Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 46:                                           487. CHUYỆN NAM TỬ UDDĀLAKA - Phần 4 (trang 319-325)

               Làm say lòng mẹ với âm thanh.
15.          Người khôn nhờ bạn giúp bàn tay,
              Sống với đàn con hạnh phúc đầy,
              Ta với chồng con cùng đứng vững
               Vì thân bằng hữu mến thương lây.
16.          Dân cần bảo vệ bởi vua quan,
               Những vị tình thân hữu vẹn toàn,
               Hạnh phúc chàng mong, uy lực đủ
               Là người hưng thịnh, lắm thân bằng.
17.           Này Ưng, cần phải kiếm thân bằng
                Dù bạn nghèo hèn hoặc yếu non,
                Nay hãy xem , nhờ tình thắm thiết
              Ta và gia quyến thảy bình an.
18.          Chim ưng tìm được bậc anh hùng
               Để đóng vai chim bạn thiết thân
               Ưng hỡi, như đôi ta hạnh phúc,
               Chim kia cũng hạnh phúc trong lòng.
   Như vậy, chim mái nêu rõ đặc tính của tình bằng hữu qua sáu vần kệ. Từ đó, đám bạn hữu sống với nhau suốt đời không làm đứt đoạn sợi dây thân ái, rồi lúc mạng chung chúng đều đi theo nghiệp của mình.
                                                                 *
   Sau khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Đạo sư bảo:
    -   Này các Tỷ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên người này được hạnh phúc nhờ vợ mình, mà trước kia cũng vậy.
    Cùng với những lời này, Ngài nhận diện tiền thân:
    -  Vào thời ấy, đôi vợ chồng này là đôi chim ưng, Rāhula( La- hầu- la) là rùa con, Moggallāna( Mục- kiền- liên) là rùa cha, Sāriputta( Xá- lợi- phất) là chim ưng chúa và Ta chính là sư tử kia.
                                          487. CHUYỆN NAM TỬ UDDĀLAKA
                                                      ( TIỀN THÂN UDDĀLAKA)
Hàm răng bẩn, áo da dê, tóc bện…
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một người gian dối.
Người này, mặc dù đã đặt cuộc đời mình vào Giáo pháp đưa đến giải thoát, trong lúc muốn kiếm lợi dưỡng cần dùng để sống, đã hành động lừa đảo cả ba mặt. Tăng chúng đều rõ ra những ác hạnh của người này trong lúc bàn luận tại Chánh pháp đường:
-   Này các Hiền giả, người đó sau khi đã đặt hết cuộc đời mình vào Chánh pháp của đức Phật đưa tới giải thoát, lại sống lừa dối kẻ khác!
Bậc Đạo sư bước vào, và muốn biết Tăng chúng đang bàn luận gì tại đó. Tăng chúng trình với Ngài, Ngài bảo:
  -  Đây không phải là lần đầu tiên, kẻ ấy trước kia cũng đã lừa dối rồi.
   Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
                                                                    *
    Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát là một vị Tế sư rất thông thái. Một ngày kia, ngài vào vườn hoa để giải trí, chợt thấy một cô gái có sắc đẹp lẳng lơ, đâm say mê nàng và đem nàng về nhà mình chung sống.
   Khi thấy mình thọ thai, nàng liền bảo ngài:
  -  Thưa Đại quan, thiếp đã có thai, khi sinh con, thiếp muốn đặt tên cho nó  theo danh tánh của tổ phụ nó.
 Song ngài suy nghĩ: “Chẳng bao giờ tên họ của một dòng quý tộc lại đặt cho đứa con hoang của một nô tỳ.” Vì thế, ngài bảo:
 -  Này ái nương, cây này tên là Uddāla( quế), nàng có thể đặt tên con là Uddālaka vì nó thọ thai ở gốc cây này.
Sau đó, ngài cho nàng một chiếc nhẫn có dấu hiệu riêng và bảo:
 -  Nếu nó là con gái, hãy dung chiếc nhẫn này mà nuôi dưỡng nó cho
lớn khôn, còn nếu là con trai thì hãy đem đến cho ta lúc nó trưởng thành.
      Đến kỳ hạn, nàng sinh hạ một con trai và đặt tên là Uddālaka. Khi chàng trai lớn lên, chàng hỏi mẹ:
      -    Mẹ ơi, cha con là ai thế?
      -    Là vị Tế sư đấy con ạ.
      -    Nếu vậy con sẽ học các kinh thánh.
    Thế là khi nhận được chiếc nhẫn từ tay mẹ và số học phí dành cho thầy giáo, chàng lên đường đi đến Takkasilā, và học ở đó với một giáo sư lừng danh thế giới.
    Trong thời gian học tập, chàng thấy một đám người tu khổ hạnh .
   Chàng suy nghĩ: “Đám người kia chắc chắn phải có kiến thức vẹn toàn, vậy ta muốn học hỏi ở họ.” Vì thế, chàng từ giã thế tục, và vì chàng ước mong được kiến thức, nên làm việc phục dịch các vị này, chỉ yêu cầu các vị ấy dạy lại cho chàng mọi kiến thức thông thái của họ. Thế rồi, các vị ấy dạy cho chàng mọi điều hiểu biết, song giữa đám năm trăm người ấy chẳng có ai vượt chàng về kiến thức cả, chàng là người thông thái nhất.
    Sau đó đám người ấy tụ tập lại và bầu chàng làm thầy. Chàng bảo họ:
    -   Thưa các Tôn giả, các ngài sống suốt đời ở trong rừng ăn toàn hoa quả, củ rừng. Tại sao các ngài không đi đến chỗ của người thế tục?
   -   Thưa Tôn giả, người đời muốn cúng dường chúng ta, nhưng lại muốn chúng ta trả ơn bằng cách thuyết pháp, họ hay hỏi ta nhiều chuyện lắm. Vì sợ điều này nên chúng ta không muốn đến giữa người đời.
  Chàng đáp:
  -  Thưa các Tôn giả, nếu các ngài có ta cùng đi thì cứ để một vị Chuyển luân vương cật vấn, một mình ta sẽ giải đáp ổn thỏa, chớ sợ gì cả.
  Thế là chàng cùng hội chúng đi du hành khất thực để sống và cuối cùng đến Ba-la-nại, trú ngụ trong vườn ngự uyển. Hôm sau, cùng với cả đám ấy chàng khất thực ở một làng trước cổng thành. Dân chúng bố thí rất nhiều. Ngày hôm sau nữa, các nhà tu khổ hạnh đi qua kinh thành, dân chúng lại bố thí rất nhiều. Vị khổ hạnh Uddālaka nói lời tùy hỷ công đức rồi giải đáp các lời chấp vấn. Dân chúng rất hoan hỷ và lại cúng dường phong phú cho hội chúng mọi thứ cần dùng.
   Toàn kinh thành vang dậy tin đồn:
   -  Một vị giáo sư thông thái mới đến, một vị Thánh nhân khổ hạnh.
Và vua nghe được tin đó. Nhà vua hỏi:
-  Các vị ấy đang ở đâu?
Dân chúng tâu:
- Trong ngự uyển.
Nhà vua bảo:
- Tốt lắm, hôm nay ta sẽ đi thăm các vị ấy.
Một người đi báo với Uddālaka:
-  Đức vua sẽ đến viếng các Tôn giả hôm nay.
Chàng gọi hội chúng lại và bảo:
- Này các tôn giả, đức vua sắp đến, hãy chiếm cho được ân vua trong một ngày cũng đủ cho cả đời người.
-  Vậy ta phải làm gì, thưa Sư trưởng?
Chàng đáp:
-  Một vài vị phải chịu khổ hình treo người lủng lẳng, vài vị phải ngồi xổm dưới đất, vài vị nữa nằm trên giường chông, vài vị khác chịu khổ hạnh với năm ngọn lửa, thêm vài vị ngâm mình xuống nước và vài vị tụng Thánh kinh ở chỗ này chỗ nọ.
 Các vị ấy làm y lời
 Chính chàng cùng độ mười vị hiền giả ngồi trên một chỗ đã soạn sẵn có lót gối dựa, bàn luận với nhau; có một quyển sách đẹp cân xứng nằm trên một cái giá mực sang trọng bên cạnh chàng và thính chúng vây quanh.
Lúc ấy, vua và vị Tế sư cùng với đám tùy tùng đông đảo bước vào ngự uyển, và vua khi thấy tất cả hội chúng ở đây đang chuyên chú trong dáng điệu khổ hạnh như vậy, vua rất hoan hỷ, nghĩ thầm: “ Các vị này đều giải thoát khỏi nỗi lo âu về các cõi dữ ở đời sau rồi.” Khi đến gần Uddālaka, vua ân cần đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Rồi với lòng hân hoan, vua bắt đầu nói chuyện với vị Tế sư và ngâm vần kệ đầu:
1.                 Hàm răng bẩn, áo da dê, tóc bện,
                    Miệng thì thầm lời thánh đạo bình an,
                   Chẳng từ nan nhiều phương tiện hiền nhân,
                   Chắc đã đạt Chân như và Giải thoát.
Nghe vậy, vị Tế sư nghĩ:
-    Đức vua hoan hỷ ở một chỗ đáng lẽ không nên hoan hỷ, vậy ta không được giữ yên lặng.
Rồi ngài ngâm vần kệ:
2.            Một trí nhân có thể làm ác hạnh,
              Một trí nhân có thể chẳng chánh chân,
              Ngàn câu Vệ- đà chẳng tạo an toàn,
              Khi việc hỏng, hoặc cứu người lâm nạn.
  Khi Uddālaka nghe những lời này, liền nghĩ thầm: “ Vua hài lòng về những vị khổ hạnh này, song vị Tế sư lại đụng ngay vào mõm con bò khi chạy quá nhanh, làm rơi đồ dơ vào đĩa cơm đã dọn sẵn. Ta phải nói chuyện với vị ấy mới được.” Vì thế, chàng đáp lời ngài qua vần kệ thứ ba:
3.           Ngàn câu Vệ-đà chẳng tạo an toàn,
               Khi việc hỏng, hoặc cứu người nguy khốn,
              Kinh Vệ- đà hẳn là đồ vô dụng,
              Chánh đạo là làm chánh, tự điều thân.
Vị Tế sư nghe vậy, liền ngâm vần kệ thứ tư:
4.                 Không phải thế, Vệ-đà không vô dụng,
                    Dù tự điều thân là đạo chánh chân,
                    Học Vệ- đà vẫn mang lại vinh quang,
                   Song ta đạt tối an nhờ chánh hạnh.
  Bấy giờ, Uddālaka suy nghĩ: “ Gây gổ với vị này sẽ không bao giờ ích lợi đâu. Nếu ta bảo ngài ta chính là con trai của ngài, ngài phải thương yêu ta. Vậy ta phải quyết cho ngài biết ta là con của ngài.” Thế rồi chàng ngâm vần kệ thứ năm:
5.                 Cha mẹ và thân quyến họ hàng
                     Đòi ta chăm sóc với yêu thương,
                    Mẹ cha là bản thân con đó,
                    Con Uddāla chính búp non
                   Từ gốc rễ nhà ngài quý tộc,
                   Thưa ngài, Tôn giả Bà-la-môn.
Ngài hỏi:
-  Thế con chính là Uddālaka đấy ư?
Chàng đáp:
-  Thưa, chính phải.
Sau đó, ngài hỏi:
-   Trước kia, ta đã cho mẹ con một vật làm tin, nay nó đâu rồi?
Chàng đáp:
-   Thưa Tôn giả Bà-la-môn, chính nó đây!
 Rồi chàng trao chiếc nhẫn cho ngài. Ngài nhận ra chiếc nhẫn rồi bảo:
- Con là một Bà-la-môn hẳn nhiên rồi, song có biết phận sự của một Bà-la-môn chăng?
Ngài hỏi về các phận sự này qua vần kệ thứ sáu:
6.                 Điều gì thành tựu một La-môn?
                    Vị ấy làm sao được thiện toàn?
                   Hãy nói thế nào người chánh hạnh
                   Làm sao đạt hạnh phúc Niết- bàn?
Uddālaka giải thích việc ấy qua vần kệ thứ bảy:
7.                 Bỏ đời, sùng bái lửa thiêng hồng,
                    Vung gậy, tế đàn, rảy nước trong,
                     Phận sự làm xong, người tán tụng,
                     La-môn như vậy được an lòng.
Vị tế sư lắng nghe chàng kể các phận sự của một vị Bà- la- môn như vậy, xong ngài ngâm vần kệ thứ tám để phê bình chuyện ấy như sau:
8.                  Rảy nước không làm sạch đạo nhân,
                    Thiện toàn chẳng phải việc đăng đàn,
                    Cũng không an ổn và thân ái,
                    Chẳng đạt tối cao, lạc Niết- bàn.
Nghe thế, Uddālaka lại hỏi:
-  Nếu việc này không làm thành một Bà-la-môn, thế thì việc gì?
Và chàng ngâm vần kệ thứ chín:
9.                    Điều gì thành tựu hạnh La-môn?
                       Vị ấy làm sao được thiện toàn?
                       Xin bảo thế nà người chánh hạnh
                       Làm sao thành tựu lạc Niết- bàn?
Vị Tế sư đáp lời qua vần kệ khác:
10.                 Người không của cải, chẳng nương đồng,
                      Không có họ hàng, chẳng ước mong,
                      Chẳng thiết cuộc đời, không ái dục,
                      Hoặc không ác hạnh, thảy đều không,
                      Đạo nhân vậy đạt tâm thanh tịnh,
                    Giữ phận chánh chân, được tán đồng.
Sau đó, Uddālaka, lại ngâm kệ nữa:
11.               Công, nông, giáo sĩ đến vua quan,
                    Nô lệ, chiên-đà, các tiện dân,
                   Tất cả những người đầy trắc ẩn
                    Đều thành tựu cựu lạc Niết- bàn.
                   Vậy ai cao trọng, ai hèn kém
                   Giữa các Thánh hiền tối thượng chăng?
Khi đó, vị Bà-la-môn kia ngâm vần kệ rõ ràng không có ai cao, ai thấp khi đã đạt Thánh quả:
12.                Công, nông, giáo sĩ đến vua quan,
                     Nô lệ, chiên-đà, các tiện dân,
                     Tất cả những người đầy trắc ẩn
                     Đều thành tựu cựu lạc Niết- bàn.
                     Chẳng ai cao trọng, ai hèn kém
                     Giữa các bậc hiền Thánh đại nhân.
Song Uddālaka phê bình điểm này bằng cách ngâm vần kệ:
13.               Công, nông, giáo sĩ đến vua quan,
                    Nô lệ, chiên-đà, các tiện dân,
                    Tất cả những người này đức hạnh
                   Đều thành tựu cực lạc Niết- bàn,
                   Chẳng ai cao trọng, ai hèn kém
                   Giữa các bậc hiền Thánh đại nhân;
                   Giáo sĩ, vậy ngài vô tích sự,
                    Hư danh địa vị, hẳn rồi chăng?
Đến đây, vị Tế sư ngâm đôi vần kệ nữa, cùng với một ví dụ:
14.              Với tấm vải thô nhuộm đủ màu,
                   Ngôi đình được dựng, mái đình cao,
                   Đỉnh tròn, rực rỡ đầy màu sắc,
                   Bóng đổ một màu vẫn giống nhau.
15.             Vậy khi nhiều kẻ đạt thanh tâm
                  Tại chính nơi đây, giữa cõi trần,
                  Người thiện thấy toàn là bậc Thánh,
                 Chẳng hề hỏi huyết thống nguồn căn.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây