh hậu Mahā Subhaddā. Thấy việc này, nàng tình địch của chánh hậu lại nghĩ: “Hoa sen bảy chồi này ngài cũng tặng cho ái hậu của ngài, chứ không phải tặng ta!”
Nàng lại sinh lòng căm hờn ngài thêm nữa.
Một ngày kia, khi Bồ-tát đã ướp hoa quả ngon cùng ngó sen và củ sen với mật ong xong, ngài đem cúng dường năm trăm vị Độc Giác Phật thọ thực. Nàng Culla Subhaddā cũng đem các thứ quả rừng nàng đã hái dâng cúng các vị Độc Giác Phật ấy, và nàng cầu nguyện như vầy:
- Từ nay, sau khi con lìa trần, ước mong rằng con được tái sinh làm công chúa Subhaddā trong hoàng tộc của vua Madda, và khi đến tuổi trưởng thành, mong rằng con được vinh dự làm hoàng hậu của vua Ba-la-nại. Lúc ấy, con sẽ đầy vẻ diễm lệ trước mặt ngài và được ngài sủng ái và sẽ có đầy đủ quyền lực thực hiện điều gì con ước muốn. Thế là con sẽ tâu đức vua cho người thợ săn dung tên độc bắn tử thương voi chúa này. Và như vậy, con ước mong có thể bảo chúng đem về dâng con một cặp ngà tỏa hào quang lục sắc kia.
Từ đó nàng bỏ ăn uống, nên héo mòn dần, chẳng bao lâu nàng từ trần rồi tái sinh làm con chánh hậu vua Madda và được đặt tên là Subhaddā. Khi nàng đến tuổi dậy thì, song thân nàng liền se duyên nàng với vua Ba-la-nại. Nàng làm đẹp lòng vua và được sủng ái, nên được phong làm chánh hậu giữa đám mười sáu ngàn phi tần.
Khi nhớ lại các đời trước của mình, nàng nghĩ thầm: “Lời nguyện cầu của ta đã thành tựu, nay ta phải truyền đem bộ ngà voi ấy dâng ta mới được.”
Thế là nàng xoa dầu khắp người, mặc áo dơ bẩn, nằm lên giường, giả vờ bệnh. Nhà vua hỏi:
- Ái hậu Subhaddā của trẫm đâu rồi?
1. Ái hậu mắt nhung, đẹp tuyệt trần,
Nàng xanh xao quá, dáng đau buồn,
Như tràng hoa dưới chân giày xéo,
Vì cớ sao nàng héo úa dần?
Nghe lời này, nàng liền đáp vần kệ thứ hai:
2. Dường như chuyện thấy trong mơ,
Thần thiếp hằng mong mỏi thiết tha,
Mộng ước hão huyền e khó đạt,
Cho nên lòng thiếp mãi buồn lo.
Vua nghe thế lại ngâm vần kệ nữa:
3. Những lạc thú nào ở thế gian,
Con người khao khát tận tâm can,
Điều gì mong trẫm đem ban tặng,
Hãy nói trẫm nghe, ước nguyện nàng.
Nghe vậy, hoàng hậu bảo:
- Tâu Đại vương, ước nguyện của thiếp thật khó đạt thành, thiếp chưa thể nói được ngay bây giờ ước nguyện ấy. Xin cho tất cả các thiện xạ trong nước tụ tập về đây, lúc ấy thiếp sẽ nói ra giữa đám thiện xạ ấy.
Và nàng ngâm vần kệ để giải thích ý nàng muốn nói:
4. Truyền đám thợ săn phụng mệnh ngay,
Những người cư ngụ nước non này,
Điều thần thiếp muốn nhờ tay họ,
Khi diện kiến, xin sẽ giải bày.
Vua chấp thuận và từ hậu cung, ngài ban lệnh cho các đại thần:
-Hãy cho đánh trống ban lệnh rằng tất cả các thợ săn trong quốc độ Kāsi trải dài ba trăm dặm này, phải đến tụ tập tại đây.
Họ tuân lệnh, chẳng bao lâu các thợ săn trong quốc độ Kāsi mang tặng vật tùy theo phương tiện của họ, nhờ tâu trình vua họ xin bệ kiến. Lúc ấy, họ đến chừng sáu mươi ngàn người. Vừa nghe tin ấy, liền đứng trước cửa sổ mở rộng, giơ tay chỉ cho hoàng hậu thấy họ đã trình diện, ngài bảo:
5. Nhìn đám thợ săn dũng cảm đây,
Nghề săn mồi lão luyện cao tay,