Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 7:  445. CHUYỆN VUA ĐA - Phần 5 (trang 45-51)

Vua bảo làm như thế; nên phần cây cọc nằm trong thân ông vẫn còn đó. Vì chuyện kể rằng trước kia có lần ông cầm một viên kim cương nhỏ đâm thủng ống mật của một con ruồi nọ để nó khỏi chết, cho đến lúc nó tận số. Nhờ vậy ông cũng không chết luôn. Chuyện kể như thế.
Còn nhà vua đảnh lễ hai vị ẩn sĩ, xin thứ lỗi, rồi đem hai vị vào trú ngụ trong ngự viên, và chăm sóc hai vị tại chỗ ấy. Cũng từ đó, Maṇḍavya được gọi là “Maṇḍavya mang cái cọc,” cứ sống ờ nơi này gần gũi nhà vua. Phần Dīpāyana, sau khi chữa lành vết thương cho bạn xong, lại trở về với bạn xưa là gia chủ Maṇḍavya. Khi gia nhân nhận thấy vị này đi vào am thất cũ,liền đi báo tin với gia chủ. Ông chủ nghe tin lòng rất hoan hỷ, cùng với vợ con đem nhiều hương liệu, tràng hoa, dầu, đường đi đến am thất đảnh lễ Dīpāyana, rửa chân và xoa dầu thơm cho vị này xong, đem mời nước uống và ngồi lắng nghe câu chuyện ẩn sĩ Maṇḍavya mang cây cọc.
Bấy giờ, con trai của gia chủ là nam tử Yaññadatta, đana chơi đùa với quả cầu ở cuối mái hiên. Tại đó, có một con rắn sống trong một ổ kiến. Trái cầu của cậu trai bị ném xuống đất, chạy tọt vào lỗ kiến kia và rơi nhằm con rắn. Vì không biết sự này, cậu thò tay vào lỗ. Con rắn tức giận cắn tay cậu. khiến cậu ngã xuống bất tỉnh vì nọc độc của rắn quá mạnh. Sau đó. cha mẹ cậu thấy con bị rắn cắn, liền nâng con dậy đem đến vị ẩn sĩ kia, đặt cậu nằm dưới chân vị này và nói:
     -      Thưa Tôn giả, các bậc tu hành thường biết các cây thảo dược và bùa chú, xin Tôn giả chữa trị cho con chúng tôi.
    -      Ta đâu biết gì về thảo dược, ta chẳng làm nghề y sĩ bao giờ.
    -      Thưa Tôn giả, ngài là bậc tu hành xin thương xót thằng bé này và thực hiện một lời nguyện cầu chân thật.
   Vị ẩn sĩ đáp:
    -      Được lắm, ta sẽ thực hiện một lời nguyện cầu chân thật
    Rồi vừa đặt tay lên đầu Yanññadatta, ông vừa ngâm vần kệ đầu-
   1.                 Bảy ngày tâm trí thật thong dong,
                       Thanh tịnh sống đời ước lập công,
                      Từ đó năm mươi năm ẩn dật,
                     Chú tâm, ta bộc bạch lời chân,
                      Nơi đây ta sống dù không muốn,
                     Lời thật này mong tạo phước ân,
          Khiến nọc độc không còn hiệu lực,
          Cậu trai này sẽ tỉnh lên dần.
   Chẳng bao lâu khi lời nguyện cầu chân thật này được thựchiện, thì chất độc phóng ra từ ngực của Yaññadatta và chui xuống đất. Cậu bé mở đôi mắt nhìn cha mẹ và kêu:
   -          Mẹ ơi!
   Rồi cậu quay người lại nằm im. Lúc ấy, hắc nhân Dīpāyana bảo người cha:
   -  Này, ta đã dùng hết khả năng của ta, nay đến thời bạn dùng khả năng của mình đi.
   Người cha đáp:
   -       Vậy tôi sẽ thực hiện lời nguyện cầu chân thật.
   Rồi vừa đặt tay lên ngực con trai, ông vừa ngâm vần kệ thứ hai:
   2.        Chẳng chút quan tâm vật cúng dường,
               Ta đem đãi mọi khách qua đường,
              Song người hiền trí chưa hề biết
             Ta đã tự kiềm chế bản thân;
             Dù bố thí, ta lòng miễn cưỡng,
             Cầu mong lời thật tạo hồng ân,
             Làm cho nọc độc thành vô hiệu,
            Thằng bé này đây được tỉnh dần.
    Sau khi ông thực hiện lời nguyện cầu chân thật này, từ lưng cậu bé nọc độc xuất ra và chui xuống đất. Cậu ngồi dậy, nhưng chưa thể đứng lên được. Lúc ấy người cha bảo người mẹ:
     -        Này phu nhân, ta đã dùng hết khả năng của ta, bây giờ chính bà dùng năng lực của mình phát lời nguyện cầu chân thật để làm cho con bà đứng lên và đi đuợc.
    Bà vợ đáp:
     -       Tôi cũng có một sự thật muốn nói ra, nhưng trước mặt quí vị tôi không thể nói được.
     Ông bảo:
      -       Này phu nhân, hãy dùng hết mọi phương cách làm cho con ta bình phục.
      Bà đáp:
       -      Thế thì tốt lắm.
      Và lời nguyện cầu chân thật của bà được đưa ra trong vần kệ thứ ba:
       3.                 Rắn nọ cắn con mới nãy giờ,
                        Nằm trong lỗ ấy, hỡi con thơ,
                        Và cha con đó, này ta bảo,
                         Là một, trong tim mẹ hững hờ,
                         Mong sự thật này mang phước đức,
                         Nọc tan, con trẻ tỉnh hồn mơ!
      Chẳng bao lâu sau khi lời nguyện cầu chân thật này được thực hiện thì tất cả nọc độc đều tuôn ra và chui xuống đất. Yaññadatta đứng dậy, toàn thân cậu đã được tẩy sạch hết chất độc, nên cậu bắt đầu chơi đùa. Khi cậu bé đã hồi tỉnh như thế xong, gia chủ Maṇḍavya hỏi về tâm tư của Dīpāyana qua vần kệ thứ tư:
      4.                 Người ta xuất thế, trí quang minh,
                         Thuần thục, tâm không chút bất bình,
                        Trừ bạn Kaṇha, sao thối chất,
                        Chẳng mong tiến bước đạo tu hành?
     Để đáp lại lời này, vị kia ngâm vần  kệ thứ năm:
     5.                 Xuất thế rồi quay lại cõi trần,
                          Chắc người ta nghĩ: “Kẻ ngu đần!”
                         Chính điều này khiến ta lùi bước,
                        Ta vẫn hành trì đạo Thánh nhân,
                        Tuy vậy ta không còn phát nguyện,
                        Ta theo Thánh đạo bởi nguyên nhân:
                        Được lời khen ngợi từ người trí,
                        Là cách người hiền thiện trú thân.
     Sau khi đã giải thích lối suy nghĩ của mình như vậy xong vị này hỏi Maṇḍavya lần nữa qua vần kệ thứ sáu:
     6.                 Nhà  bạn đây như thể quán ăn,
                         Chứa đồ ẩm thực để cung dâng,
                         La-môn, trí giả cùng du khách,
                         Thỏa mãn cơn khao khát, đói lòng,
                        Xong sợ điều gì gây tiếng xấu,
                        Nên lòng miễn cưỡng lại cho không?
   Đến lượt Maṇḍavya giải thích ý tưởng mình qua vần kệ thứ bảy:
   7.                  Giữ gìn Thánh hạnh các cha ông,
                       Là thí chủ ban phát rộng lòng,
                      Theo gót xưa, ta đầy cẩn trọng,
                      Sinh thời đường lối của gia tông,
                      Sợ mình sẽ biến thành suy thoái,
                       Nên miễn cưỡng lòng vẫn biếu không.
   Sau khi nói xong, Maṇḍavya hỏi vợ qua vần kệ thứ tám:
   8.                  Khi còn thiếu nữ trí ngây thơ,
                        Ta cưới bà về tự nhạc gia,
                        Bà chẳng bảo lòng ta lãnh đạm,
                        Làm sao bà sống cả đời bà,
                        Không tình gắn bó, không thương mến,
                        Bà đã vì đâu ở lại nhà,
                       Hỡi quí phu nhân đầy yểu điệu,
                       Sống đời lạnh lẽo thế cùng ta?
    Bà vợ đáp qua vần kệ thứ chín:
    9.                Chẳng phải là nề nếp cổ phong
                       Cho người làm vợ lại thay chồng,
                       Chẳng bao giờ thế, nên tôi vẫn
                       Giữ thói lề kia, kẻo ngại rằng
                       Tôi bị người xem là thoái hóa,
                      Chính niềm lo sợ tiếng đồn hung
                      Khiến tôi ở lại và chung sống
                     Chẳng có tình yêu, vẫn lạnh lòng.
     Sau khi vừa nói điều này ra xong, một ý nghĩ chợt đến với bà: “Nay ta đã nói điều bí mật kia với chồng ta rồi, cái điều bí mật chưa hề bao giờ được nói ra cả! Chắc chàng sẽ giận ta lắm. Vậy ta muốn được xin lỗi chàng ngay trước mặt vị ẩn sĩ này vốn là bạn chân tình của nhà ta!” Với mục đích trên, bà ngâm vần kệ thứ mười:
     10.                Giờ đây thiếp lỡ nói rồi
                           Những điều chẳng đáng nên lời nói ra,
                           Vì con, mong ước thứ tha,
                          Không gì hơn được mẹ cha nồng tình,
                       Yañña, con của chúng mình
                      Trước đây đã chết, hồi sinh bây giờ!
     Maṇḍavya nói:
     -   Thôi phu nhân hãy đứng dậy đi, tôi tha lỗi cho bà rồi. Từ nay bà đừng vô tình với tôi nữa, rồi tôi sẽ không bao giờ buồn phiền gì bà đâu.
     Còn Bồ-tát bảo Maṇḍavya:
      -      Trong khi thu thập được nhiều của cải bất chính, rồi bạn lại phân phát bố thí rộng rãi, song không có lòng tin rằng hành động ấy là hạt giống an lành mang lại dị thục quả, như thế là bạn sai lầm đấy. Trong tương lai, bạn hãy tin tưởng vào công đức của lễ vật bố thí, và bạn hãy bố thí cúng dường.
      Vị gia chủ hứa làm như vậy, và đến phiên mình nói với Bồ-tát:
      -     Thưa Tôn giả, chính Tôn giả cũng sai lầm khi nhận lễ vật của chúng tôi cúng dường trên bước đường Thánh hạnh mà lòng không phát nguyện tu hành. Giờ đây để cho hạnh nghiệp của Tôn giả mang lại nhiều phước quả dồi dào, xin từ nay về sau Tôn giả tiến lên trong Thánh đạo với lòng an tịnh thanh thản và tràn đầy thiên lạc.
      Rồi hai ông bà giã từ bậc Đại sĩ và ra về.
     Từ đó về sau, bà vợ thương yêu chồng mình, gia chủ Maṇḍavya giữ tâm thanh tịnh, đem của cải bố thí với đầy đủ lòng tin; còn Bồ-tát xua tan hết lòng thối thất, và tu tập các Thắng trí thiền định nên được sinh lên cõi Phạm thiên.
                                                                                  *
      Khi Pháp thoại này chấm dứt, Bậc Đạo sư tuyên thuyết các Sự thật. Bấy giờ, vào đoạn kết thúc các Sự thật, vị Tỷ-kheo thối thất đã được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu).
      Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
      -      Vào thời ấy, Ānanda là gia chủ Maṇḍavya; Visākhā (Tỳ-xá-khư) là bà vợ, Sāriputta (Xá-lợi-phất) là Maṇḍavya mang cái cọc và hắc nhân Dīpāyana chính là Ta.
                                   445. CHUYỆN VUA ĐA
                                  (TIỀN THÂN NIGRODHA)
   Người ấy là ai, ta chẳng hay...
   Chuyện này bậc Đạo sư kể tại Trúc Lâm về Devadatta (Đề-bà-đạt-đa).
   Một bữa nọ, các Tỷ-kheo bảo vị này:
  -        Này hiền hữu Đề-bà-đạt-đa, bậc Đạo sư cứu độ hiền hữu rất nhiều! Từ bậc Đạo sư, hiền hữu đã thọ đủ Tiểu giới và Đại giới; hiền hữu đã học Tam Tạng là tiếng nói của đức Phật; hiền hữu đã làm phát khởi thiền định trong tâm hiền hữu; vinh quang là lợi lạc của đấng Thập Lực thuộc về hiền hữu.
 Nghe vậy, vị này liền đưa lên một cọng cỏ và nói:
 -        Ta không thấy một điều lợi lạc nào mà Sa-môn Gotama đã tạo cho ta cả, dù chỉ bằng cọng cỏ này.
 Tăng chúng bàn tán việc ấy trong Chánh Pháp đường. Khi bậc Đạo sư bước vào, Ngài hỏi các vị ấy đang bàn luận điều gì trong lúc ngồi đó. Các vị trình lên Ngài. Ngài bảo:
 -        Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu, mà từ lâu cũng như bây giờ, Đề-bà-đạt-đa đã vô ơn và phản bội thân hữu.
 Rồi Ngài kể cho Tăng chúng một chuyện đời xưa.
                                               *
 Ngày xưa, một vị Đại vương danh hiệu là Magadha (Ma-kiệt-đà) cai trị ở thành Rājagaha (Vương Xá).
 Một thương nhân trong thành ấy cưới về nhà cho con trai mình một cô vợ, đó là con gái của một thương nhân ở thôn quê. Song nàng ấy không sinh sản gì. Theo thời gian, vì nguyên cớ đó, lòng kính trọng đối với nàng giảm đi; cả nhà thường nói chuyện cho nàng có thể nghe được như vầy :
 -    Khi có một người vợ không sinh sản trong nhà, con trai ta làm sao nối dõi tông đường được?
 Khi chuyện này cứ đến tai nàng mãi, nàng tự nhủ: “ồ, được rồi ta sẽ
giả vờ mang thai để đánh lừa họ.”
    Thế là nàng hỏi vú già tốt bụng của nàng:
  -  Đàn bà có thai phải làm gì?
  Và khi được chỉ bảo những điều cần làm để giữ gìn thai nhi, nàng giấu kín thời kỳ hành kinh của nàng, lại tỏ ý thích ăn các vị chua mới lạ. Vào lúc tay chân bắt đầu to lên, nàng nhờ chúng bạn đập vào tay chân, và lưng cho đến khi chúng sưng phồng lên; dần dần nàng bó quanh người nàng bằng giẻ vụn và vải làm cho thân thể có vẽ lớn dần; lại bôi đen hai đầu vú nàng, và chỉ trừ bà nhũ mẫu ấy ra, chẳng ai được phép ở bên nàng lúc nàng tắm rửa. Chồng nàng cũng tỏ ra chăm sóc nàng chu đáo cho phù hợp với hoàn cảnh ấy.
   Sau chín tháng trôi qua trong cảnh này, nàng tỏ ý muốn trở về nhà sinh con trong nhà cha mẹ mình. Vì vậy, nàng từ giã cha mẹ chồng, lên xe cùng một số gia nhân từ bỏ thành Vương Xá lại đằng sau, thẳng tiến lên đường.
Lúc bấy giờ, trước mặt nàng có một đoàn xe ngựa đang du hành, và lúc nào nàng cũng đến vào khoảng giờ ăn điểm tâm ở địa điểm mà đoàn xe kia vừa mới ra đi. Vào một đêm kia, một người đàn bà nghèo khổ trong đoàn xe đã hạ sinh một con trai dưới gốc cây đa, và nghĩ rằng, nếu không có đoàn xe ấy bà không thể đi thêm được nữa; song nếu bà sống, bà có thể nhận được hài nhi ấy, nên bà quấn nó lại, để nó nằm dưới gốc cây đa. Vị Thần cây này săn sóc hài nhi. Đó không phải là một đứa bé bình thường, mà chính là Bồ-tát đã xuất hiện ở đời trong hình thức ấy.
    Vào giờ ăn sáng, đoàn lữ hành kia đã đến nơi đó; còn nàng ấy cùng nhũ mẫu của nàng đi riêng ra chỗ bóng mát của cây đa để rửa ráy, chợt thấy hài nhi có màu vàng chói nằm đó. Lát sau, nàng gọi bà nhũ mẫu bảo rằng mục tiêu của họ đã đạt được rồi; nàng liền mở các lớp vải quẩn bụng ra, tuyên bố hài nhi ấy là con nàng và nàng vừa mới sinh ra nó.
    Các kẻ hầu cận lập tức dựng lều để dành chỗ ở riêng cho nàng, và vô cùng hân hoan gởi một lá thư về thành Vương Xá. Cha mẹ chồng nàng đáp thư lại rằng vì hài nhi đã ra đời nên nàng không cần phải trở về nhà cha nàng nữa, mà hãy quay lui. Vì vậy, nàng lập tức trở về Vương Xá. Và gia đình chồng thừa nhận hài nhi ấy, nên khi hài nhi được đặt tên, họ đặt tên nó theo chốn nó ra đời, là Nigrodhakumāra hay Cậu bé đa.
    Cùng ngày hôm ấy, cô con dâu của một thương nhân trên đường về nhà cha ruột để sinh con, đã cho ra đời một bé trai dưới cành cây nên họ đặt
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây