Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
- Thưa Tôn giả Bà-la-môn, bây giờ tiểu sinh không thể cho ngài tiền bữa ăn được, nhưng tiểu sinh là vương tử Juṇha, con vua xứ Kāsi; khi tiểu sinh về vương quốc, ngài có thể gặp tiểu sinh và xin số tiền ấy.
Khi chàng trai hoàn tất việc học tập, chàng tạ từ thầy dạy và trở về Ba- la-nại, trình vua cha việc học tập của chàng.
Vua phán:
- Trẫm đã thấy được con trước khi từ trần và muốn thấy con trẫm lên
ngôi.
Sau đó, ngài làm lễ quán đảnh cho con và phong chàng lên ngôi vua. Với danh hiệu Đại vương Juṇha, vương tử cai trị rất chân chánh.
Khi vị Bà-la-môn hay tin ấy, ông nghĩ rằng giờ đây mình có thể lấy lại tiền bữa ăn rồi. Thế là ông đến Ba-la-nại, thấy toàn thể kinh thành được trang hoàng rực rỡ và vua đang ngự du trong đám rước rất uy nghi hướng về phía hữu, diễu quanh kinh thành. Đứng trên một chỗ cao, vị Bà-la-môn giơ tay kêu lớn:
- Đại vương toàn thắng!
Vua đi qua mà không nhìn thấy ông. Khi vị Bà-la-môn thấy mình không được chú ý, liền ngâm một vần kệ để xin ngài giải thích:
1. Tâu Đại vương, nghe lão nói điều này
Chẳng phải là vô cớ lão về đây,
Đời thường bảo: Mình không nên vượt quá
Người du sĩ đứng ngay trên đường sá.
Khi nghe những lời này, vua thúc vương tượng quay lại với cái gậy nạm ngọc của ngài và ngâm vần kệ thứ hai:
2. Ta đứng nghe, này Đạo sĩ nói ngay,
Cớ sao ngài cất bước đến nơi đây?
Ngài ao ước một đặc ân nào đó,
Mà phải tìm, xin nói cho ta rõ.
Và câu chuyện của vua và vị Bà-la-môn hỏi đáp lẫn nhau được kể lại trong các vần kệ sau đây:
Bà-la-môn:
3. Xin cho lão năm ngôi làng thượng hạng
Bảy trăm bò, tỳ nữ một trăm nàng,
Hai người vợ với ta cùng dòng dõi.
Quốc vương:
1. Đạo sĩ ơi, ngài có điều sám hối
Thật hãi hùng khi phải thổ lộ ra,
Ngài có nhiều thần chú hoặc đạo bùa,
Hay ma quỷ sẵn sàng tuân mệnh lệnh,
Hoặc thỉnh cầu vì hầu ta chân chính?
Bà-la-môn:
2. Không ăn năn, chẳng thần chú, đạo bùa,
Không quỷ ma nào tuân lệnh của ta,
Không đòi thưởng vì công lao giúp đỡ,
Song trước kia chúng ta đà gặp gỡ,
Đây chính là sự thật phải trình ra.
Quốc vương:
3. Trẫm không sao nhớ nổi, thời gian qua,
Rằng trẫm đã tương phùng ngài thuở nọ,
Trẫm van ngài nói điều này cho rõ
Khi gặp nhau, nơi chốn, thuở xưa xa?
Bà-la-môn:
4. Trong thành đô mỹ lệ chúa Gandhāra,
Tâu Chúa thượng, Takkasilā chốn ở,
Đêm tối đen như mực kia, tại đó
Lão và ngài cùng vụt tới chạm vai,
5. Khi chúng ta đang đứng đó, thưa ngài,
Cuộc trò chuyện bắt đầu đầy thân thiện,
Chỉ lần đó chúng ta cùng diện kiến,
Trước chẳng hề và sau đó cũng không.
Quốc vương:
9. Khi trí nhân đã gặp, hỡi La-môn,
Thiện nhân giữa đời không nên để mặc
Tình bạn xưa nay cố nhân đi khuất,
Chẳng vì đâu, làm việc cũ chẳng quên!
10. Chính kẻ ngu chối bỏ việc xưa liền.
Những người ấy chúng có lần gặp gỡ;
Người ngu làm nhiều việc chẳng ra gì,
Chúng vong ân và chúng cứ quên đi.
11. Song chánh nhân chẳng hề quên quá khứ,
Tình bằng hữu, người quen, luôn gắn bó,
Việc nhỏ nhoi do bằng hữu làm nên
Cũng chẳng hề bị từ chối, lãng quên,
Chánh nhân tận cuối đời ghi ơn bạn.
12. Trẫm ban cố nhân năm làng thượng hạng,
Bảy trăm bò, nữ tỳ một trăm nàng,
Hơn một ngàn đồ trang sức bằng vàng,
Hai người vợ, với ngài cùng đẳng cấp.
Bà-la-môn:
13. Đại vương ôi, khi thiện nhân hòa hợp,
Như trăng rằm ta thấy giữa sao trời,
Như ta đây cũng vậy, Chúa công ôi,
Vì ngài đã giữ lời xưa giao ước,
Bồ-tát liền tô thêm niềm quý trọng đối với đạo sĩ kia.
*
Khi bậc Đạo sư đã chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải là lần đầu Ta làm Ānanda thỏa nguyện với các đặc ân, mà Ta đã làm như vậy ngày xưa nữa.
Cùng các lời này, Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, Ānanda là vị Bà-la-môn, và Ta chính là vua.
(TIỀN THÂN DHAMMA)
Ta hành chánh hạnh giữa trần gian...
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên về việc Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) bị nuốt vào lòng đất như thế nào.
Tăng chúng tụ tập trong Chánh pháp đường đàm luận:
- Này Hiền hữu, Đề-bà-đạt-đa sinh lòng thù nghịch với đức Như Lai và đã bị nuốt vào lòng đất.
Bậc Đạo sư đi vào hỏi Tăng chúng đang nói chuyện gì lúc ngồi ở đó. Tăng chúng trình với Ngài. Ngài đáp:
- Này các Tỷ-kheo, nay kẻ ấy bị nuốt vào lòng đất vì đã giáng một đòn chống lại quyền lực vinh quang của Ta, song ngày xưa kẻ ấy đã chống lại uy quyền của lẽ phải, nên đã bị nuốt vào lòng đất và đọa vào địa ngục.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thời nọ, khi vua Brahmadatta lên ngôi tại Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh vào cõi Dục giới thiên làm một Thiên tử, có tên là Dhamma hay Chánh pháp, đồng thời Đề-bà-đạt-đa lại có tên là Adhamma hay Tà pháp.
Vào ngày trai giới trăng tròn, về buổi chiều khi cơm nước xong xuôi, dân chúng ngồi vui vẻ trước sân nhà mình trong làng, ngoài phố hay kinh thành, Dhamma xuất hiện trước mặt quần chúng, đứng vững trên không gian, cỡi chiếc thiên xa của ngài và phục sức thiên y rực rỡ giữa hội chúng Thiên nữ, ngài dạy bảo như sau:
- Đừng đoạt mạng sống của mọi loài hữu tình và tránh mười ác đạo, hãy làm tròn phận sự phụng dưỡng cha mẹ, cùng tam nghiệp chân chánh (Chánh thân nghiệp, Chánh khẩu nghiệp, Chánh ý nghiệp), nhờ thế các người sẽ được tái sinh lên Thiên giới và hưởng mọi vinh quang tuyệt diệu.
Như vậy, ngài khuyến cáo dân chúng hành trì Mười thiện đạo, và ngài
- Hãy sát sinh các loài hữu tình.
Và như thế vị này đã xúi giục dân chúng theo Mười ác đạo và diễu quanh cõi Diêm-phù-đề hướng về phía tả.
Lúc bấy giờ, thiên xa của hai vị đối diện nhau trên không gian, và đám tùy tùng của hai vị hỏi nhau:
- Các ông là tùy tùng của ai?
Và chúng đáp:
- Chúng ta là tùy tùng của Dhamma.
- Còn chúng ta là tùy tùng của Adhamma.
Rồi chúng chiếm chỗ, làm cho lối đi được chia hai ra. Nhưng Dhamma bảo Adhamma:
- Này Hiền giả, ngài là Adhamma và ta là Dhamma, ta đi về hướng phải, vậy hãy quay xe qua một bên nhường lối cho ta.
Rồi ngài ngâm vần kệ đầu:
1. Ta hành chánh hạnh ở trần gian,
Danh tiếng người đời được tặng ban,
Đạo sĩ, hiền nhân, khen ngợi mãi,
Phần ta, đường chánh được tôn sùng,
Đường ta là đó, ta chân chánh,
Tà pháp, vậy ngài hãy tránh đường.
Đây là các vần kệ tiếp theo:
Tà:
2. Trong chiếc hùng xa của pháp Tà,
Ngự trên ngôi báu ấy là ta,
Đại hùng không kẻ làm kinh hãi,
Vì vậy, ta không tự trước giờ
Nhường chỗ, sao nay đành nhượng bộ
Để cho Chánh pháp vượt xe qua?
Chánh:
3. Chánh pháp đã bày tỏ trước tiên,
Là Thần ưu thắng, bậc cao niên,
Tà pháp trẻ hơn vì đẻ muộn,
Tà:
4. Dù ngài đức độ hoặc cầu xin,
Hoặc nếu công bình lẽ tự nhiên,
Ta quyết cũng không hề nhượng bộ,
Hôm nay ta dự đấu tranh liền,
Bất kỳ ai hễ giành ưu thắng,
Vị ấy được nhường chỗ trước tiên.
Chánh:
5. Khắp cõi gần xa, ta nổi danh
Anh hùng vô địch, đại quang vinh,
Trong ta, hình thái này mang đủ
Tất cả công năng kết hợp thành,
Tà pháp này, ta là Chánh pháp,
Làm sao ngài chiến thắng phần mình?
Tà:
6. Nhờ sắt mà vàng được đập ra,
Lấy vàng đập sắt, thấy bao giờ?
Nếu Tà đánh Chánh mà Tà thắng,
Sắt đẹp như vàng chẳng kém thua.
Chánh:
7. Nếu ngài chiến đấu thật hùng cường,
Lời nói ngài dẫu chẳng thiện chơn,
Ta sẽ thứ tha lời ác ấy,
Và dù không muốn, phải nhường đường.
Hai vị ngâm sáu vần kệ trên để đối đáp lẫn nhau. Nhưng vừa lúc Bồ- tát ngâm vần kệ này, Adhamma không thể nào đứng trên xe được nữa mà nhào đầu xuống đất đang há miệng để nuốt vị ấy liền, và vị ấy tái sinh vào địa ngục.
*
Đức Thế Tôn vừa nhận thấy việc này xảy ra, Ngài liền ngâm các vần kệ cuối cùng phát xuất từ Trí tuệ tối thắng của Ngài:
Pháp Tà kia đã ngã lăn nhào,
Kinh hoàng số phận cho Tà pháp,
Dù muốn, ta không đánh trận nào.
9. Vậy pháp Tà khiêu chiến bạo hung,
Bại vì Đại sĩ lượng khoan dung,
Chết vì bị nuốt vào lòng đất,
Bậc Chánh chân an lạc, đại hùng,
Bảo vệ cho mình bằng chánh lý,
Ngự lên xa giá vội đằng vân.
10. Ở nhà ai chẳng kính song thân,
Giáo sĩ, hiền nhân, lúc mạng chung,
Thân hoại, bật tung dây trói buộc,
Từ đây kẻ ở chốn phàm trần
Thẳng vào địa ngục ngay, nào khác
Tà pháp kia nhào xuống ngã lăn.
11. Ở nhà ai kính trọng song thân,
Giáo sĩ, hiền nhân, lúc mạng chung,
Thân hoại, bật tung dây trói buộc,
Cõi Thiên thẳng tiến tự phàm trần,
Như ngài Chánh pháp trên xa giá
Đi đến cung trời của thiện nhân.
*
Khi bậc Đạo sư chấm dứt Pháp thoại, Ngài bào:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ mà cả ngày xưa nữa, Đê- bà-đạt-đa đã tấn công Ta và đã bị nuốt vào lòng đất.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, Đề-bà-đạt-đa là Adhamma (Tà pháp), đám tùy tùng của Tà pháp này là tùy tùng của Đề-bà-đạt-đa, còn ta là Dhamma (Chánh pháp) và các đệ tử của đức Phật là đám tùy tùng của Dhamma vậy.