Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 25: Chương Mười Hai- Phẩm Mười Hai Bài Kệ - Phần 2 (trang 168-174)

   Song các người ấy không trở lại theo lời ông mà cứ đi tới mãi. Mallikā nhìn thấy họ và bảo:
-    Thưa phu quân, có các cỗ xe xuất hiện kìa.
Ông bảo:
-   Vậy hãy nói cho ta biết khi nào tất cả bọn chúng trông giống như một cỗ xe mà thôi.
Khi tất cả bọn chúng đứng thành một hàng giống như một chiếc xe, nàng bảo:
-   Thưa phu quân, thiếp thấy chúng giống như thể cái đầu của một cỗ xe mà thôi.
-   Vậy hãy cầm lấy dây cương.
    Vị tướng quân bảo và trao dây cương vào tay bà. Ông đứng dậy trên cỗ xe và giương chiếc cung ra. Bánh xe kia lún vào đất đến tận trục xe. Bộ tộc Licchavī đến tận nơi, thấy thế nhưng không trở lui về. Vị tướng quân kia tiến lên một đoạn nữa và bật dây cung lên, liền phát ra một tiếng ầm như sấm dậy. Nhưng đám kia vẫn chưa trở lui về mà cứ đuổi theo nữa. Bandhula đứng trên xe và bắn tên ra, mũi tên làm vỡ đầu cả năm trăm cỗ xe và xuyên qua cả năm trăm vương tử ở nơi có buộc dây đai rồi chôn vùi xuống đất. Các vị này không biết họ đã bị thương nên cứ tiếp tục đuổi theo nữa và la lớn:
-   Dừng lại! Này, dừng lại!
Bandhula dừng xe lại, bảo:
-    Các người chết cả rồi! Ta không đánh với người chết đâu!
Họ bảo:
-   Sao, chúng ta thế này mà chết à?
Bandhula bảo:
-   Hãy mở dây đai của người đầu tiên ra.
Bọn kia mở dây đai người ấy, ngay lúc mở dây ra, người kia liền ngã xuống chết luôn. Lúc ấy vị tướng quân bảo cả bọn:
-   Các người đều bị như vậy cả, hãy về nhà đi, sắp đặt mọi việc gì cần sắp đặt, dặn dò vợ con gia tộc, rồi hãy cởi giáp bào ra.
  Họ làm theo như vậy, xong đâu đó, cả bọn đều trút hơi thở cuối cùng.
  Về sau, tướng Bandhula đưa Mallikā về Xá-vệ. Bà sinh ra những cặp song nam liên tiếp mười sáu lần; chúng đều lớn lên dũng mãnh anh hùng, thành đạt trọn vẹn trong mọi việc. Mỗi người lại có cả ngàn quân tùy tùng và
khi chúng theo cha vào chầu vua, riêng phần chúng đã đứng chật cả sân chầu.
     Một ngày kia, một số người thua kiện vì bị vu cáo, thấy Bandhula di đến, liền lên tiếng kêu than vang dậy, và bảo cho ông biết các quan tòa đã hỗ trợ một chuyện vu cáo. Vì thế Bandhula vào triều, xử lại vụ án rồi cho phần mỗi người như cũ. Đám đông hò reo tán thưởng. Vua hỏi việc gì và khi nghe vậy, ngài rất hoan hỷ. Ngài chuyển các quan tòa kia đi xa, giao cho Bandhula trọng trách xử án, từ đó ông xử rất công minh. Sau đó, các quan tòa kia trở nên nghèo khó vì họ không còn nhận hối lộ nữa, nên họ phỉ báng Bandhula đến tận tai vua, kết tội vị tướng quân này muốn nhắm chiêm ngai vàng. Vua nghe lời họ, không sao tránh khỏi hoài nghi. Song vua suy nghĩ đắn đo: “Nếu lão ấy bị chết tại đây thì ta sẽ bị trách cứ.”
    Ngài liền ra lệnh cho một số người cướp phá các vùng thị trấn ở biên địa, rồi mời Bandhula đến và bảo:
    -    Biên thùy đang gặp khói lửa, khanh hãy cùng các công tử đi bắt bọn cướp kia.
   Vua cũng đưa đi một số chiến sĩ dũng cảm, tài ba, rồi căn dặn họ giết cả vị tướng quân cùng ba mươi hai công tử kia, cắt lấy đầu đem về.
   Khi ông lên đường, bọn cướp đánh thuê ấy biết tin đại tướng đến, liền bỏ chạy. Vị tướng quân định cư lập nghiệp cho dân khu vực ấy rồi dẹp yên thành phố xong, lên đường về. Sau đó, khi ông đến gần kinh đô, các tùy tướng kia lại cắt đầu ông cùng các công tử.
  Ngày hôm ấy, Mallikā mời hai vị Đại đệ tử cùng với năm trăm vị Tỷ- kheo. Từ sáng sớm đã có thư đưa vào cho bà báo tin chồng bà và các công tử đã mất đầu. Khi nghe vậy, bà không nói với ai một lời, bà nhét thư vào áo, và lo dọn bữa cơm mời chúng Tỷ-kheo. Khi các gia nhân của bà đã cúng dường cho các Tỷ-kheo xong, lại mang vào một chén đựng bơ tươi, vô ý làm vỡ cái chén ấy ngay trước Tăng chúng. Lúc ấy, vị tướng quân Chánh pháp (Sāriputta) bảo:
 -    Chén bát được làm ra để đánh vỡ, xin bà đừng buồn phiền việc ấy.
Vị phu nhân đưa lá thư từ trong nếp áo ra đáp:
 -    Đây đệ tử được bức thư báo tin phu quân và ba mươi hai con trai của đệ tử đã bị cắt đầu. Nếu đệ tử không buồn phiền việc ấy, có lẽ nào lại buồn phiền khi cái chén bị đánh vỡ?
Vị Tướng quân Chánh pháp bấy giờ bắt đầu nói:
-   Không được thấy, không được biết là đời người dưới đây... (Kinh tập, Kinh Mũi tên, kệ 574)
 Rồi từ chỗ đứng dậy, ngài thuyết pháp và ra về.
 Phu nhân liền triệu tập ba mươi hai nàng dâu lại bảo:
  -   Phu quân của các con mặc dù vô tội, đã thọ lãnh nghiệp quả đời trước. Các con đừng sầu bi, cũng đừng tạo ác nghiệp nặng hơn tội của vua.
  Phu nhân khuyên nhủ như vậy. Bọn thám tử mật của vua nghe lời này, trình với vua rằng họ chẳng oán hận. Sau đó, vua ân hận, đi đến nhà phu nhân cầu xin Mallikā và các con dâu của bà tha thứ và ban một điều ước. Bà đáp:
 -   Xin nhận.
Bà cử hành tang lễ xong, tắm rửa rồi đến yết kiến vua. Bà nói:
 -    Tâu Chúa thượng, Chúa thượng đã ban cho thần thiếp một ân huệ. Thần thiếp không xin điều gì ngoài chuyện này, đó là xin Thánh thượng cho phép thần thiếp cùng ba mươi hai con dâu trở về nhà cha mẹ của mình.
 Vua chấp thuận. Bà liền đưa mỗi nàng dâu về nhà cũ, xong chính bà cũng về nhà cha mẹ mình ở thành Kusinārā. Rồi vua phong chức đại tướng cho một vị Dīghakārāyana, con trai của một bà chị đại tướng Bandhula. Song vị này đi đâu cũng vạch tội vua và bảo:
 -   Vua đã giết cậu ta.
   Mãi lâu sau vụ giết hại vị tướng quân vô tội Bandhula ấy, vua cứ bị hối hận giày vò nên tâm hồn không còn thanh thản, ngài không cảm thấy hứng thú khi được làm vua nữa. Thời ấy, bậc Đạo sư ở gần một thị trấn của dòng họ Thích-ca tên là Uḷumpa. Vua đến đó đóng trại không xa hoa viên ấy, và cùng vài cận thần đi đến tinh xá để đảnh lễ bậc Đạo sư. Vua đem trao năm biểu tượng của vương quyền cho Kārāyana, rồi một mình đi vào Hương phòng. Mọi việc tiếp theo được mô tả như trong Kinh Dhammacetiya (Pháp Trang nghiêm, Trung bộ, số 89).
   Khi vua bước vào Hương phòng của đức Phật, Kārāyana cầm lấy năm biểu tượng của vương quyền ấy và tôn Viḍūḍabha lên làm vua chỉ để lại đó cho vua cũ một con ngựa và một nữ tỳ, rồi đi đến Xá-vệ.
  Sau buổi đàm thoại vui vẻ với bậc Đạo sư, vua trở về chẳng thấy binh sĩ đâu cả, ngài hỏi người nữ tỳ và biết được mọi việc đã xảy ra. Rồi ngài đi
đến kinh thành Vương Xá, quyết định đem theo người cháu trai cùng ngài đi bắt sống Viḍūḍabha. Khi vua đến kinh thành thì trời đã tối, cổng thành đã đóng, nên ngài nằm nghỉ trong một túp lều. Bị đuối sức vì dãi dầu sương gió, ngài băng hà tại đó.
   Khi đêm vừa sáng dần, cô nữ tỳ bắt đầu gào khóc:
-  Trời ơi! Đại vương Kosala đã vô phương cứu chữa rồi!
 Có người nghe tiếng kêu than liền đưa tin đến vua xứ ấy (tức Ajātasattu). Vua nảy liền cử hành tang lễ cho cậu mình rất trọng thể.
   Sau khi vua Viḍūḍabha an vị trên ngai vàng, nhớ lại mối thù xưa của mình và quyết định đi sát hại tất cả dòng họ Thích-ca. Với mục đích trên, vua lên đường cùng với đám đông binh sĩ. Sáng tinh sương hôm ấy, bậc Đạo sư nhìn xuống cõi trần, thấy việc tàn sát kia đang hăm dọa thân tộc Ngài. Ngài nghĩ thầm: “Ta phải cứu độ thân tộc ta.”
   Vào buổi sáng, Ngài ra đi khất thực, và sau khi dùng bữa xong, trở về an nghỉ với dáng nằm như sư tử trong Hương phòng của Ngài. Vào buổi chiều, sau khi đã bay qua không gian đến một nơi gần Ca-tỳ-la-vệ, ngồi dưới một gốc cây đổ bóng thưa thớt; gần đó, một cây đa khổng lồ rợp bóng sừng sững trên biên thùy vương quốc của vua Viḍūḍabha.         Khi thấy bậc Đạo sư, vua Viḍūdabha đến gần đảnh lễ Ngài và nói:
-   Bạch Thế Tôn, tại sao Thế Tôn lại ngồi dưới gốc cây thưa thớt như vậy trong bầu trời nóng nực này?
Ngài đáp:
-   Thưa Đại vương, cứ để mặc Ta. Bóng cây của thân tộc Ta khiến cho Ta mát mẻ.
 Vua suy nghĩ: “Chắc hẳn bậc Đạo sư đến đây để che chở cho thân tộc Ngài.”
  Vì thế vua đảnh lễ bậc Đạo sư rồi lại trở về Xá-vệ. Còn bậc Đạo sư đứng dậy đi đến Kỳ Viên. Lần thứ hai, vua nhớ lại mối hận thù của mình đối với dòng họ Thích-ca, lần thứ hai vua lên đường, cũng thấy bậc Đạo sư ngồi đúng chỗ cũ, nên vua lại ra về.
   Lần thứ tư vua ra đi, và bậc Đạo sư, khi xem xét kỹ những nghiệp quả quá khứ của dòng họ Thích-ca, nhận thấy rằng không thể nào tránh được hậu quả của ác nghiệp kia trong việc họ đã thả thuốc độc xuống dòng sông, nên Ngài không đi đến đó lần thứ tư nữa. Lúc ấy, vua Viḍūḍabha giết hết
dòng họ Thích-ca, bắt đầu bằng những hài nhi còn bú, lấy máu trong tim chúng và rửa cái ghế ngồi, rồi ra về.
   Vào ngày mà bậc Đạo sư ra đi lần thứ ba đã trở về, sau khi du hành khất thực và đã dùng bữa xong, Ngài đang nằm nghỉ trong Hương phòng Tăng chúng từ mọi nơi tụ tập trong Chánh pháp đường. Khi ngồi lại với nhau, Tăng chúng bắt đầu nói đến công hạnh của bậc Đạo sư:
  -    Này các Hiền giả, bậc Đạo sư chỉ cần xuất hiện và khiến cho vua lui về, là giải quyết cho thân tộc Ngài khỏi nỗi sợ chết. Bậc Đạo sư thật là một người bạn lành, hay cứu giúp gia tộc.
  Bậc Đạo sư đi vào, hỏi Tăng chúng đang nói chuyện gì trong khi ngồi tại đó. Tăng chúng thưa lại với Ngài. Sau đó, Ngài bảo:
 -    Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ Như Lai mới hành động vì lợi ích của các người thân tộc, mà ngày xưa Như Lai cũng đã làm như thế.
  Cùng với lời này, Ngài kể một chuyện quá khứ.
                                                                              *
   Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, và thực hành Thập vương pháp (Mười đức tính của vua hiền), ngài nghĩ thầm: “Khắp cõi Diêm-phù-đề này, vua chúa đều sống trong các cung điện có nhiều cột trụ chống đỡ. Vậy một cung điện được nhiều cột trụ chống đỡ chẳng kỳ diệu gì song nếu ta xây một cung điện chỉ có một trụ chống đỡ thì sao? Lúc ấy, ta sẽ thành vị đế vương bậc nhất giữa các vị vua!” Do vậy ngài triệu tập các nhà kiến trúc lại, bảo họ xây cất cho ngài một cung điện nguy nga chỉ dựng trên một cột trụ thôi. Họ thưa:
 -    Xin tuân lệnh.
 Rồi họ đi sâu vào rừng. Tại đó, họ ngắm nghía nhiều cây thẳng lắp, cao lớn xứng đáng làm cây cột trụ duy nhất của một cung điện sang trọng như thế. Họ bảo nhau:
-    Đây có đủ các cây loại này, song đường sá gồ ghề, ta chẳng bao giờ chở chúng theo được, vậy ta phải thỉnh ý đức vua về chuyện đó.
 Khi họ tâu như vậy, vua đáp:
-  Hãy dùng cái móc hay neo mà kéo chúng về, thế càng nhanh nữa.
Song họ thưa:
-  Chẳng cái móc nào làm được việc này cả
Vua phán:
-   Vậy thì hãy tìm một cây trong thượng uyển của trẫm.
 Các nhà xây dựng đi vào vườn ngự. Tại đó, họ nhìn thấy một cây Sāla dáng vương giả cao quý, thẳng tắp, cành lá sum suê, vẫn được dân làng, thị trấn tôn sùng, ngay cà hoàng tộc cũng thường đến chiêm bái và dâng lễ vật. Họ liền tâu lại với vua. Ngài phán:
-   Trong vườn ngự của trẫm kia, các khanh đã tìm ra cho trẫm một cây đại thọ. Tốt lắm! Vậy hãy đi đẵn nó xuống ngay.
 Họ đáp:
-   Xin tuân lệnh.
  Họ đến khu vườn ngự, đôi tay cầm đầy các tràng hoa thơm và các hương liệu khác, sau đó treo lên cây một tràng hoa năm chùm, cuộn quanh thân cây một sợi dây thừng, buộc vào đó một bó hoa thơm, rồi vừa thắp hương đèn, vừa chiêm bái vừa khấn rõ:
 -   Từ nay đến bảy ngày nữa, chúng tôi sẽ đẵn cây xuống theo lệnh vua truyền, cầu xin các Thần cư ngụ trên cây này hãy đi nơi khác, và đó không phải lỗi chúng tôi.
 Vị thần sống trên cây nghe nói vậy, nghĩ thầm:
 “Những người xây dựng này quyết đốn cây xuống và phá hoại chỗ cư ngụ của ta. Nay đời ta chỉ kéo dài bao lâu còn ở nơi cư trú này. Tất cả các cây sa-la non ở chung quanh cây này, có các thần quyến thuộc của ta cư trú thật đông cũng sẽ bị phá hủy. Sự hủy hoại thân ta không quan trọng bằng sự tiêu diệt đám con cháu ta. Vậy ta phải bảo vệ sinh mạng chúng.”
 Thế là vào lúc nửa đêm, với trang phục huy hoàng, uy nghi, vị Thần cây bước vào cung thất lộng lẫy của vua, chiếu ánh sáng rực rỡ khắp phòng và đứng khóc cạnh chiếc gối của vua. Ngài rất kinh hãi khi thấy vị thần, liền thốt lên vần kệ đầu:
1.              Ngài là ai, đứng giữa không gian,
                 Mình khoác xiêm y tựa thánh thần,
                Sao nỗi kinh hoàng kia phát khởi,
                Mắt ngài sao đẫm lệ tuôn tràn?
Nghe vậy, vị chúa tể Thần cây ngâm hai vần kệ:
2.              Ở trong quốc độ, hỡi quân vương,
                 Người biết danh cây Đại Cát tường,
                 Đã sáu mươi ngàn năm vẫn đứng,
                Toàn dân đều cúng bái ta luôn.
3.              Dù chúng dựng xây lắm thị thành,
                 Lâu đài vương xá, các cung đình,
                Tuy nhiên, chúng chẳng hề phiền nhiễu,
                Cũng chẳng gây tai hại thần linh,
               Vì chúng tôn sùng ta đến thế,
               Xin ngài, Chúa thượng cũng tôn vinh!
Tiếp theo, vua ngâm hai vần kệ khác:
4.              Song một thân cây vĩ đại này,
                Trẫm chưa hề thấy tự xưa nay,
                Chu vi đẹp cả chiều cao nữa,
                Hùng mạnh, một cây vững chắc thay.
5.              Trẫm muốn xây nên mỹ lệ cung,
               Chỉ cần độc nhất trụ làm chân,
               Trẫm muốn đặt ngài vào chỗ đó,
               Đời ngài không ngắn ngủi đâu Thần.
Nghe vậy, vị Thần chúa ngâm hai vần kệ:
6.             Vì ngài mong muốn đẵn cây thần
                Xin hãy chặt ta nhỏ mỗi phần,
               Và xẻ thân này từng mảnh một,
              Hoặc đừng gì cả, tấu Anh quân!
7.           Hãy chặt trước tiên lấy đỉnh đầu,
              Kế là phần giữa, gốc về sau,
              Nếu ngài đốn được ta như thế,
             Cái chết chẳng còn tạo khổ sầu.
Sau đó, vua lại ngâm hai vần kệ:
8.            Trước hết chân tay, kế mũi, tai,
               Khi người lâm nạn chửa tàn hơi,
              Cuối cùng thủ cấp này rơi xuống.
              Cái chết này đau đớn rụng rời.
9.              Cát Tường cổ thụ, Chúa sơn lâm!
               Lạc thú gì ngài cảm thấy chăng?
               Sao, lý do gì ngài ước muốn
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây