Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 92:                                     523. CHUYỆN THIÊN NỮ ALAMBUSĀ - Phần 5 (trang 642-648)

24.               Kalābu cháy tại Diêm cung
                   Giữa khổ đau thê thảm, hãi hùng,
                   Vì đã hại hiền nhân đức hạnh
                  “Bậc thầy nhẫn nhục,” tiếng vang lừng.
25.              Người trí nghe xong các chuyện trên,
                  Về miền địa ngục khổ triền miên,
                  Chẳng hề hại Đạo sư hiền trí,
                 Nhờ Chánh nghiệp, sau đạt cõi Thiên.
Khi bậc Đại sĩ đã nêu rõ các cõi mà bốn vị vua kia phải thác sinh về, ba vị vua này giải tỏa được hết mối nghi ngờ. Rồi Đế-thích Thiên chủ ngâm vần kệ để nêu lên bốn vấn đề của ngài:
26.             Lời ngài đáng quý trọng êm tai,
                  Song muốn nghe thêm một chuyện này,
                 Ai được người đời xem ‘đức độ’?
                 Thế nhân gọi ‘trí giả’ là ai?
                  Người trần xem kẻ nào ‘thánh tín’?
                 Ai kẻ vận may chẳng bỏ rơi?
Bậc đại sĩ liền ngâm bốn vần kệ trả lời:
27.            Khẩu, hành chứng tỏ tự điều thân,
                Tư tưởng tránh xa mọi lỗi lầm,
                Chẳng dối gian nhằm đích hạ liệt,
                Được xem “đức độ” giữa nhân quần.
28.           Giải đáp vấn đề, trí tuệ thâm,
                Không làm điều ác độc, vô lương
                Lời hay đúng lúc đem khuyên nhủ,
                Được mọi người xem đúng “trí nhân”
29.          Biết ơn vì đã nhận ân lành,
                Làm nhẹ buồn đau với nhiệt tình,
                Chứng tỏ bạn hiền lòng vững chắc,
               Mọi người ca ngợi “kẻ tâm thành”
30.           Kẻ nào tài khéo đủ trong tay,
                Chân thật, dịu dàng, rộng lượng thay,
                Ái ngữ, ân cần, người cảm phục,
                 Vận may chẳng bỏ kẻ như vầy.
     Bậc Đại sĩ trả lời bốn vấn đề trên như vậy, chẳng khác nào làm vầng trăng hiện lên bầu trời, Sau đó là những câu hỏi đáp khác nữa:
Thiên chủ:
31.          Lời ngài đáng thán phục êm tai,
              Ao ước nghe thêm một chuyện này,
              Đức hạnh, vận may,hiền trí thiện,
              Cái nào tối thắng giữa trần ai?
32.          Người thiện xem hiền trí tối cao,
               Như trăng che khuất các vì sao,
               Đức hạnh, hiền lương cùng vận tốt,
                Rõ ràng bậc trí phải theo mau.
33.           Lời người thân ái thật êm tai,
                Mong ước nghe thêm một chuyện này,
                Muốn đạt thành tâm minh trí tuệ,
               Đường nào hành động phải theo hoài?
               Đâu là trí đạo xin cho biết
               Nhờ việc nào người có trí ngay?
Bậc Đại sĩ:
34.          Kết bạn người uyên bác lão thành,
               Nhờ tam vấn, học trí thông minh,
              Phải nghe theo các lời khuyên tốt,
               Vì vậy con người trí tuệ sinh.
35.          Bậc trí nhìn tham dục giác quan
               Thấy đầy bệnh khổ, lắm vô thường,
               Giữa tham, ưu não gây khinh hãi,
              An tịnh, hiền nhân dạ chẳng màng.
36.        Vậy điều phục ác nghiệp, ly tham,
             Tu tập từ bi vô lượng tâm,
             Với mọi hữu tình đều quý mến,
             Tâm thanh tịnh, đến Phạm thiên cung.
   Trong khi bậc Đại sĩ thuyết giảng như vậy về các tội lỗi do tham dục gây ra, ba vị vua cùng với đám quân sĩ đều đoạn trừ tham dục nhờ lấy đức tính từ bi để đối trị. Bậc Đại sĩ biết được như việc này, liền ngâm kệ tán than cả ba vị vua:
37.          Nhờ thần lực nên chúa Bhīmaratha
               Cùng với ngài, này chúa Aṭṭhaka,
               Đại đế Kāliṅga hiển hách,
               Đến đây các vị đủ luôn ba,
              Xưa làm nô lệ cho tham dục,
              Nay được tự do giải thoát ra.
Nghe vậy, cả ba vị Đại vương ngâm kệ tán than bậc Đại sĩ:
38.        Chính ngài là bậc tha tâm thông,
             Nhờ vậy, từ vua đến đạo quân
             Giải thoát khỏi vòng vây dục vọng,
             Xin ngài ban bố một hồng ân,
             Chúng ta quả thật đều mong ước
            Đạt đến niềm an lạc Thánh nhân.
Sau đó, bậc Đại sĩ ngâm vần kệ khác để ban cho các vị đặc ân này:
39.       Ta ban điều các vị mong cầu
            Để các vị xa ác dục mau,
            Hoan hỷ vô biên, tâm thấm đượm,
            Đạt thành cực lạc ước về sau.
Nghe vậy, các vị ngâm kệ tán đồng:
40.       Mọi việc làm theo lệnh của ngài,
            Những gì ngài nghĩ tối ưu thôi,
             Để tâm thấm đượm vô biên hỷ,
             Đạt đến an lạc dạ ước hoài.
   Sau đó, bậc Đại sĩ ban lệnh truyền đại giới cho đám quân sĩ của ba vị vua và bảo hội chúng khổ hạnh ra về qua vần kệ này:
41.      Vinh dự thay đã viếng Kisavaccha,
            Giờ đây chư vị hãy về nhà,
            Hỡi chư hiền Thánh danh lừng lẫy,
            Hãy trú an trong tịnh lạc kia,
            Niềm hỷ lạc trong đời Thánh hạnh
           Chính là cực lạc tối cao xa.
 Các Thánh nhân này tán đồng ý kiến của ngài bằng cách cung kính đảnh lễ ngài, rồi bay lên hư không trở về cư trú của mình. Còn Đế-thích Thiên chủ từ chỗ ngồi chắp tay đảnh lễ bậc Đại sĩ chẳng khác nào tôn kính
vầng nhật, rồi cùng hội chúng ra về.
                                                           *
Thấy vậy, bậc Đại sĩ ngâm các vần kệ sau:
42.               Nghe thuyết toàn chân lý tối cao
                    Bởi hiền nhân giọng điệu thanh tao,
                   Chư Thiên trở lại miền Thiên giới,
                   An lạc, ân tình thắm thiết sao.
43.               Lời lẽ Thánh hiền dạy lọt tai,
                   Mang đầy ý nghĩa, giọng thanh bai,
                  Ai tinh cần tập trung tâm trí
                 Tầm tứ chuyên đề, sẽ thấy ngay
                 Đường nhập tịnh theo từng cấp bực,
                Thoát ly thần chết độc quyền oai.
  Bậc Đạo sư đã thuyết giáo như vậy đưa đến quả A-la-hán tối thượng và bảo:
 -   Không phải chỉ ngày nay, mà ngay cả ngày xưa nữa, cũng có trận mưa hoa trời nhân dịp lễ hỏa táng Thánh thể của Mục-kiền-liên.
  Rồi ngài giảng bày các Thánh đế và nhận diện tiền thân:
  -  Thời ấy, Sālissara là Sāriputta (Xá-lợi-phất), Meṇḍissara là Kassapa (Ca-diếp), Pabbata là Anuruddha (A-na-luật-đà), Devala là Kaccāyana (Ca-chiên-diên), Anusissa là Ānanda, Kisavaccha là Kolita (tức Mục-kiền-liên), Sarabhaṅga là Bồ-tát. Các ông phải hiểu Tiền thân này như vậy.
                                    523. CHUYỆN THIÊN NỮ ALAMBUSĀ
                                              (TIỀN THÂN ALAMBUSĀ)
Thiên chủ Indra, đấng vạn năng…
Câu chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc một Tỷ-kheo bị mê hoặc bởi người vợ của thời kỳ phóng dật trước kia.
Toàn thể đề tài câu chuyện được kể lại đầy đủ trong Tiền thân Indriya (số 432). Lúc bấy giờ, bậc Đại sư hỏi vị Tỷ-kheo:
- Này Tỷ-kheo, có thật ông sinh tâm bất mãn chăng?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn, quả đúng vậy.
- Do ai gây nên?
- Bạch Thế Tôn, do người vợ cũ của con ngày trước.
- Này Tỷ-kheo, nữ nhân này đã làm hại ông, chính vì kẻ đó mà trước kia ông đã mất thiền lực, và phải nằm liệt suốt ba năm ròng trong trạng thái tán loạn tâm trí; đến khi hồi tỉnh, ông đã than khóc thảm thiết. Nói xong, Ngài kể cho vị này câu chuyện quá khứ.
                                                           *
    Ngày xưa, dưới triều vua Brahmadatta ở Ba-la-nại, Bồ-tát tái sinh vào một gia đình Bà-la-môn ở quốc độ Kāsi. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài thông thạo mọi môn học thuật và sau đó ngài xuất gia vào rừng sống bằng củ quả rừng. Lúc bấy giờ, một con nai cái sống trong vùng thảo am của vị Bà-la-môn này, ăn cỏ và uống nước suối có hòa lẫn tinh dịch của  ngài, rồi lại sinh lòng say mê ngài đến độ nó mang thai và từ đó đến trú luôn ở nơi gần nhà của ẩn sĩ.
     Bậc Đại sĩ xem xét kỹ vấn đề và biết được sự thật của trường hợp trên. Về sau, nai cái sinh một nam nhi, và bậc Đại sĩ chăm sóc hài nhi ấy với tình phụ tử. Hài nhi được đặt tên là Isisiṅga.
     Khi chàng trai đến tuổi trưởng thành, ngài cho chàng thọ giới tu hành và khi ngài đã già, ngài dẫn chàng đến rừng Nāri và căn dặn:
- Này con yêu quý, ngay trong vùng Tuyết sơn này có nhiều nữ nhân tươi đẹp như hoa, chúng thường đem tai họa tàn khốc cho những ai rơi vào uy lực của chúng. Vậy con đừng để cho chúng chinh phục.
    Chẳng bao lâu sau đó, ngài từ trần và sinh lên Phạm thiên giới. Còn ẩn sĩ Isisiṅga trong lúc tham thiền nhập định, an trú tại vùng Tuyết sơn kia làm một nhà đại khổ hạnh khắc nghiệt, hành hạ xác thân đủ mặt. Vì uy lực công đức của ẩn sĩ này, cung của Đế-thích(Sakka) Thiên chủ bị rúng động. Đế-thích Thiên chủ xem xét tìm ra nguyên nhân và suy nghĩ: “Người này sẽ hạ ta xuống khỏi ngôi vị Thiên chủ, vậy ta quyết sai một Thiên nữ đi phá hoại công đức của vị này.”
     Sau khi quan sát toàn thể giới chư Thiên, giữa đám hai mươi lăm triệu nàng thị nữ cõi trời, ngài thấy ngoại trừ Thiên nữ Alambusā, không có ai xứng hợp với công việc này hơn cả. Ngài liền triệu nàng đến, ban lệnh cho nàng phải đi phá hoại công đức của Thánh nhân thanh tịnh kia.
                                                       *
   Để giải thích vần kệ này, bậc Đạo sư ngâm vần kệ đầu:
   1.           Thiên chủ Indra, 1 đấng vạn năng,
                  Xưa kia đã giết Vatra thần,
                 Triệu nàng Thiên nữ vào cung điện
                 Vì biết nàng mưu chước lẫy lừng.
2.             “Thiên nữ Alambusā,” Đế-thích truyền:
                “Ở trên hội chúng của chư Thiên,
                 Bảo nàng đến gặp Isisiṅga nọ,
                 Quyến rũ chàng say đắm mối duyên.”
Đế-thích chủ phán bảo Alambusā:
-   Nàng hãy tìm gặp Isisiṅga, dùng uy lực của nàng chinh phục chàng và phá hủy công đức của chàng.
Rồi ngài ngâm vần kệ:
3.                Hãy theo cám dỗ sát bên chàng
                   Vì chính nàng là bậc Thánh nhân,
_____________________
1 Indra và Vāsava: danh hiệu của Sakka.
            Trong lúc đi tìm nguồn cực lạc,
             Lại còn chiến thắng cả Thiên hoàng.
Nghe nói vậy, nàng Alambusā đáp hai vần kệ:
4.         Giữa bao Thiên nữ, tấu Thiên hoàng,
            Sao chỉ riêng nhìn đến tiện nhan,
            Và bảo phận hèn đi quyến rũ
            Thánh nhân đe dọa chiếc ngai vàng?
5.         Vườn Nanda, cực lạc thần tiên
            Có biết bao Thiên nữ diệu huyền,
             Đến lượt một nàng trong đám ấy,
             Xin giao việc đáng rủa nguyền trên.
Tiếp theo Đế-thích Thiên chủ ngâm ba vần kệ:
6.          Nàng nói đúng thay, ở Lạc Viên
             Nandana, trẫm biết vườn tiên,
            Nhiều Thiên nữ diễm kiều dung sắc
            Sánh kịp nàng, thường được ngắm xem.
7.          Nhưng này, hỡi tuyệt thế tiên nương,
             Chẳng có ai dùng kế mỹ nhân
             Điêu luyện như nàng, hòng quyến rũ
            Thánh nhân bằng mọi cách điên cuồng.
8.         Vậy nàng quả thật đóa hoa khôi,
            Hãy bước lên đường, tố nữ ôi,
            Dùng lực thần kia là mỹ sắc
            Buộc hiền nhân nọ phục oai trời.
Nghe lời này, nàng Alambusā ngâm hai vần kệ:
9.          Phận hèn sẽ quyết, tấu Thiên hoàng,
            Tiến bước lên đường phụng mệnh ban,
            Song vẫn lo âu phần thiếp dám
            Liều mình hại bậc Thánh nghiêm trang.
10.        Bởi vì lắm kẻ đáng thương thay,
            (Thiếp sợ run vì ý nghĩ này:)
            Làm hại Thánh hiền, nên phải đọa,
            Ăn năn ngục tối khổ đau đầy.
11.        Thiên nữ Alambusā nói vậy xong,
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây