Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 20: 460. CHUYỆN THÁI TỬ YUVAÑJAYA - Phần 5 (trang 135-141)

                                                460. CHUYỆN THÁI TỬ YUVAÑJAYA
                                                              (TIỀN THÂN YUVAÑJAYA)
  Con xin đảnh lễ đấng Quân vương...
 Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về Đại sự xuất thế của Ngài.
Một ngày kia, các Tỷ-kheo tụ họp trong Chánh pháp đường:
 -    Này Hiền hữu, một vị Tỷ-kheo bảo vị kia, đấng Thập Lực trước kia hẳn có thể sống tại gia, có thể làm một vị Chuyển luân Thánh vương ở giữa đại thế giới đầy đủ báu vật, vinh quang với bốn Thần lực siêu phàm, được đám vương tử vây quanh hơn ngàn vị. Tuy thế, Ngài đã từ bỏ mọi cảnh vinh quang ấy khi Ngài nhận thấy mối nguy hiểm nằm trong tham dục. Nửa đêm, cùng với Channa (Xa-nặc), Ngài cỡi vương mã Kanthaka (Kiền-trắc) của Ngài và ra đi.  Trên bờ sông, Anomā, dòng sông vẻ vang ấy, Ngài từ giã thế tục và suốt sáu năm liền, Ngài sống khổ hạnh ép xác, sau đó Ngài tự tu tập và chứng đắc Chánh Đẳng Giác.
 Tăng chúng nói với nhau như vậy về công hạnh của đức Phật. Bậc Đạo sư bước vào hỏi:
-    Này các Tỷ-kheo, trong lúc ngồi đây, các ông đang nói về vấn đề gì?
Tăng chúng thưa với Ngài. Bậc Đạo sư bảo:
-    Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu tiên Như Lai làm Đại sự xuất thế. Ngày xưa, Ngài đã từ bỏ ngai vàng ở vương quốc Ba-la-nại rộng đến mười hai dặm.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
                                                                           *
    Một thuở nọ, có một vị vua mệnh danh là Sabbadatta cai trị thành Ramma. Kinh thành mà nay ta gọi là Ba-la-nại đã được gọi là Surundhana trong tiền thân Udaya (số 45), cũng là Sudassana trong tiền thân Cūḷasutasoma (số 525), hay là Brahmavaḍḍhana trong tiền thân Soṇananda
(số 532), và là Pupphavatī trong tiền thân Khaṇḍahāla (số 542). Còn trong tiền thân Yuvañjaya này, nó lại có tên là thành Ramma. Như vậy tên đó thay đổi theo nhiều hoàn cảnh.
     Thời ấy, vua Sabbadatta có một ngàn vương tử và ngài phong chức phó vương cho Thái tử Yuvañjaya.
      Một sáng sớm kia, thái tử ngự lên vương xa lộng lẫy của chàng trong quang cảnh cực kỳ uy nghi, chàng nhàn du trong vườn thượng uyển. Khắp các đỉnh cây, ngọn cỏ, đầu cành, trên các mạng nhện giăng tơ qua các đầu ngọn lau, chàng thấy các giọt sương lủng lẳng như vô số xâu chuỗi ngọc trai. Chàng hỏi:
-     Này hiền hữu quản xa, cái gì đây?
-     Tâu điện hạ, đây là chất lỏng rơi xuống trong mùa lạnh, mà người ta gọi là sương mai.
Thái tử tiếp tục du ngoạn vui chơi trong ngự viên trọn ngày hôm đó. về chiều, khi chàng quay lại lối cũ, chàng không còn thấy hạt sương nào nữa. Chàng hỏi:
-     Này hiền hữu quản xa, những hạt sương đâu rồi? Nay ta không còn thấy chúng nữa.
Vị kia đáp:
-     Tâu điện hạ, khi mặt trời lên cao, sương tan hết và chìm xuống đất.
Nghe vậy, thái tử thất vọng bảo:
-     Đời người ta cũng được tạo thành chẳng khác gì các giọt sương mai trên ngọn cỏ. Ta cần phải thoát khỏi gánh nặng bức bách của bệnh tật, tuổi già và chết chóc. Ta phải từ giã song thân và rời thế tục.
    Như vậy là do nhân duyên các giọt sương mai, chàng nhận thức ba cõi sinh hữu (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới) như thể đang ở trong ngọn lửa cháy bừng. Khi chàng về cung, chàng vào yết kiến phụ vương trong Đại pháp đình nguy nga của ngài. Đảnh lễ vua cha xong, chàng đứng sang một bên và ngâm vần kệ đầu để xin phép vua cha được rời thế tục:
1.                Con xin đảnh lễ đấng quân vương,
                   Giữa ngự quan, bằng hữu, đại thần,
                   Hoàng thượng, con mong rời thế tục,
                  Xin hoàng thượng chẳng chối từ con.
Kế đó, vua ngâm vần kệ thứ hai để khuyên can chàng:
2.                        Con có mơ gì, hỡi Dũ-vân,
                           Cha ban tròn vẹn mọi cầu mong,
                           Nếu ai làm hại, cha che chở,
                           Con chớ làm tu sĩ ẩn thân.
Nghe thế, thái tử ngâm vần kệ thứ ba:
3.                        Chẳng có ai làm hại đến con,
                           Ước mơ con đạt được vuông tròn,
                          Song con muốn kiếm nơi an trú,
                          Mà tuổi già không phá mỏi mòn.
Bậc Đạo sư ngâm nửa vần kệ để giải thích vấn đề này:
4.                       Thái tử tâu vầy với phụ vương,
                         Vua cha liền phán bảo cùng con:
(Nửa vần kệ sau do đức vua ngâm:)
                        “Đừng rời thế tục, này vương tử,
                          Dân chúng kinh thành thảy khóc thương.”
Vương tử lại đáp vần kệ này:
5.                      Đại đế, đừng làm trẻ phải xa,
                        Cuộc đời không tục lụy phù hoa,
                        Con e say đắm nhiều tham dục
                        Sẽ hóa mồi ngon của tuổi già.
Khi nghe nói điều này, vua cha phân vân do dự. Sau đó, mẫu hậu được tin:
-      Tâu lệnh bà, thái tử đang xin phép hoàng thượng để xuất gia.
Bà hỏi:
-        Ngươi nói gì thế?
   Tin ấy khiến bà ngạt thở, liền ngự vào chiếc kiệu bằng vàng, bà bảo đi nhanh đến Đại pháp đường và ngâm vần kệ thứ sáu:
6.                      Mẹ van con đó, hỡi con thân,
                          Và mẹ mong con phải ở gần,
                          Mẹ muốn gặp con hoài, thái tử,
                        Con đừng rời bỏ chốn phàm trần.
Khi nghe vậy, thái tử ngâm vần kệ thứ bảy:
7.                      Như đầu ngọn cỏ đọng hơi sương,
                          Khi mặt trời lên rực ánh dương,
                    Cũng vậy là đời người thế tục,
                    Xin đừng cản bước, mẹ hiền thương.
Chàng nói vậy xong, bà vẫn van xin chàng mãi, với mục đích ngăn cản chàng. Sau đó, bậc Đại sĩ tâu với vua cha vần kệ thứ tám:
8.                 Bảo người khiêng kiệu, hãy cùng nâng!
                   Đừng đề mẹ già cứ cản ngăn,
                   Con trẻ muốn đi vào Thánh đạo.
                   Xa đời sinh diệt, tấu Minh quân!
Khi vua cha nghe con nói, ngài phán:
 -     Này ái hậu, hãy lên kiệu về cung thường lạc của ta mà an nghỉ.
Trước lệnh của vua, đôi chân vương hậu quỵ xuống, rồi bà được đám cung nữ vây quanh dìu bà về. Khi bước vào hậu cung, đứng nhìn về phía Đại pháp đường, bà băn khoăn hỏi tin tức con mình. Sau khi mẫu hậu đi rồi, Bồ-tát lại xin phép vua cha lần nữa. Vua không thể từ chối chàng được, liền phán:
-     Này thái tử thân yêu, cứ làm theo ý nguyện của con và từ bỏ thế tục.
  Khi vừa nghe cha chấp thuận điều này, tiểu hoàng đệ của Bồ-tát là vương từ Yudhṭṭhila, đến đảnh lễ vua cha, và cũng xin phép theo đời xuất gia như thế, vua liền bằng lòng ngay.
   Cả hai vị vương tử từ biệt vua cha và giờ đây, sau khi từ bỏ mọi dục lạc thế gian, hai vị ra đi từ Đại pháp đường giữa đại chúng. Chánh hậu nhìn theo bậc Đại sĩ và than khóc:
  -    Thái tử đã từ giã thế tục, kinh thành Ramma này sẽ trống rỗng.
Rồi bà ngâm đôi vần kệ:
9.                 Nhanh lên, cầu hạnh phúc, con ôi!
                   Ta chắc Ramma trống vắng thôi,
                   Đại đế Sabba vừa chấp thuận,
                   Dũ-vân thái tử xuất gia rồi.
10.               Thái tử. đại huynh giữa cả ngàn,
                    Hoàng nhi trông dáng thật như vàng,
                   Từ đây vương tử oai hùng đã
                   Đắp chiếc y vàng, bỏ thế gian.
    Bồ-tát không đi ngay lên đưòng tu hành. Không, trước tiên ngài đến từ biệt song thân, rồi cùng với tiểu đệ là vương tử Yudhiṭṭhila, ngài rời kinh thành và bảo đám đại chúng đang theo sau hai vị phải quay về, còn hai vị
tiến lên vùng Tuyết sơn. Tại đó, hai vị dựng lên mội thảo am ở một chốn đầy an lạc và hành trì cuộc đời của bậc hiền nhân thanh tịnh tu tập thiền định hướng thượng. Hai vị sống suốt đời bằng các củ quả rừng rồi được sinh lên cõi Phạm thiên.
    Vấn đề này được giải thích qua vần kệ cuối cùng, phái xuất từ Trí tuệ tối thắng của đức Phật:
11.                 Vương tử Dũ-thi với Dũ-vân,
                     Sống đời thanh tịnh của hiền nhân,
                     Giã từ vương phụ và vương mẫu,
                     Chặt đứt làm đôi xích tử thần.
                                        *
    Khi bậc Đạo sư đã chấm dứt Pháp thoại, Ngài bảo:
  -   Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu Như Lai từ bỏ vương quốc để đi theo đời tu hành, mà ngày xưa cũng đã làm như thế.
    Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
    -    Thuở ấy, song thân trong hoàng tộc ngày nay là vương phụ và mẫu hậu, Ānanda là tiểu đệ Yudhiṭṭhila và thái tử Yuvañjaya chính là Ta.
                               461.  CHUYỆN ĐẠI VƯƠNG DASARATHA
                                                 (TIỀN THÂN DASARATBA)
   Lakkhaṇa hiền đệ lẫn Sītā...
  Chuyện này bậc Đạo sư kể tại Kỳ Viên về một người địa chủ có cha chết.
  Khi người cha từ trần, lòng ngưòri ấy tràn ngập đau buồn, bỏ dờ mọi công việc của mình, ông chìm đắm trong nỗi u sầu. Vào một buổi sáng, bậc Đạo sư nhìn xuồng thế gian, nhận thấy người ấy đã đến thời kỳ thành thục để đắc quả Dự Lưu. Hôm ấy khi đã đi khất thực tại Xá-vệ và thọ thực xong, Ngài bảo các Tỷ-kheo lui về, rồi Ngài đem theo một Tỷ-kheo trẻ đi đến nhà người ấy. Ngài chào ông và nói với ông trong lúc Ngài ngồi đó bằng những lời ngọt ngào như mật:
  -       Này cư sĩ, ông đang sầu muộn phải chăng?
  -   Thưa vâng bạch Thế Tôn. Con đang buồn vì cha con mất!
Bậc Đạo sư bảo:
  -     Này cư sĩ. các bậc trí nhân ngày xưa hiểu rõ Tám pháp của thế giới này (được và mất, vinh và nhục, khen và chê, lạc và khổ), nên khi cha mất, các ngài không thấy đau buồn, dù chỉ mảy may.
   Rồi theo lời thinh cầu của ông, Ngài kể một chuyện quá khứ.
                                                               *
    Một thuở nọ, tại Ba-la-nại, một vị Đại vương mệnh danh Dasaratha, từ bỏ các ác đạo và cai trị theo Chánh pháp.           Trong số mười sáu ngàn cung phi, vị chánh hậu sinh hạ hai vương tử và một công chúa; thái tử được đặt tên là Rāmapaṇḍita hay hiền giả Rāma. Vị thứ hai được đặt tên Lakkhaṇa hay Cát Tường và tên công chúa là Sītā hay Thanh Lương.
   Theo thời gian, chánh hậu qua đời. Lúc bà từ trần, vua bị nổi đau buồn xâm chiếm trong một thời gian, nhưng khi được triều thần thúc giục, ngài cử hành tang lễ bà xong, lại phong cho một vương phi khác lên làm chánh hậu. Bà này đuợc vua hết sức sủng ải. Sau đó bà thụ thai, được vua chăm sóc rất
ân cần chu đáo và sinh hạ một hoàng nam, đặt tên là vương tử Bharata.
     Vua rất yêu quý vương tử ấy và bảo chánh hậu:
      -    Này ái khanh, ta ban cho nàng một ân huệ, nàng hãy chọn đi.
Bà nhận đặc ân trên, nhưng xin vua cho bà hoãn lại sự lựa chọn ấy một thời gian. Khi vương nhi lên bảy tuổi, bà đến yết kiến vua và tâu:
    -    Tâu thánh thượng, ngài đã hứa ban một đặc ân cho vương tử, con của thần thiếp, giờ đây xin ngài ban cho thần thiếp được chăng?
Vua phán:
  -    Ái khanh hãy chọn đi.
Bà bảo:
 -    Tâu thánh thượng, xin ban vương quốc này cho con thần thiếp.
Vua tỏ vẻ bất cần đối với bà:
-    Lui ra ngay, này ác nữ nhân! Ngài phán một cách giận dữ. Hai vương nhi của ta sáng rực như hai ngọn lửa hồng, ngươi muốn giết chúng đi rồi đòi ngai vàng cho con của ngươi đấy chăng?
Bà hoảng sợ chạy về cung thất nguy nga của bà, rồi các ngày tiếp theo, lại cố xin vua đặc ân ấy mãi. Vua không chấp thuận ban cho bà ân huệ ấy. Ngài nghĩ thầm: “Nữ nhân thường vong ân và phản bội, ác phụ này có thể dùng chiếu chỉ giả mạo hay hối lộ gian trá để sai giết các con ta.” Vì vậy, ngài cho triệu hai con đến và kể hết mọi việc cho con nghe, rồi phán:
-    Này hai vương nhi, nếu các con ở đây chắc tai họa có thể xảy ra cho các con. Vậy hãy qua vương quốc bên cạnh ta, hoặc vào rừng, rồi khi thân ta đã được hỏa táng, hãy trở về thừa kế vương vị thuộc về gia tộc của các con.
Sau đó, ngài triệu các thầy tướng số đến hỏi về thọ mạng của ngài. Họ tâu rằng ngài có thể sống thêm mười hai năm nữa. Rồi ngài bảo:
-    Này các con, sau mười hai năm các con phải trở về và giương cao chiếc lọng của hoàng gia.
Hai vương tử hứa lời xong và vừa đi khỏi cung điện vừa khóc lóc. Công nương Sītā nói:
-    Ta cũng sẽ đi cùng hai vương huynh.
  Nàng vào từ biệt phụ vương, vừa ra đi vừa khóc lóc.
  Cả ba anh em lên đường giữa đám đông dân chúng. Ba vị bảo dân chúng lui về, rồi tiến lên cho đến khi đi tận vùng Tuyết sơn. Tại đó, ở một nơi có nước chảy nhiều và thuận tiện để hái quả rừng, hai vị dựng am tu
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây