Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 80: Chương Mười Sáu- Phẩm Ba Mươi Bài Kệ - Phần 6 (trang 559-565)

            Với tài chém giết bầy hoang thú,
            Vì trẫm, sẵn sàng bỏ mạng ngay.
Hoàng hậu nghe thế liền ngâm vần kệ bảo họ:
6.           Lạp hộ can trường tụ tập đây,
              Những lời ta nói, lắng nghe vầy:
              Dường như ta thấy trong cơn mộng
              Bạch tượng sáu ngà tuyệt mỹ thay,
              Ta ước bộ ngà, lòng khắc khoải,
             Chẳng còn gì đáng giá đời này.
Đám thợ săn nghe nàng nói, đáp lời:
7.            Các bậc tổ tiên thuở đã qua,
               Sáu ngà voi trắng, thấy bao giờ?
               Loài gì thú ấy, xin cho biết,
              Đã hiện trong mơ của lệnh bà.
Sau đó, họ lại còn ngâm thêm vần kệ nữa:
8.           Bốn phương nam, bắc với tây, đông,
              Chính giữa bốn miền cũng họp chung,
              Thiên đỉnh thêm vào thiên đế nữa,
               Nơi nào trong thập hướng không trung,
              Tượng vương này ở, xin cho biết,
              Xuất hiện trong mơ của chánh cung.
  Nghe nói thế, hoàng hậu Subhaddā nhìn toàn thể đám thợ săn, thấy trong đó có một người chân lớn, bắp chân phồng to như một cái thúng đựng đầy lễ vật, xương sườn, đầu gối đều vạm vỡ, bộ râu rậm, hàm răng vàng khè, mặt mũi méo mó đầy sẹo, là người thật xấu xí, đồ sộ, nổi bật lên giữa đám thợ săn, tên là Sonuttara, trong một đời trước đã từng là kẻ cựu thù của bậc Đại sĩ. Nàng liền nghĩ: “Người này có thể làm theo lời ta được.”
  Và xin phép vua đem gã kia đi lên thượng lầu của cung điện bảy tầng, nàng mở cửa sổ hướng bắc, chỉ tay thẳng về phía dãy bắc Tuyết sơn, rồi ngâm bốn vần kệ:
9.           Hướng bắc bên kia dãy Thất San,
              Cuối cùng ta đến vách Non Vàng,
               Đỉnh cao thường có loài ma quỷ,
               Hoa tự chân lên ngọn rỡ ràng.
10.         Dưới núi ma kia lại thấy ngay
             Xanh um cả khối, dáng như mây,
             Một cây đa chúa, từ nhiều gốc
             Sinh tám ngàn cành, tráng kiện thay.
11.        Trú đây, bạch tượng mạnh vô song,
            Có sáu ngà, quân đội tám ngàn,
            Ngà tựa càng xe, tài thiện chiến,
            Hộ phòng, giao đấu, tốc như phong.
12.       Thở phì, voi đứng, mắt trừng trừng,
           Hơi gió nhẹ đưa cũng nổi sân,
           Nếu chợt thấy người gây mảy gió,
           Đùng đùng, chúng giẫm nát tan thân.
Sonuttara nghe tả thế, hồn vía bay lên mây, vội đáp vần kệ:
13.        Lam ngọc sáng ngời hoặc bảo trân,
             Biết bao trang sức với kim ngân,
            Việc gì hoàng hậu cần ngà ấy,
            Hay lệnh bà mong giết thợ săn?
Hoàng hậu lại ngâm vần kệ:
14.       Nung nấu lòng ta rẫy giận hờn,
           Mỗi lần nhớ lại vết đau thương,
           Cho ta, lạp hộ, điều ta ước,
           Làng đẹp năm ngôi, sẽ hưởng ơn.
Nói xong, nàng thêm:
-  Này hiền hữu thiện xạ, ngày trước, khi ta cúng dường các vị Độc Giác Phật, ta dâng lời cầu nguyện rằng ta muốn có đủ thần lực giết con voi sáu ngà kia để chiếm một đôi ngà. Điều này ta không chỉ thấy trong giấc mộng mà thôi đâu, đó còn là lời nguyện ta phải thành đạt. Hiền hữu hãy ra đi, đừng lo sợ gì cả.
Nàng nói vậy để trấn an gã. Gã chấp thuận lời nàng và đáp:
- Xin tuân lệnh hoàng hậu, nhưng trước hết xin lệnh bà chỉ rõ cho thần biết voi ấy hiện ở đâu.
Và gã hỏi qua vần kệ:
15.       Voi ở đâu, tìm kiếm chốn nào,
            Đường voi đi tắm, hướng ra sao,
              Nơi nào vương tượng thường bơi lội,
              Xin chỉ con đường để bắt mau?
Lúc ấy, nàng hồi tưởng lại đời trước của mình và nhớ rõ địa điểm ấy, nên chỉ đường cho gã qua hai vần kệ:
16.          Không xa nơi tắm ấy là bao,
              Thăm thẳm hồ sâu diễm lệ sao,
              Hoa nở rộ, đầy ong bướm lượn,
              Đấy nơi vương tượng dễ tìm cầu.
17.         Tắm mát, cài sen, chiếc miện hoa,
              Hân hoan voi rảo bước về nhà,
              Như cành sen trắng cao vòi vọi,
             Theo gót bà hoàng yêu thiết tha.
Sonuttara nghe vậy chấp thuận ngay và thưa:
- Tâu lệnh bà, tiểu thần xin đi giết voi này và đem về dâng cặp ngà.
Nàng hoan hỷ ban thưởng gã một ngàn đồng tiền vàng và bảo:
- Hiền khanh cứ trở về nhà đã, sau bảy ngày nữa hãy khởi hành đến đó.
Nàng cho gã lui về và triệu tập đám thợ rèn lại, truyền lệnh:
- Này các khanh, ta cần một cái rìu, một cái xẻng, một cái khoan, một cái búa, dụng cụ để chặt tre, cái liềm cắt cỏ, một gậy sắt, một cái cọc, một cái chĩa ba bằng sắt. Hãy làm mọi thứ thật gấp rồi đem đến đây ngay.
Nàng lại cho triệu tập đám thợ đồ da, bảo họ:
- Này các khanh, hãy làm cho ta một cái túi da đủ đựng đồ vật nặng cỡ một đầu heo lớn, ta lại cần các dây da, các lưới da, đôi giày lớn vừa cho voi mang và một cái dù da để nhảy xuống. Hãy làm mọi thứ thật cấp bách rồi đem lại đây ngay.
  Cả hai đám thợ rèn và thợ da kia làm gấp mọi vật rồi mang lại cho nàng. Sau khi có đủ mọi vật dụng cần thiết cho cuộc hành trình, cùng lửa củi đủ loại, nàng đặt mọi trang bị cần thiết như bánh nướng, lương khô… vào túi da. Tất cả nặng cỡ chiếc đầu heo. Còn Sonuttara, sau khi sắp đặt xong xuôi, đến ngày thứ bảy, cung kính diện kiến hoàng hậu. Nàng bảo:
- Này hiền hữu, tất cả mọi hành trang đã hoàn thành, hãy cầm túi da này đi.
Gã này là một tên hạ đẳng lực lưỡng gan dạ, mạnh bằng năm con voi, nên cầm chiếc túi kia như thể túi đựng bánh đặt lên sườn, rồi đứng lên như
thể hai tay không. Nàng Culla Subhaddā trao lương thực cho đám tùy tùng của gã, và tâu trình vua rồi truyền gã lui ra. Gã đảnh lễ vua cùng hoàng hậu xong, xuống thềm cung điện đặt các vật dụng lên một cỗ xe, khởi hành khỏi kinh thành cùng một đám tùy tùng đông đảo rầm rộ vượt qua vô số thôn làng, tới vùng biên địa.
      Lúc ấy, gã bảo dân chúng lui và tiếp tục đi cùng đám dân cư ngụ trên biên giới cho đến khu rừng. Qua khỏi những nơi có người ở, gã lại cho dân biên giới lui về và một mình gã tiến lên một khoảng ba mươi lăm dặm đường, băng qua khu rừng cỏ kusa và nhiều cỏ khác rậm rạp, những đám dày đặc rau quế, lau sậy, cây đậu, những khóm gai, mía, và cây đủ loại; rồi các rừng rậm toàn mía lau, mía dày, rậm đến độ rắn cũng thể bò qua được; rồi các rừng cây lớn, tre nứa, những bãi nước lầy, những dải núi. Gã lần lượt đi qua mười tám vùng tất cả.
     Qua rừng cỏ, gã cắt bằng lưỡi liềm; qua các đám rau, gai, tre, nứa, gã mở đường bằng dụng cụ đẵn tre; gã chặt các cây lớn bằng cái rìu; còn các cây cổ thụ quá lớn, gã phải đục bằng cái khoan trước tiên.
    Sau đó, tiếp tục cuộc hành trình, gã làm một cái thang trong rừng tre và trèo lên ngọn cây; gã đặt một cây tre vừa chặt lên trên bụi tre kế đó, cứ thế gã bò dần qua các đọt tre đến một bãi lầy.
   Gã lại trải một tấm ván khô trên bùn, bước qua rồi ném một tấm ván khác ra phía trước và cứ như thế đi băng qua bãi lầy. Sau đó, gã lại đóng thuyền để vượt qua một vùng ngập nước, cuối cùng đến đứng dưới chân các ngọn núi.
Gã buộc cái móc sắt có chĩa ba vào sợi dây, ném lên cao cho nó dính chặt vào sườn núi. Leo lên sợi dây, gã khoan núi bằng đầu gậy có gắn kim cương, đóng cọc vào lỗ rồi đứng lên đó. Sau gã lại kéo cái móc sắt có chĩa ba ra đóng vào sườn núi cao hơn trước. Từ nơi này gã để dây da thòng xuống, xong gã cầm dây trèo xuống, buộc dây vào cọc phía dưới. Rồi tay trái cầm dây, tay phải cầm búa, gã đánh vào sợi dây để kéo cái cọc ra và trèo lên lần nữa.
   Bằng cách này gã trèo lên đỉnh núi đầu tiên, rồi bắt đầu đi xuống phía bên kia sau khi đóng cọc vào đỉnh núi đầu tiên như trước đây; xong buộc dây vào túi da và bao quanh cái cọc, gã ngồi vào trong túi da và thả mình xuống bằng cách buông dần cuộn dây như thể nhện thả tơ vậy. Gã để cho cái dù da
bắt gió và hạ xuống nhanh như chim. Tương truyền ít nhất là thế đấy.
     Như vậy, bậc Đạo sư kể chuyện gã thợ săn tuân lệnh nàng Subhaddā, xông pha từ kinh thành băng qua mười bảy địa giới khác nhau cho đến khi vào tận miền núi rừng, những cách gã băng rừng vượt qua sáu vùng núi non như thế nào để leo lên đỉnh Kim sơn:
    18.      Thợ săn nghe lệnh, vững can tràng,
                Nai nịt cung tên, tiến bước đàng,
                Băng vượt bảy tầng non bát ngát,
               Cuối cùng đến thượng đỉnh Kim san.
  19.          Đến núi cao đầy quỷ ẩn thân,
                 Khối gì trước mắt, dáng như vân?
                Chính cây đa chúa, thân to lớn,
                Đỡ tám ngàn cành tán trải giăng.
20.          Trú đây bạch tượng vô song,
               Có sáu ngà, quân đội tám ngàn,
                Ngà tựa càng xe, tài thiện chiến
                Hộ phòng, giao đấu, tốc như phong.
21.          Gần đó, hồ kia nước tận bờ,
               Xứng nơi vương tượng lội bơi qua,
               Đôi bờ khả ái muôn hoa đẹp,
              Ong lượn quanh đầy tiếng nhỏ to.
22.         Đánh dấu đường đi của tượng vương
              Những khi bơi lội, chí kiên cường,
             Gã đào hố, việc làm hèn hạ,
             Xúi giục cho vương hậu giận hờn.
  Tiếp theo đây là câu chuyện từ đầu đến cuối. Chuyện kể rằng, sau bảy năm, bảy tháng, bảy ngày, khi đến tận nơi cư trú của bậc Đạo sĩ theo cách kể trên, gã thợ săn ghi dấu kỹ nơi ấy, và đào một cái hố ở đó, gã bảo:
  - Ta sẽ đứng đây và đâm chết voi chúa.
  Gã sắp đặt công việc như vậy xong, vào rừng chặt cây làm cột trụ, cùng chuẩn bị một số vật dụng khác.
   Khi đàn voi đến tắm ở nơi voi chúa thường đứng, gã lại đào một hố vuông bằng một cái cuốc lớn, và đám đất gã đào lên gã rải khắp mặt nước, như thể gieo hạt; và trên đầu các tảng đá hình khối xay, gã trồng một trụ,
chôn thêm các vật nặng cùng dây da và trải nhiều ván lên trên. Kế đó, gã đào lỗ vừa cỡ một mũi tên rồi ném đất đá, rác rến lên nữa, còn một bên gã làm lối ra vào cho gã.
   Thế là khi hố đã xong xuôi, vào lúc tảng sáng, gã buộc một chùm tóc giả trên chỏm, mặc hoàng y vào, cầm cung và mũi tên độc, gã bước xuống đứng dưới hố kia.
Bậc Đạo sư giải thích mọi việc như sau:
 23.           Che hố trước tiên đậy ván dày,
                 Bước vào cung nắm ở trong tay,
                 Vừa khi bạch tượng đi qua đó,
                Kẻ ác cho tên dữ vút bay.
24.            Voi bị thương gầm rống thảm thương,
                Cả đoàn đáp lại cũng gầm vang,
                Ngàn cây nghiêng ngã giày tan cỏ,
               Tán loạn đàn voi chạy thẳng đường.
25.           Voi chúa đã gần giết địch nhân,
                Vì chứng đau đớn hóa điên cuồng,
                Nhưng kìa, đôi mắt ngài vừa gặp
                Biểu tượng thanh cao, chiếc áo vàng,
               Bộ áo tu hành bất khả phạm,
              Ấy điều suy nghĩ của hiền nhân.
 Bậc Đạo sư, trong lúc nói chuyện với thợ săn, ngâm hai vần kệ này:
26.           Người nào vấy phải tội đầy thân,
               Chẳng chế ngự mình, thiếu thật chân,
               Dù chiếc hoàng y, mình nó mặc,
              Chẳng hòng mong đạt tịnh thanh tâm.
27.         Còn kẻ thoát ra mọi lỗi lầm,
              Đầy lòng chân thật, tự điều tâm,
              Vững lòng cương quyết theo công chánh,
              Xứng đáng y vàng khoác tấm thân.
Nói xong, bậc Đại sĩ dập tắt mọi nỗi hận sân đối với gã kia và hỏi:
-Tại sao ông bắn ta bị thương? Có phải vì lợi ích riêng hay vì bị kẻ nào mua chuộc?
Bậc Đạo sư giải thích việc này như sau:
28.          Voi trúng tên tàn bạo quỵ chân,
               Trong lòng bình thản, hỏi cừu nhân:
              “Đích gì khi giết nhằm ta thế,
               Cho biết ai xúi giục, bạn thân?”
 Kế tiếp, gã thợ săn đáp kệ này:
29.          Ái hậu Kāsi bậc đại quân,
              Subhaddā, bảo đã từng trông
             Dáng ngài trong mộng, và vì thế,
             “Ta muốn ngà kia, hãy kiếm dâng!”
 Nghe gã nói điều này, ngài nhận ra đây là việc làm của nàng Culla Subhaddā, nên ngài nhẫn nhục chịu đau đớn và suy nghĩ: “Nàng chẳng cần gì đôi ngà của ta đâu, nàng bảo gã đi đến chỉ vì muốn giết ta đấy thôi.”
Và để làm sáng tỏ việc, ngài ngâm hai vần kệ:
30.          Kho báu ta mang ở bộ ngà,
               Hình hài di tích của ông cha,
               Điều này ác phụ am tường quá,
              Nên kẻ khốn nhằm đoạt mạng ta.
31.          Trước khi ta chết, thợ săn ôi,
              Cưa lấy bộ ngà của chúa voi,
               Bảo ác phụ kia mừng mãn nguyện,
              “Đây ngà, bạch tượng đã lìa đời!”
   Nghe ngài bảo vậy, gã thợ săn đứng dậy từ nơi gã đang ngồi, cầm cưa trong tay đi đến gần ngài để cắt đôi ngà. Lúc bấy giờ, vương tượng cao như một ngọn núi tám mươi tám cubit (gần bốn mươi mét) nên không thể cưa được như ý muốn, vì gã này không thể lên tới tận đôi ngà. Thấy thế, bậc Đại sĩ phải cúi mình trước gã, nằm xuống kê đầu dưới đất.
  Lúc ấy, gã mới trèo lên chiếc vòi của bậc Đại sĩ, giẫm chân lên đó như thể sợi dây thừng bạc, rồi đứng trên trán ngài như thể đỉnh núi Kelāsa. Sau đó, gã nhét chân gã vào miệng ngài, đầu gối gã đập vào da thịt trong miệng ngài, gã bò xuống từ trán ngài và thọc cây cưa vào miệng ngài. Bậc Đại sĩ chịu đựng nỗi thống khổ hành hạ và miệng ngài ứa đầy máu.
  Còn gã thợ săn đi loanh quanh chỗ này chỗ kia vẫn không thể nào dùng cái cưa cắt được đôi ngà. Vì thế, bậc Đại sĩ để máu rơi ra từ miệng ngài, chịu đựng nỗi đau đớn cực độ, hỏi gã:
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây