Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
- Xem kìa, cha chàng làm thế đó! Thiếp mãi van xin cha đừng làm thế này thế nọ, mà cha chỉ nổi giận. Hoặc cha chàng, hoặc thiếp phải đi ra khỏi nhà này.
Lúc ấy, người chồng bảo:
- Này nàng, nàng còn trẻ, nàng muốn ở đâu tùy ý, song cha ta đã già, nếu nàng không thích ông cụ thì nàng cứ đi khỏi nhà.
Lời nói ấy khiến nàng khiếp sợ. Nàng quỳ xuống chân ông lão xin ông thứ lỗi và hứa từ nay sẽ không làm thế nữa, rồi lại bắt đầu săn sóc ông lão như trước kia.
Vị cư sĩ đáng trọng ấy trước tiên quá lo âu vì cách đối xử của nàng, nên bỏ việc đến yết kiến bậc Đạo sư để nghe thuyết Pháp, song khi nàng đã hồi tâm, chàng lại đến. Bậc Đạo sư hỏi tại sao chàng không đến nghe Ngài thuyết giảng bảy tám ngày nay. Chàng kể lại mọi việc xảy ra. Bậc Đạo sư bảo:
- Lần này, ông không chịu nghe vợ và không đuối cha ra khỏi nhà, nhưng trong một đời quá khứ, ông làm theo lời vợ bảo, đã đem cha ra bỏ trong một nghĩa địa và đào cho ông lão một cái hố. Vào thời kỳ ông sắp giết cha, Ta được bảy tuổi và nhờ Ta kể công đức cha mẹ và cản ông khỏi tội giết cha. Thời đó ông đã nghe lời Ta, và nhờ việc săn sóc cha trong lúc ông lão còn sống mà ông được sinh lên Thiên giới. Thời ấy, Ta đã thuyết giảng và báo cho ông biết trước để đừng bỏ rơi cha khi sinh vào một đời khác; vì duyên cớ này nên ngày nay ông không chịu nghe theo lời người đàn bà kia bảo, và cha ông không bị giết hại.
Nói vậy xong theo lời thỉnh cầu của người ấy, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, trong một làng kia ở Kāsi, một gia đình nọ có một con trai duy nhất tên gọi Vasiṭṭhaka. Chàng này nuôi nấng cha mẹ và sau khi mẹ mất, chàng phụng dưỡng cha như đã tả ở phần đầu. Nhưng có chỗ khác ở đây là, khi người đàn bà bảo: ‘Nhìn kia kìa! Cha chàng làm thế đó, thiếp cứ mãi van xin cha chàng đừng làm thế này thế nọ, cha chỉ nổi giận.” Nàng lại nói tiếp:
Cuối cùng, vì cứ nghe mãi những lời đinh tai nhức óc, chàng bảo:
- Này nàng ơi, giết người là việc hệ trọng, bằng cách nào ta có thể lảm thế được?
Vợ đáp:
- Thiếp sẽ chỉ cho chàng một cách.
- Vậy cứ nói đi.
- Nào phu quân, rạng ngày mai, hãy đến nơi cha chàng ngủ, nói thật lớn với ông lão để mọi người đều nghe được, rằng có một con nợ của cha ở một làng kia mà chàng đã đến gặp, nhưng gã không chịu trả tiền cho chàng. Nếu ông lão chết, thì gã ấy chẳng bao giờ trả nợ nữa. Vậy hãy nói rằng hai cha con sẽ cùng lái xe đến đó vào buổi sáng, rồi đến giờ đã định, chàng hãy cột đôi bò vào xe, đưa ông lão đến nghĩa địa. Khi chàng đến đó, hãy chôn ông vào cái hố và la to lên như thể chàng bị cướp giữa đường và bị thương, rồi gội đầu mà ra về.
Chàng bằng lòng làm theo lời bàn ấy và sắp sẵn chiếc xe bò lên đường. Lúc bấy giờ, người ấy có một con trai lên bảy tuổi, nhưng rất khôn ngoan và thông minh. Cậu bé nghe lọt những chuyện mẹ nói và nghĩ thầm: “Mẹ ta thật là một ác phụ, đang cố thuyết phục cha ta giết ông nội. Ta muốn ngăn cản cha ta khỏi tội giết người này.”
Cậu ta liền chạy nhanh đến nằm cạnh ông nội. Vào giờ phút người vợ dặn dò, Vasiṭṭhaka đã sắp sẵn chiếc xe bò. Chàng bảo:
- Cha ơi, dậy đi, ta đi đòi nợ.
Rồi chàng đặt cha ngồi vào xe. Song cậu bé ngồi vào xe trước tiên. Vasiṭṭhaka không thể cản con được, nên cùng đem cậu đi ra nghĩa địa với họ. Sau đó, đem cha già và con trai ra để ngồi riêng một nơi với chiếc xe, còn chàng bước xuống lấy cuốc và cái giỏ đến một nơi, giấu mình cho họ khỏi thấy rồi bắt đầu đào một lỗ vuông lớn. Cậu bé đi xuống theo cha và làm như thể không biết việc gì đang xảy ra, cậu ngâm vần kệ đầu tiên để mở lời:
Chẳng bạc hà, cây để nấu canh,
Nếu chẳng cần, sao cha bới đất
Một mình, trong nghĩa địa rừng xanh?
Rồi cha cậu đáp lại bằng cách ngâm vần kệ thứ hai:
2. Ông nội già nua, quá yếu gầy
Do nhiều bệnh hoạn, khổ tràn đầy,
Cha chôn ông nội trong mồ đó,
Cha chẳng muốn ông sống thế này.
Nghe thế, cậu bé đáp lại qua nửa vần kệ:
Cha cầu việc ấy, tội đà gây,
Vì việc làm này độc ác thay!
Cùng với những lời trên, cậu bé chụp lấy cái cuốc từ tay cha cậu và bắt đầu đào một hố khác không xa đó mấy.
Cha cậu liền đến gần hỏi tại sao con đào hố đó, cậu đáp lại bằng cách ngâm hết vần kệ thứ ba:
3. Con sẽ thờ cha lúc tuổi già
Như cha đối xử với ông nhà,
Theo phong tục ấy trong gia tộc,
Con cũng chôn cha dưới hố mà.
Người cha đáp lại qua vần kệ thứ tư:
4. Thằng bé nói lời ác nghiệt thay,
Ông cha sao mắng mỏ như vầy!
Nghĩ rằng con trẻ rầy la bố,
Với bạn chí tình, tệ lắm đây!
Khi người cha nói vậy xong, cậu bé khôn ngoan ngâm ba vần kệ, một để đáp lời và hai để làm thành khúc thánh đạo ca:
5. Con không tồi tệ hoặc hung tàn,
Con đối với cha, dạ thiết thân,
Nhưng việc này cha làm đại ác,
Sức nào gỡ lại, nếu sai lầm?
6. Người ác ý làm, hỡi Vasiṭṭha,
Hại người vô tội, mẹ cùng cha,
Đến khi người ấy thân vong hoại,
7. Người dùng cơm nước, hỡi Vasiṭṭha,
Đem phụng dưỡng luôn mẹ với cha,
Người ấy đến khi thân hủy hoại,
Sẽ lên Thiên giới hiển nhiên mà.
Người cha sau khi con thuyết giáo, liền ngâm vân kệ thứ tám:
8. Thấy con không tàn nhẫn, vong ơn,
Đối với cha đầy dạ mến thương,
Chính bởi cha vâng lời của mẹ,
Định làm việc ác thật kinh hồn.
Khi nghe vậy, cậu bé bảo:
- Thưa cha, đàn bà hễ khi làm việc ác mà không bị khiển trách thì còn tái phạm mãi. Vậy cha phải uốn nắn mẹ con để cho mẹ sẽ chẳng bao giờ làm lại một việc như vậy.
Rồi cậu ngâm vần kệ thứ chín:
9. Vợ cha là ác phụ vô lương,
Bà đã sinh con, chính mẹ con,
Ta hãy đuổi bà ra khỏi cửa,
Sợ bà gây việc khác cha buồn.
Nghe lời đứa con khôn ngoan, Vasiṭṭha rất hoan hỷ bảo:
- Nào ta đi con!
Chàng lại ngồi vào xe bò với cha và con mình.
Lúc bấy giờ, người đàn bàn gây tội ác ấy cũng sung sướng lắm vì tưởng rằng đã tống được con người xui xẻo ra khỏi nhà rồi. Nàng trét đầy phân bò ướt trên sàn và nấu một mẻ cháo gạo. Song khi nàng ngồi trông ra con đường mà họ sẽ trở về, nàng thấy họ đang tiến đến: “Kìa, chàng ta đã về, lại có lão già xui xẻo ấy nữa.” Nàng suy nghĩ, lòng đầy tức giận: “Hừ! Đồ vô dụng.” Nàng la lớn:
- Sao, đem về cái của nợ chàng đã mang đi vứt ấy à?
Vasiṭṭhaka không nói một lời, và mở tháo dây chiếc xe bò ra. Rồi chàng bảo:
- Cô nói gì thế?
Chàng đánh cho nàng một trận nên thân, rồi chụp đầu nàng tống ra khỏi cửa, cấm nàng đừng bao giờ đến làm bẩn cửa nhà chàng nữa. Rồi
Sau đó, cậu bé bảo cha:
- Cha ơi, về việc này mẹ con chưa hiểu đâu. Bây giờ, ta thử chọc tức bà ấy đi. Cha tung tin trong làng kia có cô cháu gái của cha, muốn săn sóc cha, ông và con, vì vậy cha định đem cô ấy về, rồi cha lấy hoa tươi và dầu thơm để lên xe và cứ đi quanh vùng suốt ngày đến tối mới về nhà.
Chàng làm theo như vậy. Những bọn đàn bà trong xóm nhà chàng đến bảo nàng:
- Chị có nghe nói chồng chị đã đi kiếm một cô vợ khác ở một chỗ nào đó chăng?
Nàng kêu lên:
- Ôi thế là ta tàn đời rồi, chẳng còn chỗ nào dành cho ta cả!
Nhưng nàng muốn hỏi thăm con nàng, vì thế nàng vội vã đi tìm con, sụp xuống chân nó, kêu khóc lên:
- Trừ con ra, mẹ chẳng có nơi đâu nương tựa nữa! Từ nay về sau, mẹ cố quyết chăm sóc cha con và ông nội như thể chăm sóc ngôi bảo tháp tuyệt đẹp vậy. Cho mẹ vào nhà lần nữa đi con!
Cậu đáp:
- Vâng, thưa mẹ. Nếu mẹ không làm gì như trước nữa thì con sẽ để mẹ vào, thôi mẹ hãy vui lên nào.
Và khi cha cậu về, cậu ngâm vần kệ thứ mười:
10. Bà vợ cha kìa, bạc ác thay,
Người sinh con trẻ, chính là đây,
Như voi được luyện rất thuần thục,
Cho trở lui, người tội lỗi này.
Cậu nói thế với cha xong, liền đi gọi mẹ cậu vào. Nàng làm lành với chồng và cha chồng xong, từ đó tánh tình thuần thục tràn đầy đức độ chân chính và săn sóc cả cha, chồng cùng con chu đáo. Cả hai vợ chồng cương quyết theo lời con khuyên nhủ, chuyên bố thí và làm các thiện sự, rồi được sinh lên cộng trú với Thiên chúng.
*
Sau khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Đạo sư tuyên thuyết các Sự thật. Lúc
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Lúc bấy giờ hai cha con và nàng dâu ấy cũng là những người này còn cậu bé khôn ngoan ấy chính là Ta
(TIỀN THÂN MAHĀDHAMMAPĀLA)
Tục lệ nào hay Thánh đạo nào...
Chuyện này bậc Đạo sư kể sau khi Ngài đã thành bậc Chánh Đẳng Giác, trong chuyến thăm viếng Kapilapura lần đầu tiên. Ngài trú ngụ tại Bồ- đề Lâm (rừng cây Đa) và nói về việc phụ vương không chịu tin lời đồn.
Vào lúc ấy, chuyện kể rằng Đại vương Suddhodana (Tịnh Phạn), sau khi cúng dường một buổi tại cung điện của ngài cho đức Phật, dẫn đầu hai mươi ngàn vị Tỷ-kheo, suốt buổi trò chuyện với đức Phật rất vui vẻ, và nói:
- Bạch Thế Tôn, trong thời gian Thế Tôn hành trì khổ hạnh, có vài thần nhân đến gặp ta, đứng trên không và bảo: “Thái tử Siddhattha (Sĩ-đạt- ta), vương tử của Đại vương đã chết đói.”
Bậc Đạo sư liền hỏi:
- Tâu Đại vương, thế Đại vương có tin chuyện đó không?
- Bạch Thế Tôn, ta không tin. Ngay cả khi các thần nhân đến, bay lượn trên không và bảo ta như vậy ta cũng không tin, mà còn bảo rằng vương tử của ta không chết được cho đến khi chứng đắc Chánh đẳng Chánh giác dưới gốc cây Bồ-đề.
Bậc Đạo sư bảo:
- Tâu Đại vương, xưa kia, vào thời Mahādhammapāla, ngay khi một vị giáo sư lừng danh thiên hạ đến bảo: “Con ngài đã chết, đây là xương của chàng,” Đại vương cũng không tin và bảo: “Trong gia tộc ta, bọn chúng không bao giờ chết trẻ.” Vậy thì làm sao bây giờ Đại vương tin được?
Rồi theo lời thỉnh cầu của phụ vương, bậc Đạo sư kể một chuyện ngày xưa.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta làm vua tại Ba-la-nại, trong nước Kāsi, có một ngôi làng tên là Dhammapāla; nó mang tên này vì có gia tộc một vị Dhammapāla, nghĩa là Hộ Pháp, cư ngụ tại đó. Do hành trì Mười