Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 38:  481. CHUYỆN HIỀN GIẢ TAKKĀRIYA - Phần 7 (trang 259-265)

của Thiên chủ. Vị Bà-la-môn này cầm lấy, vừa đi một khoảng ngắn thì biến mất. Còn bậc Đại sĩ, sau khi cúng dường, cũng không nấu thêm thứ gì nữa, mà cứ ngồi an tịnh trong niềm hỷ lạc. Hôm sau, ngài cũng luộc lá và ngồi trước cửa am như cũ. Thiên chủ Sakka lại đến giả dạng một Bà-la-môn và bậc Đại sĩ cũng bố thí  rồi tiếp tục an trú vào hỷ lạc. Vào ngày thứ ba, ngài lại bố thí như trước và bảo:
   -  Ngài hãy xem phần phước lạc dành cho ta nhiều biết bao! Chỉ một ít lá Kāra đã mang lại công đức lớn cho ta rồi.
  Trong niềm hỷ lạc phát xuất tận đáy lòng như vậy, ngài thấy yếu người vì thiếu ăn đã ba ngày, ngài liền ra khỏi am đúng lúc ngọ và ngồi trước cửa, suy nghĩ về tặng vật ngài đã đem cúng dường.
  Còn Sakka Thiên chủ nghĩ thầm: “Vị đạo sĩ Bà-la-môn này nhịn ăn đã ba ngày, yếu ớt thế kia song vẫn nhường cho ta và tìm an lạc trong việc bố thí. Trong tư tưởng vị này không còn ý định nào khác. Ta không hiểu vị ấy ao ước điều gì và tại sao lại bố thí như vậy, nên ta phải hỏi để hiểu vị ấy muốn gì và biết được nguyên nhân việc bố thí trên.”
  Vì thế, Thiên chủ chờ đợi đến quá giờ ngọ, và trong vẻ huy hoàng oai nghi tột bực ngài xuất hiện trước mặt bậc Đại sĩ, sáng chói như mặt trời ban mai. Vừa đứng trước bậc Đại sĩ, Thiên chủ hỏi:
  -  Này Đạo sĩ, tại sao ngài hành trì khổ hạnh trong rừng này, xung quanh là biển mặn bao bọc, với những cơn gió nóng hừng hực đang hắt mạnh vào người?
                                                                            *
   Thiên chủ ngâm vần kệ đầu để giải thích vấn đề này:
1.                     Sakka, Chúa tể của quần sinh
                       Trông thấy Akitti đáng kính danh,
                       Liền hỏi: “Tai sao, này Đại sĩ
                       Trú đây trời hực nắng vàng hanh?”
                                                                             *
 Khi bậc Đại sĩ nghe vậy và thấy vị đó chính là Sakka, ngài đáp:
 -  Ta không ước ao đạt đến những cảnh giới trên kia, mà chỉ ao ước chứng đắc Chánh Giác tối thượng nên ta đã sống đời khổ hạnh ở đây.
Ngài ngâm vần kệ thứ hai để làm sáng tỏ điều này:
2.              Thân hoại, tái sinh, tử biệt trần
                 Mê lầm, tất cả chính đau buồn
                Sakka Thiên chủ, nay vì vậy
                Ta vẫn trú đâyđược vạn an.
  Nghe những lời này, Sakka Thiên chủ hoan hỷ trong lòng và thầm nghĩ: “Vị ấy không ham thích bất cứ sinh loại hữu tình nào và vì muốn đắc Niết- bàn nên vào an trú trong rừng. Ta muốn ban  cho vị ấy một điều ước.” Thế là Thiên chủ mời ngài chọn một điều ước qua lời kệ thứ ba:
3.             Kassapa, khéo diễn chân ngôn
                Ngài nói lên lời tối thượng tôn,
                Hãy chọn giờ đây lời ước nguyện
                Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn.
 Bậc Đại sĩ ngâm vần kệ thứ tư nói lên điều ngài mong ước:
4.             Thiên chủ Sakka của chúng sinh
                Ban cho ta hưởng một ân lành,
               Vợ con, vàng bạc cùng kho lúa
               Dù có dư, ta vẫn bất bình,
               Ta ước những điều tham dục ấy
               Chẳng còn trú ẩn ở tâm mình.
  Lúc ấy, Sakka Thiên chủ vô cùng hoan hỷ, ban cho ngài thêm nhiều đặc ân khác nữa và bậc Đại sĩ nhận lãnh, mỗi vị lần lượt ngâm một vần kệ như sau:
Thiên chủ:
5.            Kassapa, khéo diễn chân ngôn,
               Ngài nói lên lời tối thượng tôn,
               Hãy chọn giờ đây điều ước nguyện,
              Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn.
Bồ-tát:
6.          Chúa tể muôn loài chính là Sakka, 
            Ân lành, ngài muốn tặng cho ta:
            Ruộng, vàng, của cải, tôi đòi, ngựa,
            Trâu, chó, ngay sau phải chết già.
            Ta ước sẽ không còn giống chúng.
           Ta mong nhược điểm ấy rời ta.
Thiên chủ:
7.          Kassapa, khéo diễn chân ngôn,
              Ngài nói lên lời tối thượng tôn,
             Hãy chọn giờ đây điều ước nguyện,
             Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn.
Bồ-tát:
8.          Sakka, Thiên chủ ngự trên trần,
             Ban tặng cho ta một đặc ân:
            Ước chẳng nghe, nhìn người độn trí,
             Kẻ kia chẳng sống với ta cùng,
            Chẳng ham trò chuyện người vô trí,
             Chẳng kết bạn cùng kẻ độn căn!
Thiên chủ:
9.          Kẻ ấy làm gì, Kassapa,
            Cho ngài, xin hãy nói ngay ra
            Tại sao bầu bạn người vô trí,
            Ngài chẳng ưa, này, hãy bảo ta?
Bồ-tát:
10.       Hành động người ngu thật bạo tàn,
            Buộc ràng gáng nặng chẳng ai mang,
           Thực hành ác nghiệp, đích mong muốn,
           Nổi giận khi nghe nói thật chân,
            Nó chẳng biết gì là chánh hạnh,
            Nên ta không muốn kẻ ngu gần.
Thiên chủ:
11.        Kassapa, khéo diễn chân ngôn,
             Ngài nói lên lời tối thượng tôn,
             Hãy chọn giờ đây điều ước nguyện,
             Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn.
12.       Sakka, Thiên chủ của quần sinh,
            Ban tặng cho ta một phước lành:
           Ta ước nghe nhìn người có trí,
            Ước mong vị ấy ở cùng mình;
                   Ta mong đàm luận cùng người trí,
                    Được kết giao cùng bậc trí minh.
13.               Bậc trí làm gì, Kassapa,
                   Cho ngài, xin hãy nói ngay ra,
                    Sao ngài ao ước nơi ngài ở,
                    Người trí cùng chung sống một nhà?
14.               Hành động tốt lành, bậc trí nhân
                    Chẳng ràng buộc gánh khổ vào thân,
                    Chuyên tâm, bậc trí làm ân phước,
                    Chẳng giận khi nghe nói thật chân,
                    Thông hiểu chánh hành, và bởi vậy,
                     Lành thay bậc trí sống chung cùng.
15.                Kassapa, khéo diễn chân ngôn,
                     Ngài nói lên lời tối thượng tôn,
                     Hãy chọn giờ đây điều ước nguyện,
                     Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn.
16.               Sakka, Thiên chủ của quần sinh,
                     Ban tặng cho ta một phước lành:
                     Mong giải thoát ngoài vòng ái dục,
                     Và khi vầng nhật chiếu binh minh,
                     Mong chư Thánh giả du hành đến,
                     Đem thực phẩm Thiên giới tặng mình.
17.                Mong tặng nó không giảm sút dần,
                      Ta không hối tiếc việc ta làm,
                       Mong lòng hoan hỷ lúc phân phát,
                    Ta chọn ước kia để hưởng phần.
Thiên chủ:
18.                Kassapa, khéo diễn chân ngôn,
                     Ngài nói lên lời tối thượng tôn,
                    Hãy chọn giờ đây điều ước nguyện,
                    Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn.
Bồ-tát:
19.             Sakka, Thiên chủ của quần sinh,
                  Ngài đã ban ta một phước lành:
                  Thiên chủ xin đừng thăm viếng nữa,
                   Điều này khao khát tự tim mình.
Thiên chủ:
20.             Song các nam nhân, các nữ nhân,
                  Những người đang sống thật hiền lương,
                 Đều ước ao cùng ta diện kiến,
                 Việc này có tác hại gì chăng?
Bồ-tát:
21.            Dung mạo ngài muôn vẻ thiện toàn,
                 Vô cùng hoan hỷ, đại vinh quang,
                 Thấy ngài, xao lãng điều tâm nguyện,
                 Nguy hại là trông thấy Ngọc hoàng!
Thiên chủ đáp:
  -  Thôi được rồi, thưa Tôn giả, ta quyết sẽ chẳng bao giờ viếng thăm ngài nữa.
  Và vừa đảnh lễ ngài, vừa xin ngài thứ lỗi, Thiên chủ ra đi. Từ đó, bậc Đại sĩ an trú tại nơi ấy suốt đời, tu tập Tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả) và được sinh lên cõi Phạm thiên.
                                                                      *
  Sau khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Đạo sư nhận diện tiền thân:
-     Vào thời ấy, Ānanda (A-nan) là Thiên chủ Sakka (Đế-thích) và Ta chính là Hiền giả Akitti.
                                 481. CHUYỆN HIỀN GIẢ TAKKĀRIYA
                                               (TIỀN THÂN TAKKĀRIYA)
 Ta nói điên cuồng tựa ễnh ương…
  Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về Tỷ-kheo Kokālika.
  Trong một thời an cư về mùa mưa, hai vị Đại đệ tử Sāriputta (Xá-lợi-phất) và Moggallāna (Mục -kiền -liên) muốn rời hội chúng và sống độc cư, nên từ giã bậc Đạo sư, đi vào vương quốc nơi có Tỷ-kheo Kokālika trú ngụ. Các vị đến nàh Tỷ-kheo Kokālika và nói với ông như vầy:
 -  Này Hiền hữu Kokālika, vì chúng ta thích sống với Hiền hữu và Hiền hữu cũng thích sống với chúng ta, nên chúng ta muốn ở lại đây ba tháng.
  Vị kia hỏi:
   -  Các Tôn giả hoan hỷ khi an trú với tiểu đệ theo cách nào?
Hai vị đáp:
 -   Nếu Hiền hữu không nói với ai rằng hai Đại đệ tử đang ở đây, thì chúng ta sẽ rất hoan hỷ, đó là niềm an lạc của chúng ta khi sống với Hiền hữu.
  -  Thế còn tiểu đệ được hoan hỷ như thế nào khi sống chung với các Tôn giả?
 -   Chúng ta sẽ thuyết Pháp cho Hiền hữu trong ba tháng tại nhà Hiền hữu, chúng ta sẽ giảng giáo lý cho Hiền hữu và đó là niềm hoan lạc của Hiền hữu khi sống với chúng ta.
 -  Xin các Tôn giả hiền huynh hãy an trú tại đây bao lâu các hiền huynh muốn.
  Rồi ông dành một nơi cư trú an lạc cho các ngài. Các ngài an trú tại đó trong quả vị của các thiền chứng và không ai biết về việc các ngài an trú tại nơi ấy.
  Sau khi hai vị đã trải qua mùa mưa như vậy, hai vị bảo ông:
   -  Này Hiền hữu, any chúng ta đã ở với Hiền hữu xong, chúng ta muốn trở lại với bậc Đạo sư.
       Và hai vị từ giã lên đường. Ông chấp thuận, cùng với hai vị trên đường đi khất thực vào một làng đối diện nơi đã ở. Sau buổi cơm, các vị Tỷ-kheo Trưởng lão rời làng ấy. Còn Tỷ-kheo Kokālika từ giã các vị xong, trở về nói với dân chúng:
     - Này các cư sĩ, các ông thật giống loài thú hoang sơ. Đây là hai vị Đại đệ tử của đức Phật đã an cư suốt ba tháng trong một tinh xá đối diện nơi này, thế mà các ông không hay biết gì cả, nay các ngài đã đi rồi.
    Dân chúng hỏi: - Thưa Tôn giả, tại sao ngài không nói cho chúng tôi gì cả?
    Rồi họ đem bơ tươi, và thuốc men, y phục đến gần các vị Trưởng lão, kính lễ các vị và nói:
   -   Bạch các Tôn giả, xin các Tôn giả tha thứ cho chúng con. Chúng con không biết các ngài là Đại đệ tử, chúng con chỉ mới biết điều ấy do lời của Tôn giả Tỷ-kheo Kokālika. Xin các ngài từ bi đối với chúng con và nhận các thuốc men, y phục này.
    Kokālika cùng dân chúng đi theo các Trưởng lão vì ông suy nghĩ: “Các Tôn giả này sống rất đạm bạc và thiểu dục; các ngài sẽ không nhận các vật dụng này và rồi sẽ đem chúng cho ta.” Nhưng hai vị Trưởng lão không nhận các vật dụng ấy cho phần mình, cũng không cho Tỷ-kheo Kokālika, lý do là các vật ấy được cúng dường theo lời xúi giục của một Tỷ-kheo.
Lúc ấy, các cư sĩ liền nói:
  -   Bạch các Tôn giả, nếu các ngài không nhận các món này, xin đến đây lần nữa để ban phước cho chúng con.
  Hai Trưởng lão chấp thuận hứa lời xong, rồi đi về yết kiến bậc Đạo sư.
  Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo Kokālika tức giận vì hai Trưởng lão không nhận vật cúng dường cho phần mình mà cũng không đem cho vị này. Còn hai vị Trưởng lão, sau khi ở lại một thời gian ngắn với bậc Đạo sư, liền chọn năm trăm Tỷ-kheo làm đoàn tùy tùng cho mỗi vị, rồi cùng cả ngàn Tỷ-kheo này du hóa khất thực đến tận xứ sở của Tỷ-kheo Kokālika.
  Các cư sĩ ra đường đón Tăng chúng và dẫn họ đến tinh xá trước kia, cùng bày tỏ lòng ngưỡng mộ hàng ngày đối với các vị.
  Dân chúng cúng dường Tăng chúng cả kho lớn y phục và thuốc men. Các Tỷ-kheo đi khất thực cùng hai vị Trưởng lão phân phát y phục cho tất cả các Tỷ-kheo đã đến đây, song không chia cho Kokālika cái nào cả, và hai vị Trưởng lão cũng không cho ông chút gì. Kokālika không nhận được y
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây