Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 99: Chương Mười Tám- Phẩm Năm Mươi Bài Kệ - Phần 3 (trang 693-699)

giới, nàng tái sinh vào thành Ariṭṭhapura và diễm lệ như đã được tả trên đây.
   Lúc bấy giờ, trong kinh thành dân chúng mở hội Kattikā vào ngày rằm trăng tròn tháng mười âm lịch, họ trang hoàng cả kinh thành.
  Khi Ahipāraka ra đi đến trạm canh phòng, chàng dặn dò nàng:
  - Phu nhân Ummadantī, hôm nay là ngày hội Kattikā, đức vua dự đám rước linh đình khắp kinh thành, trước tiên sẽ đến trước cửa nhà ta. Vậy phu nhân đừng lộ diện, e ngài thấy phu nhân sẽ không chế ngự được tâm tư ngài.
Trong lúc chàng từ giã nàng, nàng đáp:
-Thiếp xin lưu tâm việc ấy.
  Vừa khi chàng đi khuất, nàng liền ra lệnh nữ tỳ phải báo cho nàng biết ngay khi vua tới cổng nhà nàng. Thế rồi, vào lúc mặt trời lặn, mặt trăng hiện lên, đèn đuốc sáng rực khắp kinh thành vừa được trang hoàng như thể một kinh thành của chư Thiên, đức vua phục sức vô cùng lộng lẫy, ngự trên vương xa tuyệt đẹp do các tuấn mã kéo, cùng đám quần thần theo hầu, đi vòng quanh kinh thành với vẻ uy nghi cao cả. Trước tiên, ngài đến thăm cửa nhà Ahipāraka.
Lúc bấy giờ, ngôi dinh thự này đứng trong bức tường bao quanh màu son đỏ thắm với các cổng cao và tháp canh được trang hoàng rất sang trọng, rực rỡ. Vừa khi ấy, nữ tỳ đưa tin hoàng thượng giáng lâm, nàng Ummadantī ra lệnh đem đến một giỏ hoa, nàng lại đứng gần bên cửa sổ ném hoa xuống khắp mình vua với tất cả dáng điệu mê hồn của một thiên thần.
  Thoạt nhìn lên thấy nàng, vua như ngây ngất điên cuồng và không thể nào tự chủ được tâm trí, nên ngài không còn nhận ra nơi đây là tư thất của đại tướng quân Ahipāraka. Vì vậy, ngài ngâm hai vần kệ hỏi người quản xa:
1.  Kia nhà ai đó, hỡi Sunanda,
     Bao bọc thành cao tỏa ánh vàng?
     Bảo vật này như sao sáng rực,
     Hay thiều quang chiếu đỉnh cao san?
2.  Chắc nàng con gái chốn khuê môn,
     Chính chủ nhà, hay vợ cậu tôn?
     Chỉ một lời, mau cho trẫm biết,
     Có chồng, hay chửa được cầu hôn?
Người quản xa đáp lời vua qua hai vần kệ:
3.   Chuyện ấy, Đại vương hỏi hạ thần,
  Đôi bên cha mẹ, thảy am tường,
  Chồng nàng tận tụy ngày đêm vẫn
  Phụng sự quân vương đủ mọi đường.
4.Đại thần này chính của Anh quân,
   Phú quý vinh hoa hưởng trọn phần,
   Mệnh phụ Ahipāraka lừng lẫy ấy,
    Lọt lòng được gọi Ummadantī.
Nghe vậy, vua ngâm kệ tán tụng tên nàng:
5. Trời hỡi! Tên kia thật bất tường,
   Song thân nàng đã đặt cho nàng
   Ummadantī, từ lúc nàng nhìn trẫm,
   Trẫm bỗng hóa ra kẻ dại cuồng!
   Trông thấy vua dao động như thế, nàng vội đóng cửa sổ lại và đi thẳng vào khuê phòng. Còn vua, từ lúc trông thấy nàng, chẳng còn thiết gì đến việc đi dự đám rước linh đình quanh kinh thành nữa. Ngài bảo người quản xa:
-  Này hiền hữu Sunanda hãy dừng xe lại. Đám hội này không hợp với ta nữa, nó chỉ hợp với Ahipāraka, đại tướng quân của ta thôi. Ngai vàng cũng xứng đáng với vị ấy hơn ta. Và khi vương xa dừng lại, ngài ngự lên hoàng cung, vào nằm nghỉ trên long sàng và nói huyên thuyên mê mẩn:
6. Ngọc nữ mắt nai thật dịu hiền,
   Trăng rằm vằng vặc mới vừa lên,
   Ngắm nàng trong áo bồ câu trắng,
    Ta tưởng đôi vầng nguyệt hiện tiền.
7.Thu ba gợn sóng mắt long lanh
    Quyến rũ hồn như sét ái tình,
   Nào khác yêu tinh trên đỉnh núi,
   Dáng yêu kiều chiếm trọn tim mình.
8.Tố nga huyền bí, thật cao vời,
  Bảo ngọc lung linh dưới mỗi tai,
  Mình chỉ khoác xiêm y độc nhất,
  Rụt rè như vẻ một con nai.
9.Các móng tô son, cuốn tóc mây,
  Chiên-đàn tỏa ngát, dịu đôi tay
   Búp măng duyên dáng, ôi kiều nữ,
      Đến thuở nào cười với trẫm đây?
10. Bao giờ thục nữ có lưng thon,
     Trước ngực phô trương món bội hoàn,
     Đôi cánh tay mềm ôm trẫm chặt
      Khác nào cát lũy bám cây rừng?
11. Nàng điểm chấm son sáng rực lên,
     Ngực tròn, ngọc nữ trắng như sen,
      Bao giờ trao nụ hôn cho trẫm,
      Như rượu nồng đưa đến bợm ghiền.
12. Nàng đứng kia, ta chợt thấy nàng
     Cực kỳ diễm lệ trước Long nhan,
     Không còn tự chủ lòng ta nữa,
     Hồn vía quẳng đâu, trí biến tan.
13. Khi ta chiêm ngưỡng dáng Ummadantī,
     Sáng rực đôi tai điểm ngọc hoa,
    Như kẻ bị đền tiền phạt nặng,
    Ngày đêm chẳng chợp mắt phần ta.
14. Nếu được trời ban, trẫm ước nguyền,
   Trẫm làm đại tướng một hai đêm,
    Hưởng đời cùng với Ummadantī ấy,
    Để tướng Ahipāraka trị nước liền.
  Sau đó, các vị cận thần nói với tướng Ahipāraka:
-Thưa Chủ tướng, đức Thánh thượng đang lúc dự đám rước linh đình khắp kinh thành, đã đi đến cửa dinh ngài rồi trở về cung ngay.
Ahipāraka liền về nhà hỏi Ummadantī xem nàng có xuất hiện trước mắt vua không.
Nàng bảo:
- Thưa phu quân, có một lão bụng bự, răng hô đứng trên vương xa đến đây. Tiện thiếp không biết là đức vua hay vương tử, nhưng nghe bảo đó cũng là một vị vương gia nào đó, nên tiện thiếp đang lúc đứng trên cửa sổ liền ném hoa xuống người ấy. Sau đó, người ấy liền quay xe bỏ đi mất.
Nghe nói vậy, chàng bảo:
- Thôi nàng đã hại ta tàn đời rồi!
Sáng sớm hôm sau lên đến cung vua, chàng đứng trước cửa vương thất
và nghe vua đang nói huyên thuyên về nàng Ummadantī, chàng suy nghĩ: “Đức vua đang si tình Ummadantī, nếu không chiếm được nàng, ngài sẽ chết mất. Vậy bổn phận ta là phải cứu sống ngài, nếu ta làm việc ấy mà không gây tội lỗi cho ngài hoặc cho ta.”
   Thế là chàng trở về nhà, gọi cho một tên gia nô bạo gan đến và bảo:
  -  Này hiền hữu, ở chốn kia có một gốc cây thân rỗng, trong ấy là đền thờ thần. Hiền hữu đừng cho ai biết cả, đợi lúc sẩm tối hãy đến ngồi trong bọng cây ấy. Ta sẽ đến đó cúng lễ dâng thần thánh và sẽ cầu nguyện như vầy: “Tâu Thiên vương, đức vua của chúng thần, trong lúc đám rước đang diễu hành ngài đã không dự vào, lại về cung thất nằm nói lảm nhảm không đâu; chúng thần chẳng hiểu cớ gì. Đức vua đã từng làm đại ân nhân của chư thần, hằng năm đã chi tiêu vào việc cúng tế cả ngàn đồng tiền vàng. Xin Thiên vương cho biết tại sao đức vua lại nói nhảm như vậy và xin ban cho chúng thần một điều ước để cứu mạng ngài,” ta sẽ khấn như vậy. Và hiền hữu hãy nhớ lập lại những lời này: “Này Đại tướng, đức vua chẳng bệnh tật gì cả, song ngài đang si tình phu nhân Ummadantī đấy. Nếu ngài chiếm được nàng, ngài sẽ sống, bằng không, e ngài phải chết. Nếu Đại tướng muốn cho ngài sống, thì hãy dâng nàng Ummādanti cho ngài,” hiền hữu nhớ nói như vậy.
  Sau khi dặn dò gã ấy xong, chàng bảo gã ra đi. Thế là hôm sau, người gia nô đến ngồi trong bọng cây kia và khi vị đại tướng đến nơi cầu khẩn, gã ấy đọc lại đủ điều kiện đã học trên. Đại tướng bảo:
- Tốt lắm.
Rồi đảnh lễ vị thần xong, đại tướng đến kể chuyện với các vị đại thần của vua; sau đó vào cung, gõ cửa cung thất của vua.
Vua đã hồi tỉnh và hỏi ai đó.
-Tâu Thánh thượng, chính hạ thần là Ahipāraka.
Rồi chàng mở cửa cung thất, bước vào làm lễ triều kiến vua và ngâm vần kệ:
15. Quỳ trước đền thiêng, tấu Đại vương,
     Thần nghe quỷ nói chuyện phi thường:
    “Ummadantī mê hoặc lòng kim thượng”
     Mong chúa thỏa tâm nguyện tuyển nàng.
Vua liền hỏi:
- Này hiền hữu Ahipāraka, ngay các vị thần Dạ-xoa cũng biết trẫm đang nói ngông cuồng vì say mê nàng Ummādanti đấy ư?
- Tâu Thánh thượng, quả vậy.
Vua nghĩ thầm: “Việc hèn hạ xấu xa kia của trẫm đã bị khắp thế gian biết cả rồi.” Và ngài cảm thấy hổ thẹn khôn cùng. Vừa khi lấy lại được lòng chân chính, vững vàng, ngài ngâm vần kệ sau:
16. Phước trời chẳng hưởng, trẫm đành sa,
     Thế giới đều hay đại tội ta,
     Phải biết, lòng khanh đầy khổ não,
    Nếu khanh chẳng gặp lại Ummadantī.
Các vần kệ sau đây là do hai vị đối đáp xen kẽ:
Đại tướng:
17. Trừ Đại vương cùng với hạ thần,
       Việc kia, ai biết giữa trần gian?
      Ummadantī, tặng vật xin dâng chúa,
     Phỉ nguyện, rồi đem trả lại nàng.
Quân vương:
18. Kẻ ác nghĩ: “Không một thế nhân
      Hẳn từng chứng kiến tội ta làm,”
     Song toàn việc ấy, đều hay biết
    Bởi các Thánh nhân lẫn quỷ thần.
19. Dù khanh có bảo: “Chẳng yêu nàng,”
      Điều ấy, ai tin giữa thế gian?
      Phải biết, lòng khanh đầy khổ não,
      Nếu khanh chẳng gặp lại phu nhân.
Đại tướng:
20. Nàng quý yêu như mạng sống mình
     Thực là vợ thắm thiết bao tình,
      Song hoàng thượng đến Ummadantī gấp,
       Như hổ, sư về thạch động nhanh.
Quân vương:
21. Bậc trí, dù đau khổ ngập tràn,
     Cũng không bỏ việc tạo bình an,
     Kẻ ngu dù đắm chìm hoan lạc,
      Tội lỗi thế kia, chẳng dám làm.
Đại tướng:
22. Tâu Đại vương là dưỡng phụ thân,
      Là Thiên đế, chúa tể thần dân,
      Thê nhi, xin hiến làm nô lệ,
      Thánh thượng Sivi hãy đẹp lòng!
Quân vương:
23. Kẻ làm hại bạn chẳng ăn năn,
      Bảo: “Chính đây là chúa vạn năng”
      Chỉ nửa đời thôi e khó sống,
      Thánh thần thấy vậy, chẳng bằng lòng.
Đại tướng:
24. Nếu chánh nhân thâu nhận lễ dâng
       Do người tình nguyện, tấu Minh quân,
       Vậy người đem tặng cùng người nhận
        Làm việc thành công, quả vạn toàn.
Quân vương:
25. Dù khanh có bảo: “Chẳng yêu nàng,”
      Điều ấy, ai tin giữa thế gian?
      Phải biết, lòng khanh đầy khổ não,
      Nếu khanh chẳng gặp lại phu nhân.
Đại tướng:
26. Nàng thiết thân như mạng sống thần,
      Thật nàng là vợ quý vô ngần,
      Ummadantī, tặng vật xin dâng hiến,
     Thỏa nguyện, rồi đem trả lại nàng.
Quân vương:
27. Làm mình khỏi khổ, hại cho người,
      Kẻ khác mất vui, dạ vẫn tươi,
      Chẳng cảm niềm đau người khác khổ
     Như mình, chẳng biết chánh chân rồi.
Đại tướng:
28. Nàng quý như đời sống, Đại vương,
      Thật nàng được ái luyến khôn lường,
    Thần dâng bảo vật, không hoài của,
      Như vậy, người cho đã hưởng phần.
Quân vương:
29. Ta có thể làm hại bản thân
      Vì thèm dục lạc của phàm nhân,
      Song ta quyết, chẳng bao giờ dám
      Làm hại điêu tàn bậc chánh chân.
Đại tướng:
30. Ví thử Minh quân phải khước từ,
     Chỉ vì nàng, vợ hạ thần ư?
     Từ nay giải phóng nàng, từ biệt,
      Xin triệu nô tỳ vời chiếu thư.
Quân vương:
31. Ví dù đại tướng hại thân mình,
      Lìa bỏ phu nhân chẳng tội tình,
     E phải chịu bao lời khiển trách,
     Chẳng hề ai nói đúng công bình.
Đại tướng:
32. Mặc lời khiển trách, mặc than phiền,
     Để mặc lời bình phẩm, ngợi khen,
     Trút xuống hạ thần như ý muốn,
    Trước tiên ước chúa thỏa tâm nguyền.
Quân vương:
33. Kẻ không màng đến việc khen chê,
     Chỉ trích, tuyên dương, chẳng sá gì,
    Tài sản, vinh quang đều biến mất,
    Như cơn lũ rút, đất khô đi.
Đại tướng:
34. Bất cứ lạc hay khổ nảy sinh,
      Vượt qua ngay, hoặc não lòng mình,
     Thần xin đón nhận dù ưu, hỷ,
     Như đất khoan dung cả dữ, lành.
Quân vương:
35. Ta chẳng muốn người khác khổ đau,
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây