Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
Yêu kiều dung sắc vượt liên hoa,
Kìa xem, chúng chỉ chiều tôn ý,
Xin nhận lời ban tặng của ta.
Aḷāra nói tiếp:
27. Một năm thiên lạc hưởng tràn đầy,
Ta hỏi Long vương một chuyện này:
“Sao được tiên cung làm nội thất,
Làm sao cung điện đến phần ngài?
28. Tiên cảnh này thành tựu ngẫu nhiên,
Được ngài xây, tặng vật chư Thiên?
Long vương xin nói điều chân thật,
Sao đến an nhàn ở cảnh tiên?”
Sau đây là các vần kệ đối đáp nhau giữa đôi bên:
Long vương:
29. Chẳng phải tình cờ, chẳng tự nhiên,
Chẳng do ta tạo, hoặc chư Thiên,
Chính nhờ thiện nghiệp ta, ngài biết,
Nhờ đức hạnh, ta hưởng cảnh tiên.
Aḷāra:
30. Hạnh nguyện gì, đâu Thánh đạo cao,
Đức gì tích trữ phước ngày sau?
Long vương, xin nói, ta mong biết
Ngài hưởng tiên cung bởi cách nào?
Long vương:
31. Ma-kiệt-đà, xưa chính đại vương,
Duy-yo vương tử, tiếng hùng cường,
Thấy đời hèn hạ và không ổn
Nếu chẳng tinh thông đạt thiện toàn.
32. Rượu, thịt, ta đem lễ cúng dâng
Phát ban mọi chốn, khắp xa gần,
Nhà như quán trọ, bao người đến,
Hiền, Thánh giải lao, đỡ nhọc thân
33. Ta nguyện lời kia, sống trọn đời
Cung này, nhờ đó, sau cùng hưởng
Thực phẩm tràn đầy chứa khắp nơi.
Aḷāra:
34. Cuộc đời dù sáng rực bao ngày,
Vũ khúc, hoan ca chẳng kéo dài,
Kẻ yếu hại ngài vì đại lực,
Lũ hèn làm dũng sĩ xa bay;
Răng thần sao đấu không cân sức,
Ngài chịu thua bầy hạ tiên vầy?
35. Ngài chịu đau vì quá hãi hung,
Do đâu nọc độc đã tiêu vong?
Sao ngài thần lực đầy răng ấy,
Mà phải chịu đau bởi ác nhân?
Long vương:
36. Ta chẳng thua vì quá hãi hùng,
Chẳng ai làm đại lực tiêu vong,
Mọi người thừa nhận bao công đức
Như biển bờ cao, chẳng ngập tràn.
37. Ngày trai mỗi tháng giữ hai lần,
Chính buổi kia ngăn chặn bước đàng,
Mười sáu chàng trai, tay nắm đủ
Dây thừng, thòng lọng cực kỳ sang.
38. Bọn ác nhân đâm thủng mũi ta,
Xuyên dây thừng ấy, kéo ta qua,
Đớn đau ta chịu, ôi đành phận,
Giữ Thánh nhật cho khỏi phạm mà.
Aḷāra:
39. Thấy trên đường vắng, trải giăng dài
Hình đẹp, khổng lồ, đại lực oai,
“Bậc trí hiển vinh,” ta hét lớn,
“Sao nguyền đời khổ hạnh, thưa ngài?”
Long vương:
40. Ta chẳng cầu con, chẳng ước giàu,
Song trên nhân thế t among sống
Nỗ lực, anh hùng đạt đích cao.
Aḷāra:
41. Tóc râu chải chuốt, dáng oai hùng,
Phục sức hoàng y, mắt lửa bừng,
Đỏ thắm chiên-đàn, ngài rực rỡ
Xa xa, nào khác Nhạc thiên thần.
42. Hưởng bao ân huệ lộc trời cho,
Đầy đủ mọi điều dạ ước mơ,
Ta hỏi Long vương, xin nói thật,
Cõi người sao lại muốn an cư?
Long vương:
43. Không đâu trừ thế giới người đời
Thanh tịnh, điều thân được thấy rồi,
Chỉ sống giữa đời người thế tục,
Đoạn trừ sinh tử kiếp sau thôi.
Aḷāra:
44. Dù hưởng đầy hoan lạc dị thường,
Cùng Long vương sống suốt năm trường,
Giờ ta vĩnh biệt, ra đi mãi,
Không ở nữa, vì xa cố hương.
Long vương:
45. Thê nhi trẫm với lũ cung nhân
Được luyện hầu ngài, lệnh phục tuân,
Chắc chẳng kẻ nào gây xúc phạm,
Vì ngài, trẫm thấy rất thương thân.
Aḷāra:
46. Đủ mặt mẹ cha thắm thiết tình,
Hân hoan tràn ngập cả gia đình,
Còn nhiều người quý yêu con trẻ,
Song lạc tối cao giữa chúng sinh
Ta được thấy đây Long đế hỡi,
Vì ngài đầy thắm thiết bên mình.
47. Bảo châu trẫm có điểm hồng vân
Đem đại phú cho kẻ thiếu phần,
Nhận lấy về nhà, khi phú quý
Xin đưa trả ngọc lại Long quân.
Ẩn sĩ sau khi nói xong những lời này, liền tiếp tục như sau:
- Tâu Đại vương, sau đó ta đáp lời Long vương: “Tâu Đại đế, ta không màng giàu sang, ta chỉ muốn xuất gia tu hành”
Sau khi xin ban đủ mọi vật cần thiết cho đời sống tu hành ẩn sĩ, ta từ giã cảnh giới Nāga cùng với Long vương, và khi đã mời ngài trở lui về, phần ta vào vùng Tuyết sơn tu tập.
Nói xong, ẩn sĩ này lại thuyết giáo cho vua Ba-la-nại và ngâm thêm hai vần kệ:
48. Dục tham trần thế thoáng qua nhanh,
Chẳng phục tuân quy luật trưởng thành,
Thấy khổ phát sinh từ ái dục,
Tín tâm dẫn bước đến tu hành.
49. Người tàn như trái rụng, tiêu vong,
Già trẻ, muôn loài rã mục thân,
Ta chỉ trú an trong Thánh hạnh,
Tối ưu là thực thể thuần chân.
Nghe lời này, vua ngâm kệ đáp lời:
50. Bậc hiền có trí tuệ uyên thâm,
Chư vị tu hiền định chú tâm
Đề mục tối cao, mà tất cả
Chúng ta phải luyện tập tinh cần;
Nghe lời ngài dạy cùng Long đế,
Trẫm thực hành toàn nghiệp thiện chân.
Vị ẩn sĩ muốn khuyến khích tinh tấn lực của vua, liền ngâm kệ kết thúc:
51. Bậc hiền có trí tuệ uyên thâm,
Chư vị tu hiền định chú tâm
Đề mục tối cao, mà tất cả
Chúng ta phải luyện tập tinh cần;
Chúa thượng thực hành nghiệp thiện chân.
Vị này thuyết giáo như vậy với vua và sau khi ở lại đó bốn tháng mùa mưa, liền trở về Tuyết sơn sống và tu tập Tứ vô lượng tâm đến khi mạng chung, được tái sinh Phạm thiên giới.
Còn vua Saṅkhapāla trong suốt quãng đời còn lại, chuyên tâm hành trì các ngày trai giới, bố thí cùng nhiều thiện sự khác, nên sau khi mạng chung, ngài đi theo nghiệp của mình.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo sư nhận diện tiền thân:
Thời bấy giờ, vị vua cha trở thành ẩn sĩ khổ hạnh chính là Kassapa (Ca-diếp), vua Ba-la-nại là Ānanda (A-nan), ẩn sĩ Aḷāra là Sāriputta (Xá-lợi-phất) và Long vương Saṅkhapāla chính là Ta.
(TIỀN THÂN CULLA SUTASOMA)
Hiền hữu, thần dân tụ họp đây…
Câu chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về sự tu tập viên mãn hạnh xuất gia của Ngài.
Phần đầu câu chuyện tương ứng với phần đầu của Tiền thân Mahā Nārada Kassapa (số 544, tập VII).
*
Ngày xưa, tại thành Ba-la-nại, ngày nay là kinh thành Sudassana, có vua Brahmadatta trị vì. Chánh hậu của ngài sinh ra Bồ-tát. Khuôn mặt ngài sáng rực như trăng rằm, vì thế ngài được đặt tên Somakumāra (Nguyệt Cung vương tử). Khi ngài đến tuổi trưởng thành, vì ngài thích uống nước trái cây soma và hay có thói quen tưới rượu lễ vào đó nên ngài được mệnh danh Sutasoma (người làm rượu Soma)
Đến tuổi khôn lớn, ngài được truyền dạy các môn học thuật tại Takkasilā và khi trở về nhà, ngài được vua cha ban chiếc lọng trắng. Ngài trị vì quốc độ rất đúng pháp, cai quản cả một lãnh thổ rộng lớn cùng mười sáu ngàn cung tần, với nàng Candadevī làm chánh hậu. Dần dần, hoàng gia càng thêm đông đúc, ngài đâm nhàm chán với cuộc sống gia đình nên lui vào rừng, mong ước thọ trì giới luật tu hành. Một ngày kia, ngài triệu người hớt tóc vào, phán bảo:
- Khi nào khanh thấy sợi tóc bạc trên đầu trẫm, khanh phải nói cho trẫm biết.
Người hớt tóc tuân lệnh, sau đó thấy một sợi tóc bạc, liền tâu với ngài ngay. Vua bảo:
- Vậy khanh hãy nhổ ra và đưa cho trẫm.
Người hớt tóc lấy cái nhíp vàng nhổ ra và đặt vào tay ngài. Bậc Đại sĩ thấy sợi tóc bạc , kêu to:
Rồi ngài kinh hoàng cầm sợi tóc bạc bước xuống lầu, ngự lên ngai đặt trước thần dân.
Sau đó, ngài triệu tám mươi ngàn triều thần do vị đại tướng cầm đầu và sáu mươi ngàn Bà-la-môn do vị tế sư của triều đình lãnh đạo, cùng nhiều cận thần và dân chúng đến bảo:
- Tóc bạc đã xuất hiện trên đầu trẫm, trẫm đã già rồi, các khanh phải biết rằng trẫm muốn thành ẩn sĩ.
Rồi ngài ngâm vần kệ đầu:
1. Hiền hữu, thần dân tụ tập đây,
Quân sư tin cẩn, hãy nghe vầy:
“Giờ đầu tóc bạc ta dần hiện,
Ta muốn trở thành ẩn sĩ ngay.”
Nghe vậy, mỗi người trong đám kia đều thất vọng ngâm vần kệ này:
2. Bất xứng lời kia đã thốt ra,
Mũi tên Hoàng thượng thấu tim ta,
Bảy trăm cung nữ, tâu Hoàng thượng,
Sẽ thế nào khi chúa xuất gia?
Tiếp theo, bậc Đại sĩ ngâm vần kệ thứ ba:
3. Kẻ khác sẽ khuyên chúng hết buồn,
Chúng đều kiều diễm, tuổi thanh xuân,
Còn ta hướng đích lên Thiên giới,
Nên muốn làm tu sĩ ẩn thân.
Các vị quân sư không thể nào đáp lời vua được liền đi yết kiến thái hậu và trình câu chuyện với bà. Thái hậu liền vội vã đi đến hỏi vua:
- Này vương nhi, quần thần bảo rằng vương nhi muốn làm ẩn sĩ, có đúng chăng?
Bà lại ngâm hai vần kệ:
4. Than ôi!Ngày bất hạnh như vầy,
Ngày được vương nhi gọi mẹ đây,
Vì quá vô tình nhìn lệ thảm,
Con đành làm ẩn sĩ từ nay.
5. Bạc phận, than ôi, quả đúng thời
Soma yêu quý đã chào đời!