Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 16: Chương Mười Một- Phẩm Mười Một Bài Kệ - Phần 1 (trang 107-113)

                                                CHƯƠNG MƯỜI MỘT
                                            PHẤM MƯỜI MỘT BÀI KỆ

                               455. CHUYỆN VOI HIẾU DƯỠNG MẸ

                                         (TIỀN THÂN MĀTUPOSAKA)
Cho dù voi chúa phải đi xa...
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo còn mẹ phải cấp dưỡng.
Hoàn cảnh chuyện này cũng giống như chuyện Sāma (số 540 tập VI).
Trong dịp này, bậc Đạo sư nói chuyện với chúng Tăng, Ngài bảo:
-       Này các Tỷ-kheo, chớ giận Tỷ-kheo này. Ngày xưa, bậc hiền nhân, ngay cả lúc sinh ra từ bụng của loài vật, và cách xa mẹ mình cũng không chịu ăn uống gì trong bảy ngày, cứ gầy héo mỏi mòn. Dù được cung cấp đồ ăn vương giả, họ cũng chỉ đáp: “Không có mẹ ta thì ta không muốn ăn.” Tuy thế, lúc gặp lại mẹ, họ mới chịu ăn như trước.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh làm Đại tượng vương ở vùng Tuyết sơn. Toàn thân voi màu trắng rất hùng vĩ, là chúa đàn gồm tám mươi ngàn con voi vây quanh ngài, song mẹ ngài bị mù. Ngài thường đưa cho bầy voi những quả rừng thật ngon để đem về dâng mẹ, tuy thế, chúng chẳng đem gì về dâng voi mẹ mà chúng ăn hết. Khi ngài hỏi thăm và biết được việc ấy, ngài bảo:
-    Ta muốn rời đàn để nuôi mẹ ta.
Thế là một đêm thuận lợi, bầy voi không hay biết, ngài đưa mẹ đi đến đỉnh núi Caṇḍorana (Chiên-đồ-gia); tại đó, ngài để mẹ ở trong một hang dưới đồi, gần một hồ nước và nuôi nấng mẹ rất chu đáo.
Bấy giờ, một người thợ rừng ở Ba-la-nại đi lạc đường và không thể
nào tìm lối ra được nên bắt đầu than khóc ầm ĩ. Nghe tiếng này Bồ-tát thầm nghĩ: "Đó là một người đang cơn hoạn nạn, khi ta đang ở đây mà gã gặp tai họa thật chẳng phải lẽ.” Vì vậy, ngài đến gần gã, nhưng gã bỏ chạy vì quá sợ hãi: thấy thế, chúa voi bảo gã:
- Này người kìa, anh không cần phải sợ ta, đừng chạy trốn, hãy nói tại sao anh vừa đi vừa khóc thế?
-    Tâu chúa tể, kẻ hèn này bị lạc đường đã bảy ngày qua.
Chúa voi đáp:
-    Anh đừng sợ nữa, và ta sẽ đưa anh ra đường đi của dân chúng.
Sau đó, ngài bảo người ấy leo lên ngồi trên lưng ngài và đưa gã ra khỏi rừng, xong ngài quay về.
Còn con người độc ác kia quyết vào thành phố báo tin cho vua biết. Vì thế, gã đánh dấu các cây cối, các ngọn đồi, rồi tiến về Ba-la-nại. Lúc ấy, vương tượng của hoàng đế vừa từ trần. Ngài cho truyền lệnh bằng một hồi trống:
-    Nếu kẻ nào thấy ờ đâu có con voi xứng đáng để hoàng thượng ngự du thì hãy báo ngay.
Sau đó, gã kia đến triều kiến vua và tâu:
-    Tâu Chúa thượng, tiểu thần đã thấy một con voi tuyệt mỹ, toàn thân màu trắng, một vật tối thắng xứng đáng để Chúa thượng ngự lên. Tiểu thần xin chỉ đường. Nhưng xin đưa các người quản tượng đi theo để bắt voi.
Vua chấp thuận, bảo một người thợ rừng cùng đi với gã ấy và một đoàn tùy tùng lên đường.
Người thợ cùng đi với gã và trông thấy Bồ-tát đang ăn uống trong một hồ nước. Khi Bồ-tát thấy gã thợ rừng, ngài nghĩ: “Hiểm họa này chắc chắn không phát xuất từ ai khác ngoài kẻ kia. Nhưng ta rất mạnh, ta có thể đánh tan tành cả ngàn con voi trong lúc thịnh nộ, ta lại đủ sức tiêu diệt cả đàn voi ra trận của một vương quốc. Tuy nhiên, nếu ta bị lòng phẫn nộ chi phối thì công đức của ta sẽ bị tổn hại. Vì vậy hôm nay, ta sẽ không nổi giận, cho dù có bị gươm giáo đâm vào da thịt.” Với quyết định này, ngài cúi đầu đứng bất động.
Người thợ rừng bước xuống hồ sen, khi thấy vẻ tuyệt mỹ của các chóp ngà voi, gã bào:
-    Này con, hãy đến đây.
Rồi nắm lấy cái vòi giống như sợi dây thừng bằng bạc, gã dẫn voi về thành Ba-la-nại trong vòng bảy ngày.
Khi mẹ Bồ-tát thấy con mình không trở về, bà đoán chắc hẳn ngài bị quan quân nhà vua bắt rồi và bà than khóc:
-   Giờ đây cây cối vẫn mọc, nhưng con ta đã đi xa rồi.
Và bà đã ngâm hai vần kệ sau:
1.            Dù cho voi chúa phải đi xa,
               Dược thảo, nhũ hương vẫn mọc ra,
               Lúa cỏ, trúc đào, cùng súng trắng,
               Kèn xanh chỗ khuất vẫn đơm hoa.
2.            Tượng vương hẳn đến tận phương nao
               Sung túc nhờ bao kẻ tước cao,
               Trang điểm ngọc vàng, vua chúa cỡi,
                Oai hùng thắng địch thủ mang bào.
Bấy giờ, người luyện voi kia đang lúc còn đang đi đường đã gửi về triều một tờ sớ dâng vua. Nhà vua liền ra lệnh cả kinh thành trang hoàng thật lộng lẫy. Người luyện voi dẫn Bồ-tát vào một cái chuồng được tô điểm bằng các dây tua, tràng hoa và vây quanh mỗi bức màn đủ màu rực rỡ, xong đến trình vua. Vua mang các món cao lương mỹ vị ra bảo đưa cho Bồ-tát, nhưng ngài không ăn chút gì cả:
-   Nếu không có mẹ ta, ta không muốn ăn gì đâu.
Vua van nài ngài ăn, và ngâm vần kệ thứ ba:
3.             Nào ăn đi một miếng, Voi này,
                Đừng có buồn chi, chớ héo gầy,
               Để phụng sự vua, còn lắm việc
                Mà Voi sẽ đảm trách sau này.
Nghe vậy, Bồ-tát ngâm vần kệ thứ tư:
4.             Không, trên đỉnh núi Chiên-đồ-gia,
                Khốn khổ bà kia, mắt lại lòa,
               Giậm một chân vào gốc cổ thụ
               Vì không Voi chúa, ấy con bà.
Vua ngâm vần kệ thứ năm để hỏi ý nghĩa lời ngài:
5.             Ai ở trên đồi Chiên-đồ-gia,
                Nào ai khốn khổ, lại mù lòa?
                Giậm chân vào một gốc cây nọ,
                Vì chẳng chúa voi, con cùa bà?
Voi đáp lời qua vần kệ thứ sáu:
6.                  Mẹ ta ở trên núi Chiên-đồ gia,
                     Khốn khổ mù lòa thật xót xa,
                     Giậm một chân vào gốc cổ thụ,
                    Bởi vì Voi chúa ấy là ta.
Khi nghe nói vậy, vua liền cho ngài được tự do, và ngâm vần kệ thứ bảy:
7.                 Voi hùng phụng dưỡng mẫu thân mình,
                    Nên thả tự do, cứ mặc tình,
                    Thôi để Voi đi về với mẹ
                    Và cùng sum họp với gia đình.
Vần kệ thứ tám và thứ chín xuất phát từ Trí tuệ tối thắng của đức Phật.
8.                  Khỏi cảnh giam cầm được thoát thân,
                     Hết dây ràng buộc, chúa voi rừng,
                    Vài lời khuyên nhủ cùng vua ấy,
                    Voi lại trở về chốn núi ngàn.
9.                 Rồi xuống hồ kia mát lạnh trong,
                    Nơi này Voi vẫn tới bao lần,
                    Dùng vòi hút nước từ hồ ấy
                   Tung vẫy khắp mình của mẫu thân.
Nhưng mẹ của Bồ-tát tưởng là trời bắt đầu mưa, nên ngâm vần kệ thứ mười để trách cơn mưa:
10.                 Ai đó đem mưa thật trái thời,
                     Thần nào độc ác quá, trời ơi!
                     Vì nay con trẻ đà đi vắng,
                    Con trẻ xưa thường phụng dưỡng tôi.
Lúc ấy, Bồ-tát ngâm vần kệ thứ mười một để trấn an mẹ:
11.                Sao mãi nằm kia vậy, mẹ ơi!
                    Này đây con mẹ đã về rồi,
                    Ca-thi Đại đế, ngài thông tuệ,
                    Cho trẻ bình an được tái hồi.
Bà mẹ liền đáp lời, cảm tạ vua qua vần kệ cuối cùng:
12.               Vạn tuế trường tồn, đấng Đại vương!
                    Cầu ngài đem lại nước hùng cường,
                      Tự do ngài trả cho con đó,
                     Với mẹ, con tròn vẹn kính thương!
     Vua rất hoan hỷ vì đức độ của Bồ-tát nên ra lệnh xây một thị trấn không xa hồ ấy, và vua thường đến phụng sự Bồ-tát cùng mẹ ngài. Sau đó, khi mẹ ngài từ trần, ngài đi thật xa đến một tinh xá tên là Kāraṇḍaka. Tại đây, có năm trăm bậc trí giả an trú và vua thường đến cúng dường các ngài. Vua lại truyền tạc một tượng bằng đá có hình Bồ-tát và thường đến chiêm bái để tỏ lòng ngưỡng mộ ngài. Dần dần, dân chúng khắp cõi Diêm-phù-đề (Ẩn Độ) tụ tập lại đó cùng nhau cử hành ngày hội gọi là hội Voi.
                                                              *
     Khi bậc Đạo sư chấm dứt Pháp thoại, Ngài tuyên thuyết các Sự thật. Bấy giờ, lúc kết thúc các Sự thật, Tỷ-kheo phụng dưỡng mẹ đã được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
-     Vào thời ấy Ānanda là nhà vua, mẫu hậu Mahāmyā là mẹ voi và chính Ta là chúa voi đã nuôi dưỡng mẹ mình.
                                 456. CHUYỆN VƯƠNG TỬ NGUYỆT QUANG
                                                    (TIỀN THÂN JUṆHA)
Tâu Đại vương nghe lão nói điều này...
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về các đặc ân mà Tôn Giả Ānanda nhận được.
Suốt trong hai mươi năm đầu Ngài chứng đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, các thị giả đức Thế Tôn không phải chỉ là một người. Khi thì Tôn giả Nāgasamāla, khi thì Tôn giả Nāgita, Upavāna, Sunakkhatta, Cunda, Sāgala, khi thì Meghiya hầu hạ đức Thế Tôn. Một ngày kia, đức Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
-        Này các Tỷ-kheo, nay Ta đã già, và khi Ta bảo chúng ta hãy đi đường này, vài người trong Tăng chúng lại đi đường khác, có người làm rơi bình bát và y của ta xuống đường. Vậy hãy chọn một Tỷ-kheo luôn luôn hầu cận ta.
Sau đó, Tăng chúng đồng đứng lên, bắt đầu với Tôn giả Sāriputta (Xá- lợi-phất) và chắp hai tay lên đầu nói lớn:
-        Bạch Thế Tôn, con xin hầu hạ Thế Tôn, con muốn hầu hạ Thế Tôn.
Nhưng Ngài từ chối, trả lời:
-        Lời thỉnh cầu của các ông đã được ta biết trước, thôi đủ rồi.
Sau đó, Tăng chúng nói với Tôn giả Ānanda:
-       Này Hiền giả, Hiền giả hãy xin giữ chức vụ thị giả.
Tôn giả đáp:
-          Nếu đức Thế Tôn sẽ không ban cho ta chiếc y mà chính Ngài đã nhận, nếu Ngài sẽ không ban cho ta đồ ăn khất thực của Ngài, nếu Ngài sẽ không cho phép ta ở cùng trong Hương phòng, nếu Ngài sẽ không muốn cho ta cùng Ngài đi đến nơi Ngài được mời; nhưng nếu đức Thế Tôn sẽ đi với ta đến nơi mà ta được mời, nếu ta sẽ được phép giới thiệu hội chúng vào lúc hội chúng từ các vùng xa xôi hay các nước ngoài đến yết kiến đức Thế Tôn, nếu ta sẽ được gặp đức Thế Tôn khi có nghi vấn khởi lên, hoặc
nếu bất cứ khi nào đức Thế Tôn thuyết Pháp mà ta vắng mặt thì ngài sẽ thuyết Pháp lại cho ta ngay lúc trở về; thế thì, ta sẽ hầu hạ đức Thế Tôn.
     Tôn giả cầu xin tám đặc ân này, bốn điều “không” và bốn điều “có” và đức Thế Tôn ban tất cả cho Tôn giả. Sau đó, Tôn giả thường xuyên hầu hạ bậc Đạo sư trong hai mươi lăm năm liền. Vì vậy, sau khi đã đạt được năm đức tính xuất sắc và sau khi thành tựu bảy phúc lạc: “Phúc lạc về Đạo pháp, phúc lạc về sự giáo hóa, phúc lạc về sự tuệ tri các nhân duyên, phúc lạc về sự quán sát công đức của mình, phúc lạc vì được ở trong một Thánh chúng, phúc lạc về nhiệt tâm tinh cần được khai sáng, phúc lạc về khả năng đạt giác ngộ,” vào hầu cận đức Phật, Tôn giả nhận được tám đặc ân và trở nên danh tiếng trong Giáo pháp của đức Phật. Tôn giả sáng chói chẳng khác nào mặt trăng trên bầu trời.
     Một ngày kia, Tăng chúng bắt đầu nói đến chuyện ấy trong Chánh pháp đường:
   -    Này hiền hữu, đức Như Lai đã làm thỏa nguyện Tôn giả Ānanda bằng cách ban các điều ước của Tôn giả.
Bậc Đạo sư đi vào và hỏi:
-     Này các Tỷ-kheo, các ông đang nói chuyện gì trong khi ngồi ở đây?
Tăng chúng thưa với Ngài. Sau đó, Ngài bảo:
-        Không phải đây là lần đầu tiên, này các Tỷ-kheo, mà thuở xưa cũng như bây giờ Ta đã làm thỏa nguyện Ānanda với một đặc ân; ngày xưa cũng như bây giờ, bất cứ điều gì ông muốn xin, Ta đều ban cho cả.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
                                                                         *
    Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, một vương tử của ngài là Juṇha, hay Nguyệt Quang Vương tử, đang theo học tại Takkasilā.
Một đêm kia, sau khi lắng nghe kỹ lưỡng lời dạy bảo của vị giáo sư, chàng từ giã nhà của thầy trong đêm tối và lên đường về nhà. Một Bà-la- môn đã đi khất thực, và đang trên đường về nhà, còn vương tử vì không thấy vị này, nên chạy đến đụng vào Bà-la-môn ngã xuống và kêu lên. Chàng động lòng thương liền quay lại, cầm lấy hai tay vị kia và đỡ dậy. Vị Bà-la-môn nói:
  -   Này con, con đã làm vỡ bình bát của ta, vậy hãy cho ta tiền mua một bữa ăn.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây