Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
(TIỀN THÂN BHALLĀṬIYA)
Ngày xưa có đại đế Bhallā…
Câu chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về hoàng hậu Mallikā (Mạt-lợi) tức Nương tử Vũ Quý Hoa.
Một buổi kia, chuyện kể rằng có việc xích mích giữa hoàng hậu và vua về quyền lợi trong đời sống nội cung, vua nổi giận và không muốn nhìn mặt bà. Bà suy nghĩ: “Ta chắc đức Như Lai không biết đức vua đang giận hờn ta.”
Khi bậc Đạo sư biết chuyện ấy, ngày hôm sau, Ngài đi vào khất thực tại Ba-la-nại có Tăng chúng theo hầu, rồi đến tận cung môn. Vua bước ra đón ngài và cầm lấy bình bát của Ngài, vừa rước Ngài lên thượng lầu, mời Tăng chúng ngồi theo thứ tự thích hợp, rồi dâng nước chào mừng cùng với thực phẩm thượng vị. Sau buổi cơm, vua ngồi xuống một bên. Bậc Đạo sư hỏi:
- Tại sao hoàng hậu Mallikā không đến?
Vua đáp:
- Chỉ vì lòng kiêu mạn ngu si về cảnh vinh quang của bà ta đấy.
Bậc Đạo sư bảo:
- Này Đại vương, xưa kia,đã lâu lắm rồi, khi Đại vương còn là một tiên nam, Đại vương rời xa bạn đời của mình chỉ một đêm thôi mà về sau cứ mãi thương tiếc cả bảy trăm năm đó.
Rồi theo lời thỉnh cầu của vua, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, có một vị vua tên là Bhallatiya trị vì tại Ba-la-nại. Do nỗi say mê món thịt nai rừng bốc khói trên hỏa lò lôi cuốn, ngài giao phó vương quốc cho các đại thần, rồi trang bị đủ năm thứ vũ khí cùng một bầy chó săn thông minh tinh luyện, ngài lên xa giá rời kinh tiến về vùng Tuyết sơn. Ngài cứ du hành dọc theo sông Hằng mãi tận nơi không còn lên cao được nữa, liền đi theo một phụ lưu thêm vài đoạn đường, vừa giết nai, lợn rừng vừa
Nơi đó có một con suối đầy thi vị chảy xuống khắp vùng, nước cao lên tận ngực, song vào các mùa khô ráo chỉ gần đến đầu gối. Lúc ấy, các đàn cá rùa đủ loại tung tăng; dải cát dưới nước sáng loáng như bạc; cây cối hai bên bờ rũ xuống nặng trĩu hoa trái; chim chóc, ong bướm say sưa hút nước trái chín và mật ong, bay lượn dưới bóng cây râm mát, nơi đây từng đàn hươu nai đủ loại vẫn lai vãng luôn. Bấy giờ, trên bờ suối xinh đẹp này có đôi tiên đang ôm chặt nhau, âu yếm vuốt ve nhau, rồi bỗng khóc than rền rĩ vô cùng thảm thiết.
Trong lúc vua trèo lên đỉnh Gandhamādana (Hương sơn) men theo dòng suối này, ngài chợt nhận thấy đôi tiên kia. “Tại sao họ cứ khóc than rền rĩ như thế này?” ngài suy nghĩ, “Ta muốn hỏi xem sao.” Ngài chỉ cần liếc bầy chó săn và búng ngón tay, bầy chó thuần chủng thấy dấu hiệu này là hiểu ngay phần việc của chúng, liền bò vào dưới bụi rậm và nằm sát đất. Vừa khi ngài đã thấy chúng đã khuất dạng, ngài đặt cung tên cùng các vũ khí kia cạnh gốc cây gần đó và rón rén đi nhẹ nhàng đến gần đôi tiên để khỏi ai nghe lọt bước chân, rồi ngài cất tiếng hỏi:
- Tại sao các ngươi than khóc?
Để giải thích việc này, bậc Đạo sư ngâm ba vần kệ:
1. Ngày xưa đại đế Bhallāṭiya,
Ngài vẫn đi săn bắn thật xa,
Trèo tận Hương sơn và chợt thấy
Đầy hoa nở rộ với yêu ma.
2. Ngài truyền bầy chó thảy nằm yên,
Đặt các cung tên xuống đất liền,
Tiến bước để đưa lời ướm hỏi,
Chốn kia vừa thấy cặp thần tiên.
3. “Đông đã qua, sao lại trở về
Hàn huyên tâm sự cạnh sơn khê?
Các ngươi sao giống phàm nhân quá,
Người gọi loài gì, nói trẫm nghe.”
Nghe vua hỏi, vị tiên nam không nói gì, nhưng tiên nữ đáp lại như sau:
4. Tam đỉnh, Hoàng sơn, núi Mã-la,
Chúng thần men suối mát, băng qua,
Song bọn đi săn gọi quỷ ma.
Kế đó, vua ngâm ba vần kệ:
5. Các ngươi âu yếm tựa tình nhân,
Song lại khóc than thật não nùng,
Tiên chúng giống như người thế tục,
Cớ sao than khóc, hãy phân trần?
6. Các ngươi mơn trớn tựa uyên ương,
Song khóc đầy ai oán thảm thương,
Đôi lứa khác nào người thế tục,
Sao sầu đau thế, nói cho tường?
7. Như các tình nhân, cứ vuốt ve,
Song lời than khóc thật lê thê,
Các ngươi trông giống người trần tục,
Sao quá bi ai, nói trẫm nghe?
Các vần kệ sau đó là do đôi bên đối đáp nhau:
Tiên nữ:
8. Chàng, thiếp một đêm cách biệt nhau,
Không tình ân ái, nặng u sầu,
Tương tư, song chẳng bao giờ có
Đêm ấy trở về được nữa đâu.
Quân vương:
9. Sao nằm đêm ấy quá cô đơn,
Đã khiến ngươi rền rĩ tiếc thương?
Đôi trẻ giống như người thế tục
Mất tiền, hay lão phụ từ trần?
Tiên nữ:
10. Đằng kia, bóng mát, suối tuôn ra,
Giữa đá, rồi cơn bão thổi qua,
Vì quá lo âu tìm kiếm thiếp,
Nên tình nhân đã lội qua bờ.
11. Trong lúc đôi chân thiếp rộn ràng,
Thiếp đi tìm cỏ nội hoa ngàn,
Làm vòng đeo, tặng chàng yêu dấu
12. Kết bó chuông vàng, đồng thảo xanh,
Thủy tiên trắng mát đượm sương lành,
Cho chàng yêu cả vòng hoa cổ,
Cùng thiếp, vừa khi gặp bạn tình.
13. Rồi sau thiếp hái bó hoa hồng
Là thứ hoa xinh đẹp nhất vùng,
Để kết liền cho chàng với thiếp
Vòng hoa đeo cổ, lúc tương phùng.
14. Kế hoa là lá, thiếp đi tìm
Về trải đầy trên mặt đất mềm,
Nơi suốt đêm trường chung gối mộng,
Uyên ương thiêm thiếp giấc nồng êm.
15. Gỗ quế, trầm hương kế tiếp liền
Đặt trên hòn đá, thiếp đâm nghiền,
Làm hương tẩm khắp chàng yêu dấu
Và thiếp, mùi hương cực diệu huyền.
16. Đứng bên bờ suối chảy tuôn dòng,
Thiếp hái hoa sen mãi đến cùng,
Chiều xuống, suối kia tràn khắp chốn,
Muốn sang bờ nọ, hết chờ mong.
17. Đành đứng cả hai ở mỗi bờ
Nhìn nhau tha thiết, ngóng ngang qua,
Ôi, bao tiếng khóc cười đôi ngả,
Đêm ấy cùng đau đớn xót xa.
18. Sáng lại, vừng đông đã mọc cao,
Khi nhìn con suối cạn khô mau,
Thiếp, chàng vội bước ôm thật chặt
Lập tức cùng cười, khóc với nhau.
19. Gần bảy trăm năm chỉ thiếu ba,
Từ khi chàng, thiếp phải chia xa,
Tim yêu tan nát sầu ly biệt,
Dằng dặc tưởng chừng trọn kiếp qua.
Quân vương:
Nếu chuyện này truyền lại thuở xưa,
Hoặc giả theo lời nhiều trưởng lão,
Thì đừng sợ hãi, nói cùng ta.
Tiên nữ:
21. Một ngàn năm mùa hạ thắm, an khương,
Chẳng chịu nhiều đau khổ đoạn trường,
Ít gặp ưu sầu, đầy cực lạc,
Suốt đời ngập hạnh phúc yêu đương.
Khi vua nghe vậy, ngài suy nghĩ: “Các sinh vật thấp kém còn hơn loài người, thế mà vẫn khóc than mãi suốt bảy trăm năm ròng chỉ vì một đêm xa cách nhau, huống hồ ta đây, chúa tể cả một quốc độ rộng ba trăm dặm, lại đành bỏ hết cả vinh quang huy hoàng ấy đằng sau để phiêu bạt trong chốn núi rừng hoang dã. Thật là một sai lầm nghiêm trọng.”
Ngài liền quay về lập tức. Khi đến thành Ba-la-nại, triều thần hỏi ngài có thấy việc gì hy hữu ở vùng Tuyết sơn chăng, ngài kể cho hội chúng nghe toàn thể câu chuyện kỳ dị kia, rồi từ đó về sau ngài thực hành bố thí và an hưởng cảnh vinh hoa của mình.
Để giải thích việc này bậc Đạo sư ngâm vần kệ sau:
22. Nhờ được đôi tiên khuyên bảo vầy,
Đại vương trở lại bước đường ngay,
Bỏ săn, cấp dưỡng người nghèo túng,
An hưởng tháng ngày lướt nhẹ bay.
Và Ngài ngâm them hai vần kệ nữa:
23. Rút ra bài học của tiên kia,
Đừng cãi nhau, mà sửa thói lề,
Kẻo các ngài sầu như bọn chúng
Suốt đời, vì chính bởi lầm mê.
24. Lấy ngay bài học tự đôi tiên,
Đừng khẩu tranh, mà sửa thói quen,
Kẻo chịu đau buồn như bọn chúng
Suốt đời, vì chính lỗi lầm riêng.
Bấy giờ, hoàng hậu Mallikā đứng dậy từ bảo tọa khi bà nghe đức Như Lai thuyết giáo, rồi bà chắp hai tay đảnh lễ Ngài rất cung kính, trong
25. Giờ đây kính bạch Thánh nhân,
Với lòng nhu thuận phục tuân sẵn sàng,
Con nghe được các lời vàng,
Tràn đầy thiện ý, chứa chan nhân từ,
Muôn vàn phước đức Tôn sư,
Ngài vừa khuyến nhủ, ưu tư trút liền!
Từ đó về sau, vua xứ Kosala chung sống sắc cầm hòa hợp với hoàng hậu mãi mãi.
*
Khi Pháp thoại này chấm dứt, bậc Đạo sư nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, vua xứ Kosala là vị tiên nam, hoàng hậu Mallikā là tiên nữ và Ta chính là vua Bhallāṭiya.
(TIỀN THÂN SOMANASSA)
Kìa ai phá hoại hoặc khinh chê…
Câu chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về cách Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) dự định sát hại Ngài. Sau đó, bậc Đạo sư bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên Đề-ba-đạt-đa tìm cách sát hại Ta, mà trước kia cũng đã làm như vậy.
Rồi Ngài kể cho Tăng chúng nghe một câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, trong quốc độ Câu-lâu (Kuru) và kinh thành Uttarapañcāla, có vị vua ngự trị với danh hiệu Reṇu. Lúc ấy có một ẩn sĩ khổ hạnh tên là Mahārakkhita sống ở vùng Tuyết sơn cùng hội chúng năm trăm vị tu khổ hạnh khác. Trong lúc xuống vùng đồng bằng để xin muối và gia vị, vị tu khổ hạnh ấy đến xứ Uttarapañcāla và cư trú trong ngự viên.
Cùng với hội chúng mình đi khất thực, vị ấy đến tận cung môn, và khi vua chiêm ngưỡng các hiền nhân, ngài rất đẹp lòng về cung cách của các vị, nên mời ngồi trên bảo tọa lộng lẫy, rồi cúng dường cao lương mỹ vị để các vị dung. Vua lại mời các vị an cư trong ngự viên suốt mùa mưa. Ngài rước các vị vào trong vườn ngự, cung cấp đủ nơi chốn để an trú, cùng các vật cần dùng cho đời sống tu hành, xong rồi từ giã. Sau đó, các vị đều ăn uống trong cung vua. Bấy giờ, vua không có con và đang ước mong sinh được hoàng nam, song chẳng có vương tử nào ra đời cho ngài cả.
Khi mùa mưa qua rồi, vị ẩn sĩ Mahārakkhita nói:
- Nay vùng Tuyết sơn xinh tươi dễ chịu lắm, ta hãy trở về đó.
Rồi vị ấy tạ từ vua, ngài liền tỏ bày đủ mọi cách tôn vinh trọng vọng rất hào phóng đối với các hiền nhân, xong hội chúng ra đi. Trên bước du hành, vào đúng ngọ, vị ấy rời đường cái, cùng hội chúng của mình ngồi xuống trên thảm cỏ êm ái dưới bóng cây râm mát.