Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 59: Chương Mười Lăm- Phẩm Hai Mươi Bài Kệ - Phần 2 (trang 408-414)

-    Tâu Chúa công, vậy chúng tiểu nô phải làm gì đây?
-    Sao ư? Phải vả vào mồm lão, bẻ hàm lão ra, lấy roi gậy đánh cho nát lưng, trừng phạt lão đi, tóm lấy cả tên khốn khiếp này, quăng lão xuống, tống lão ra khỏi đây ngay!
Song trước khi bọn chúng đến gần ngài, bậc Đại sĩ đã bay lên không, vừa đứng vững ở đó vừa ngâm kệ:
9.                 Phỉ báng Hiền nhân, lợi ích bằng
                    Với khi nuốt ngọn lửa đang hồng,
                    Hay là sắt cứng, đưa răng cắn,
                    Đào núi, mà dùng móng vuốt không?
Sau khi thốt những lời này xong, bậc Đại sĩ vụt lên cao trong khi cậu trai và đám Bà-la-môn ngơ ngác nhìn theo.
                                                       *
Bậc Đạo sĩ ngâm kệ để giải thích việc này:
10.               Nói vậy, Mātaṅga trí nhân,
                   Bậc phò chánh đạo, lý thuần chân,
                   Rồi ngài bay bổng trên không khí
                  Trước mắt nhìn theo của đám đông.
                                                      *
   Ngài quay mặt về hướng đông, hạ xuống một đường phố với ý định làm cho dấu chân ngài được nhìn thấy, nên ngài khất thực gần đông môn. Lúc ấy, sau khi đã nhận được một số thực phẩm đủ loại, ngài ngồi xuống một sảnh đường và bắt đầu ăn.
    Song các thần linh trong kinh thành chợt đến, thấy rằng vua này đã nói năng như vậy làm phiền nhiễu vị Hiền nhân của các vị, là điều không thể dung thứ được nên vị thần cao niên nhất trong bọn họ chụp lấy cổ Maṇḍavya và vặn tréo, các quỷ kia lại chụp lấy cổ các Bà-la-môn ấy và vặn luôn. Song vì thương cảm Bồ-tát, các vị ấy không giết Maṇḍavya, các vị bảo:
   -  Đó là con trai của ngài.
  Và các ngài chỉ hành hạ cậu ta thôi. Đầu của Maṇḍavya bị vặn tréo ra đằng sau vai, tay chân cậu cứng đờ, mắt trợn trừng như thể chết rồi, cậu nằm rũ liệt tại đó. Các Bà-là-môn kia quay cuồng vật vã, mồm chảy nước
miếng tràn ra. Dân chúng đến báo tin cho bà Diṭṭhamaṅgalikā:
-   Tâu lệnh bà, có chuyện chẳng lành xảy ra cho vương tử!
Bà chạy vội đến thấy cậu trai liền kêu lớn:
-  Ôi sao lại thế này?
Rồi bà ngâm kệ:
11.                 Vặn tréo đầu con khỏi bả vai,
                      Kìa sao con duỗi cánh tay dài,
                      Bơ vơ mắt trắng dường như chết,
                      Kẻ hại con mình đó chính ai?
Khi ấy, những người đứng ngoài xem liền ngâm kệ nói cho bà biết chuyện kia.
12.                 Ẩn sĩ đây khoác áo dơ,
                      Tồi tàn người ngợm tợ yêu ma,
                       Y bằng giẻ rách quàng ngang ngực,
 Chính kẻ hành hung quý tử bà.
 Nghe vậy bà suy nghĩ: “Chắc chắn đó là bậc Hiền nhân Mātaṅga, không ai khác có thần lực như vậy. Song một người thủy chung và đầy thiện ý đối với mọi loài, chẳng bao giờ lại bỏ đi để những kẻ này phải chịu sự hành hạ thế kia, nay không biết ngài đã đi hướng nào?” Bà hỏi câu này qua vần kệ sau:
13.                Về hướng đi nào, bậc Trí nhân?
                     Trả lời ta, hỡi các vương tôn!
                     Chúng ta đi chuộc cho lầm lỗi,
                     Để giúp con ta được tỉnh hồn.
Các chàng trai kia đáp lời bà theo cách này:
14.                Bậc Hiền vụt hiện giữa không gian,
                     Như thể vầng trăng giữa tối rằm,
                    Đẹp mặt thay, Ngài sùng chánh đạo
                     Phương đông theo hướng ấy lên đàng.
 Khi họ đáp như thế bà liền bảo:
 -  Ta quyết sẽ đi tìm phu quân ta.
 Rồi bà ra lệnh đem theo bà nhiều bình vàng và chén vàng, rồi được một đám tỳ nữ vây quanh, bà ra đi, tìm thấy nơi có dấu chân của ngài đã in xuống đất, bà cứ theo dấu chân này cho đến khi bà gặp ngài đang ngồi trên

một chỗ kia và ăn cơm. Đi đến gần ngài, bà đảnh lễ rồi đứng im. Khi thấy bà, ngài đặt miếng cơm vào bát. Diṭṭhamaṅgalikā rót nước lên tay ngài từ chiếc bình vàng, ngài lập tức rửa tay và súc miệng. Sau đó bà hỏi:
 -  Ai đã làm việc tàn ác này cho con trai của thiếp?
 Và bà ngâm kệ:
15.                Vặn tréo đầu con khỏi bả vai,
                     Kìa sao con duỗi cánh tay dài,
                     Bơ vơ mắt trắng dường như chết,
                    Kẻ hại con mình đó chính ai?
Các vần kệ sau đây là lời đối đáp xen kẽ nhau giữa hai vị:
Bậc trí:
16.                Qủy linh đủ đại lực uy thần,
                     Đẹp mắt theo hầu các trí nhân,
                    Chúng thấy con nàng sân, ác ý,
                    Nên hành xử nó chính vì nàng.
Bà hoàng:
17.               Chính các thần linh tạo việc trên,
                    Hiền nhân đừng phẫn nộ thân hèn,
                   Xin ngài từ mẫn vì con thiếp,
                   Quy ngưỡng từ nay, dưới gót sen.
Bậc trí:
18.             Tâm ta, hãy biết, chẳng tiềm tàng,
                  Từ trước đến giờ, ý hận sân,
                  Con trẻ không thông ba Thánh điển
                  Vì vậy vọng tưởng, ngập kiêu căng.
Bà hoàng:
19.            Con người có thể, hỡi hiền nhân,
                 Bỗng chốc trí khôn hóa tối tăm,
                 Tha lỗi thiếp này, thưa Trí giả,
                 Bậc hiền không để khởi hờn căm.
Bậc Đại sĩ được bà xoa diệu bằng lời lẽ như vậy, liền đáp:
 -    Được, ta sẽ cho nàng thứ tiên dược trường sinh bất tử để đuổi bọn quỷ ma ấy đi xa.
 Rồi ngài ngâm kệ:
20.         Chút của thừa này, hãy lấy mang,
              Cho Manda khốn khổ phần ăn,
              Con nàng sẽ mạnh, mau bình phục,
              Bọn quỷ tha mồi, được thoát thân.
Khi bà nghe những lời này của bậc Đại sĩ liền đưa chiếc bình vàng ra và nói:
 -   Xin phu quân hãy cho thiếp thuốc tiên bất tử ấy.
Bậc Đại sĩ đổ vào đó một ít cháo còn lại và bảo:
-   Hãy đổ một nửa cháo này vào mồm cho con nàng, còn lại thì trộn với nước rồi đổ vào mồm các Bà-la-môn kia, chúng sẽ được bình phục cả.
Rồi ngài đứng lên đi về phía vùng Tuyết sơn.
Bà mang bình ấy trên đầu và kêu:
-   Ta đã được thuốc tiên bất tử rồi.
Khi đến nhà, trước hết bà đổ một ít vào miệng con trai bà.
Qủy thần liền chạy trốn, vua đứng dậy, phủi bụi bặm rồi hỏi:
-   Cái gì đây mẹ?
-   Con đã biết rõ những việc con làm rồi, nay hãy nhìn tình cảnh khốn khổ của đám người khất thực nhà ta kia kìa!
Khi cậu nhìn thấy bọn ấy, lòng cậu đầy ân hận. Rồi mẹ cậu bảo:
-   Này Maṇḍavya yêu quý, con thực là kẻ ngu si không biết bố thí cách nào để của bố thí ấy mang lại kết quả tốt. Bọn này không xứng đáng với lòng hào phóng của con đâu, chỉ những vị nào như bậc Hiền nhân Mātaṅga là xứng đáng thôi. Từ nay về sau, đừng đem cái gì cho những ác nhân như bọn này, mà chỉ nên bố thí cúng dường những người đức hạnh.
Rồi bà ngâm kệ:
21.               Maṇḍavya, tiểu trí thật ngu đần,
                    Chẳng biết lúc nào đáng bố ân,
                    Con cúng dường bao người trọng tội,
                    Lũ người vô độ, bọn tà nhân.
22.               Xiêm áo bằng da, mớ tóc xù,
                    Miệng như giếng cũ, cỏ tràn bờ,
                    Hãy nhìn giẻ rách bầy kia mặc,
                   Các thứ này không cứu lũ ngu.
23.              Hễ khi tham dục với cuồng sân,
                   Được tống ra ngoài các thế nhân,
                   Bố thí hiền nhân thanh tịnh ấy,
                   Quả nhiều cho việc đã làm ăn.
-  Vậy từ nay về sau, con đừng bố thí cho hạng người ác như thế này, mà chỉ nên bố thí cúng dường những kẻ nào ở trên đời này đạt Tám thiền chúng, là những nhà tu khổ hạnh, các Sa môn, Bà-la-môn chân chính đã chứng Năm Thắng trí, các vị Độc Giác Phật. Này con, để mẹ đưa loại thuốc tiên bất tử này cho bọn gia nhân của ta đây và làm chúng bình phục.
 Nói vậy xong, bà lấy miếng cháo thừa ấy đổ vào một bình nước và rảy lên miệng mười sáu ngàn Bà-là-môn kia. Mọi người đều đứng dậy và phủi hết bụi bặm.
 Sau đó, vì các Bà-la-môn này đã phải nếm thức ăn thừa của một Chiên-đà-la, nên bị các Bà-la-môn khác tống xuất ra khỏi giai cấp ấy. Đầy ô nhục, bọn họ rời thành Ba-la-nại và đi về vương quốc Mejjha, tại đây họ ở chung với vua xứ đó. Còn Maṇḍavya vẫn ở chốn cũ.
 Vào thời đó, có một Bà-la-môn tên là Jātimanta, là một kẻ tu hành, ở gần kinh thành Vettavatī trên bờ song có cùng tên ấy, ông là kẻ rất kiêu mạn về dòng dõi của mình. Bậc Đại sĩ liền đến đó, quyết đập tan lòng kiêu mạn của người kia, ngài dựng am trú ngụ gần đó, sống ở phía thượng nguồn con sông.
 Một hôm, sau khi xỉa răng xong, ngài thả cái tăm xuống dòng nước, cố ý để cho nó vướng vào búi tóc của Jātimanta; vì vậy, trong khi kẻ ấy đang tắm trong dòng nước sông, cái tăm ấy vướng vào búi tóc ông.
 -  Đồ súc sinh!
Ông nói, trong khi thấy cái tăm:
- Nó từ đâu đến đây với cái đồ phá hoại này. Ta phải tìm xem.
Ông liền đi ngược dòng, khi thấy bậc Đại sĩ liền hỏi:
- Ông thuộc giai cấp nào?
-Ta là một Chiên-đà-la.
- Có phải ông đã thả cây tăm xuống sông chăng?
- Chính phải.
- Đồ súc sinh, quân tồi tàn hạ đẳng! Đồ mắc dịch, không được ở đây! Mà phải đi xuống chỗ hạ lưu kia.
Song khi ngài xuống ở vùng hạ lưu, cái tăm ngài thả trôi ngược dòng nước vẫn vướng vào tóc Jātimanta. Ông mắng:
 -   Quân đáng nguyền rủa! Nếu ngươi ở đây trong bảy ngày nữa, đầu ngươi sẽ tan thành bảy mảnh.
 Bậc Đại sĩ suy nghĩ: “Nếu ta buông mình theo cơn thịnh nộ với gã này, thì ta không giữ được công đức, song ta sẽ tìm cách phá tan lòng kiêu mạn của gã.”
 Vào ngày thứ bảy, ngài ngăn cản mặt trời mọc, cả trần gian đều tối tăm nên dân chúng kéo đến vị tu khổ hạnh Jātimanta và hỏi:
 -  Thưa Tôn giả, có phải chính ngài ngăn cản mặt trời mọc chăng?
 Gã đáp:
  -   Việc đó không phải do ta làm, mà có một lão Chiên-đà-la sống gần bờ sông, chắc lão ấy làm đấy.
Sau đó dân chúng đến gặp bậc Đại sĩ và hỏi lại:
 -   Thưa Tôn giả, có phải chính Tôn giả ngăn cản mặt trời mọc chăng?
 Ngài đáp:
  -  Này các hiền hữu, chính phải!
Họ hỏi:
- Tại sao thế?
- Vị tu khổ hạnh được các hiền hữu quý mến đã phỉ báng ta, một người vô tội, vậy khi nào vị đó đến quỳ dưới chân ta để xin thương xót thì ta mới để cho mặt trời mọc lên.
Dân chúng đi kéo lê kẻ ấy rồi thả ông xuống trước chân bậc Đại sĩ và cố sức vỗ về ngài vừa nói:
- Thưa Tôn giả, xin cho mặt trời mọc.
Song ngài đáp:
-Ta không thể để mặt trời mọc được, vì nếu ta làm như thế, đầu kẻ này sẽ vỡ thành bảy mảnh.
Họ hỏi:
- Thưa Tôn giả, vậy chúng tôi phải làm gì?
- Hãy đem cho ta một cục đất!
Họ đem lại một cục đất.
- Nào, hãy đặt cục đất lên đầu kẻ khổ hạnh này, rồi kéo gã xuống nước.
 Sau khi sắp đặt mọi việc này xong, ngài để cho mặt trời mọc lên. Vừa khi mặt trời được di chuyển tự do, cục đất nứt thành bảy mảnh, còn kẻ tu khổ hạnh nhảy tùm xuống nước.
     Sau khi đã hàn phục gã như vậy, bậc Đại sĩ suy nghĩ: “ Mười sáu ngàn Bà-la-môn kia hiện ở đâu?” Ngài nhận ra bọn ấy đang ở với vua Mejjha, và cũng quyết định đi hàn phục họ, nên dùng thần lực, ngài hạ xuống vùng ngoại thành, cầm bình bát trong tay, đi khất thực. Khi các Bà-la-môn thấy được ngài, họ bảo nhau:
    -    Chỉ để lão ở đây hai ngày thôi là lão sẽ làm ta mất nơi nương tựa!
   Bọn ấy vội vàng chạy đến yết kiến vua và kêu to:
   -  Tâu Đại vương, có một lão khoác lác đại bịp đến đây, xin hãy bỏ tù lão!
  Vua rất sẵn sàng. Còn bậc Đại sĩ với bát thức ăn đủ loại đang ngồi ăn trên bức thành trên một chiếc ghế dài. Tại đó, trong khi ngài đang bận ăn uống, đám thị vệ của vua tìm đến, lấy kiếm đánh ngài rồi giết đi. Sau khi mạng chung, ngài tái sanh lên cõi Phạm thiên.
   Chuyện kể rằng, trong kiếp này Bồ-tát là một người luyện thú mongoose ( một giống chồn ở Ấn Độ) và ngài phải chịu chết vì công việc hạ tiện này. Các vị thần nổi giận liền trút xuống toàn vương quốc Mejjha một trận lửa tro nóng rực, quét sạch nước ấy ra khỏi các nước kia.
   Vì thế có lời lưu truyền:
24.        Người ta kể chuyện cả non sông
            Của xứ Mejjha phải diệt vong,
            Nước kia bị xóa tan bờ cõi
            Vì giết Mātaṅga, bậc lẫy lừng.
                                                              *
    Khi bậc Đạo sư đã chấm dứt Pháp thoại này. Ngài bảo:
  -   Đây không phải là lần đầu tiên vua Udena phỉ báng các vị tu khổ hạnh, mà xưa kia cũng thế.
  Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
 -  Vào thời ấy, vua Udena là Maṇḍavya và Ta chính là bậc Hiền trí Mātaṅga.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây