Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 101: Chương Mười Tám- Phẩm Năm Mươi Bài Kệ - Phần 5 (trang 707-713)

Đại sĩ dùng cơm xong, đến ngồi cạnh ngài và hỏi:
-Này Tôn giả, có thực là ngài vừa xử án như dân chúng đồn chăng?
-Tâu Đại vương, quả vậy.
Vua bảo:
-Nếu ngài xử án, ngài sẽ đem lợi lạc cho dân chúng. Vậy từ nay ngài cần phải xử án.
Ngài đáp:
-Chúng thần là những kẻ tu khổ hạnh, việc này không phải là việc của chúng thần.
-Này Tôn giả, ngài phải làm việc đó vì từ tâm đối với dân. Ngài không cần xử án suốt ngày, mà chỉ khi nào ngài từ vườn ngự uyển đến đây thì hãy đến công đường từ sáng tinh sương để xử bốn vụ án; rồi trở về ngự viên, sau khi thọ dụng thức ăn xong, lại xử bốn vụ nữa. Như vậy, dân chúng sẽ được lợi lạc.
  Sau khi nghe nài nỉ nhiều lần, ngài nhận lời và từ đó xử án như vậy.
Những kẻ lừa đảo không còn cơ hội làm ăn nữa; các vị cố vấn kia không nhận hối lộ được, lâm vào cảnh khốn đốn, nghĩ thầm: “Từ khi có gã khất thực Bodhi bắt đầu xử án, chúng ta chẳng được gì cả.” Bọn họ gọi ngài là thù địch của vua và bảo nhau:
- Này, chúng ta phải vu cáo nó và làm cho nó chết đi.
Họ liền yết kiến vua và tâu:
-Tâu Đại vương, gã khất thực Bodhi muốn làm hại Đại vương.
Vua không tin họ và phán:
-Không đâu, ngài là bậc thiện nhân uyên bác, ngài không làm thế được.
Họ lại bảo:
-Tâu Đại vương, dân chúng đều là người của gã cả, chỉ có năm chúng thần là không ở trong tay gã thôi. Nếu Đại vương không tin chúng thần thì lần sau khi gã đến đây, xin Đại vương để ý đến đám tùy tùng của gã.
Vua ưng thuận; khi đứng bên cửa sổ nhìn ngài đi đến, vua thấy đám người thưa kiện theo sau ẩn sĩ Bodhi mà ngài không biết, vua tưởng đó là tùy tùng của ngài, liền có thành kiến với ngài ngay, nên triệu tập đám quốc sư vào hỏi:
-Ta phải làm sao đây?
Chúng đáp:
-Xin Đại vương ra lệnh bắt gã lại.
Vua đáp:
-Nếu ta không thấy gã vi phạm lỗi lầm nào hiển nhiên, làm sao ta bắt gã được?
-Vậy thì xin Đại vương giảm bớt ân huệ thường dành cho gã; khi gã thấy vinh dự sa sút, là một khất sĩ khôn ngoan, gã sẽ tự ý bỏ đi không hé răng điều gì với ai đâu.
  Vua chấp thuận lời đề nghị ấy và dần dần giảm bớt mọi sự tôn trọng đối với ngài. Ngày đầu tiên sau đó, bọn họ mời ngài ngồi trên một tọa sàng không có nệm. Ngài nhận thấy thế, hiểu ngay là đám kia đã vu cáo ngài với vua, nên khi trở về ngự viên, ngài định ra đi ngay hôm đó; song ngài lại suy nghĩ: “Khi nào biết chắc chắn, ta sẽ ra đi,” nên ngài không bỏ đi.
  Ngày hôm sau, khi ngài ngồi vào tọa sàng không nệm lót, quân hầu dâng ngự thiện dành cho vua cùng nhiều thực phẩm khác, và đem cho ngài thực phẩm trộn lẫn cả hai thứ trên.
Ngày thứ ba, quân hầu không để ngài đến gần bệ rồng mà đặt ngài ngồi ở đầu bệ, rồi chúng đem đến ngài các thức ăn trộn chung lại. Ngài nhận lấy và trở về ngự viên tự làm thức ăn cho mình tại đó.
Ngày thứ tư, họ đặt ngài trên hiên nhà phía dưới và đem cho ngài cháo bột gạo, ngài cũng đem về ngự viên tự dọn thức ăn lấy. Vua bảo:
-Mặc dù mọi vinh quang dành cho gã đã giảm sút, khất sĩ đại trí vẫn không bỏ đi. Vậy ta phải làm sao đây?
Họ bảo:
-Tâu Đại vương, không phải gã đến đây để khất thực mà vì gã muốn tranh quyền bá chủ. Nếu gã đến đây để khất thực thì gã đã bỏ đi ngay hôm đầu tiên gã bị coi khinh.
- Vậy ta phải làm gì đây?
- Xin Đại vương truyền lệnh giết gã ngày mai.
Vua đáp:
- Được lắm.
Vua trao kiếm vào tay các vị kia, và bảo:
- Ngày mai khi gã đến đứng trong cửa, hãy chặt đầu gã và phanh thây gã ra, chẳng cần nói gì với ai cả, cứ ném xác gã vào đống phân, rồi tắm rửa và trở về đây
Bọn họ sẵn sàng tuân lệnh ngay và tâu:
- Ngày mai chúng thần xin đến làm như thế.
  Sau khi sắp đặt công việc với nhau họ trở về tư thất. Còn vua sau buổi ăn tối, nằm trên vương tọa, nhớ lại mọi công đức của bậc Đại sĩ; nỗi ưu phiền đột nhiên kéo đến trong tâm, mồ hôi đổ ra khắp thân thể và không thể nào nằm yên trên giường, vua cứ trằn trọc mãi.
  Lúc bấy giờ, chánh hậu nằm bên cạnh vua, song vua chẳng thốt ra một lời nào với bà. Vì vậy bà hỏi vua:
-Tâu Thánh thượng, tại sao Thánh thượng không nói gì với thần thiếp? Thần thiếp có làm điều gì xúc phạm đến Thánh thượng chăng?
 Vua bảo:
 Không đâu ái hậu, nhưng chúng bảo khất sĩ Bodhi trở thành kẻ thù địch của ta rồi, nên ta đã ra lệnh cho năm vị cố vấn ngày mai phải giết gã đi, giết xong phải phanh thây gã mà vứt vào đống phân. Nhưng trong suốt mười năm trường gã đã giảng dạy ta biết bao chân lý. Trước đây, ta không hề thấy gã có một điều xúc phạm mảy may nào mà chỉ vì do sự xúi giục của kẻ khác, ta đã ra lệnh giết gã đi, vì thế ta rất ưu phiền.
 Lúc ấy, bà vội an ủi vua:
 -Tâu Thánh thượng, nếu gã là kẻ thù của ta, tại sao Thánh thượng lại buồn rầu khi giết gã? Phải giữ gìn thánh thể an khang, dù cho kẻ thù phải giết đi chính là vương tử của Thánh thượng. Xin Thánh thượng đừng bận tâm làm gì.
Lời bà khiến vua an tâm và ngủ thiếp đi. Vào lúc ấy con chó săn màu hung được cưng quý kia nghe được câu chuyện, nghĩ thầm: “Ngày mai ta phải dùng sức mạnh của ta để cứu người này.”
  Thế là sáng sớm hôm sau, con chó từ hiên nhà đi xuống cửa lớn đặt đầu trên bực thềm, canh chừng con đường từ đó bậc Đại sĩ đi đến. Nhưng năm vị quốc sư cầm kiếm trong tay đã đến từ tảng sáng và đứng bên trong cửa lớn.
Ẩn sĩ  Bodhi thấy đúng giờ, từ ngự viên đi đến cửa cung. Lúc ấy, con chó thấy ngài liền há miệng nhe bốn răng thật lớn ra và suy nghĩ: “Thưa Tôn giả, tại sao Tôn giả không đi khất thực nơi khác ở cõi Diêm-phù-đề? Đức vua đã sắp đặt cho năm quốc sư cầm kiếm đứng bên trong cửa chực giết ngài. Xin đừng đến cam phận chịu chết, mà phải nhanh chân tẩu thoát.” Rồi nó sủa lớn tiếng.
  Nhờ biết rõ ý nghĩa mọi thứ âm thanh nên ẩn sĩ Bodhi hiểu có chuyện chẳng lành, liền trở về ngự viên thu dọn mọi vật cần thiết để lên đường.
  Nhưng vua đứng bên cửa sổ, thấy ngài không đến, liền nghĩ: “Nếu người này là kẻ thù của ta thì gã sẽ trở về ngự viên thu thập mọi lực lượng để sẵn sàng hành động. Còn nếu không, chắc chắn gã sẽ lấy mọi thứ cần dùng và chuẩn bị ra đi. Ta muốn đi xem gã sắp làm gì.”
  Khi đến ngự viên, vua thấy bậc Đại sĩ bước ra khỏi am tranh cùng mọi vật dụng cần thiết đặt ở cuối lối đi trong am thất, sắp sửa lên đường, vua đảnh lễ ngài rồi đứng qua một bên và ngâm vần kệ đầu tiên:
1.    Có nghĩa gì chăng các vật này,
       Lọng, giày, y, gậy lại cầm tay?
       Thượng y, bình bát, cùng dao quắm,
        Ta muốn hiểu ra cớ sự vầy,
        Đến xứ sở nào xa cách lắm,
        Sao ngài nóng vội bỏ đi ngay?
Nghe vậy, bậc Đại sĩ suy nghĩ: “Ta chắc vua không hiểu mình đã làm gì. Ta muốn cho vua biết.” Ngài liền ngâm hai vần kệ này:
2.     Tâu Đại vương, hơn một thập niên,
        Hạ thần an trú chốn hoa viên,
        Từ nay về trước, chưa hề thấy
        Con chó này cất tiếng sủa lên.
3.     Hôm nay chó nọ lại nhe răng
       Trắng nhởn, kiêu căng thật dữ dằn,
       Vì đã nghe ngài cùng chánh hậu,
        Báo cho thần biết, sủa vang rần.
Lúc ấy, vua đành nhận tội, và ngâm vần kệ thứ tư xin ngài tha thứ:
4.     Tội ấy của ta thật đúng phần,
        Đích ta đã nhắm giết Tôn nhân,
        Song nay ân huệ ban lần nữa,
        Mong ước Tôn nhân hãy nán chân.
Nghe lời trên, bậc Đại sĩ đáp:
-Tâu Đại vương, các bậc trí không ở cùng với một người chẳng nhìn thấy sự việc chính mắt mình, mà lại nghe theo lời chỉ dẫn của kẻ khác.
Nói xong, ngài vạch rõ cách xử thế sai lầm của vua như sau:
5.Thực phẩm ngày xưa sạch, trắng ngần,
   Kế theo, màu sắc tạp nham dần,
   Đến nay đã hóa thành nâu sẫm,
   Chính lúc này ta phải rút chân.
6.Buổi đầu tọa thực ở trên ngai,
  Kế đó cầu thang, cuối bệ dài,
  Trước lúc ta chờ dài cổ họng,
  Ta đành từ giã chốn này thôi.
7.Ngài chớ mến yêu bạn bất trung,
  Khác gì đâu cái giếng khô cùn,
  Dù đào sâu đến bao nhiêu mẫu,
  Dòng nước tuôn ra cũng đục bùn.
8.Phải lo kết nghĩa bạn trung cann,
  Hãy tránh xa liền bạn bất nhân,
  Như kẻ khát đi tìm suối nước,
  Bạn vàng trung tín phải theo gần.
9.Lưu luyến bạn thân luyến ái ngài,
  Đem tình ngài đáp lại tình ai,
  Kẻ ruồng bỏ bạn vàng trung tín
  Được kể là người đốn mạt thôi.
10. Kẻ chẳng luyến lưu bạn thủy chung,
  Chẳng đem tình đáp lại tình thân,
  Giữa đời là kẻ đê hèn nhất,
  Địa vị không hơn lũ khỉ rừng.
11. Gặp gỡ quá nhiều cũng xấu xa,
  Khác nào chẳng gặp gỡ bao giờ,
  Hỏi xin ân huệ nào nhanh quá
  Cũng khiến tình thân hóa nhạt nhòa.
12. Viếng bạn, song đừng đến viếng luôn,
  Cũng không nấn ná bước dừng chân,
  Đúng thời, ta mới cầu ân huệ,
  Nhờ thế tình thân chẳng lụi dần.
13. Ai cứ kéo dài cuộc trú chân,
  Thấy thường bằng hữu, hóa cừu nhân,
       Trước khi ta mất tình bằng hữu,
       Xin giã biệt ngay, tiến bước đường.
Vua bảo:
14.  Dù trẫm chắp tay khẩn thiết nài,
      Ngài không muốn để lọt vào tai,
      Chẳng dành lời nói cho quần chúng
      Tha thiết cầu ân đức của ngài,
      Trẫm khát khao ngài ban tối huệ
       Xin về đây viếng trẫm nay mai.
Bồ-tát đáp:
15.   Nếu không gì gián đoạn dòng đời,
      Ví thử ngài, ta, Đại đế ôi!
      Còn sống, hỡi người nuôi quốc độ,
      Ta bay về lại chốn này thôi,
      Rồi ta còn dịp lành tương kiến,
      Trong lúc ngày đêm lờ lững trôi.
Bậc Đại sĩ nói thế xong còn thuyết giáo cho vua, ngài bảo:
-   Xin Đại vương hãy luôn tỉnh giác.
Sau khi rời ngự viên và đi một vòng khất thực trong khu phố của ngài, ngài rời thành Ba-la-nại và dần dần đi đến một chỗ trong vùng Tuyết sơn, trú tại đó một thời gian; rồi ngài hạ sơn, đến trú trong một khu rừng gần một thôn làng vùng biên địa.
   Khi ngài vừa ra đi, các cố vấn lại ngồi xử án, bóc lột dân chúng và suy nghĩ: “Nếu gã Đại Bồ-đề khất sĩ trở lại đây, ta sẽ mất kế sinh sống, vậy ta phải làm gì để ngăn cản gã ấy trở lại?” Rồi họ nghĩ đến điều này: “Những người như vậy không thể rời vật mà họ lưu luyến. Vậy vật gì làm gã lưu luyến đây?” Khi thấy chắc chắn đó phải là bà chánh hậu của vua, họ suy nghĩ: “Đây là lý do khiến gã ấy trở về đây. Ta phải nhanh tay với bọn họ và khiến bà ta phải chết.”
Họ liền nói lại điều này với vua:
-Tâu Đại vương, hôm nay có một lời đồn đại lan khắp kinh thành.
-Đồn đại việc gì?
-Khất sĩ Đại Bồ-đề và chánh hậu vẫn gửi tin tức cho nhau.
-Với mục đích gì?
-  Dân chúng bảo, vị ấy nhắn tin với chánh hậu như vầy: “Lệnh bà có đủ khă năng giết đức vua và trao chiếc lọng trắng cho ta chăng?” Chánh hậu nhắn lại vị kia: “Việc giết vua đúng là trọng trách của ta, vậy ngài phải đến đây gấp.”
Bọn họ cứ nói đi nói lại mãi điều này cho đến khi vua tin đó là sự thật, liền hỏi:
-Vậy phải làm gì bây giờ?
Họ bảo:
-Ta phải giết chánh hậu đi.
Rồi không cần tìm hiểu sự thật của chuyện này ra sao, vua phán:
-Vậy thì giết chánh hậu đi, rồi phanh thây bà ném vào đống phân.
Họ tuân lệnh ngay, và tin hoàng hậu chết chấn động khắp kinh thành.
 Lúc ấy bốn vương tử bảo nhau:
- Mẫu hậu ta dù vô tội, đã bị hành hình do lệnh người này.
 Và bọn họ trở thành cừu địch của vua. Vua vô cùng kinh hãi. Bậc Đại sĩ lúc ấy đã hay tin sự việc xảy ra liền suy nghĩ: “Lúc này không có ai ngoài ta có thể làm dịu lòng các vương tử này và khuyên họ tha tội phụ vương, ta sẽ về cứu mạng vua và giải thoát các vương tử khỏi mục đích tội lỗi của họ.”
 Vì thế, ngày hôm sau, ngài đi vào ngôi làng ở biên địa. Sau khi ăn thịt khỉ do dân làng cúng dường, ngài xin miếng da khỉ đem về phơi khô trong am tranh cho đến khi hết mùi hôi rồi làm thành y trong, y ngoài và khoác lên vai. Tại sao ngài làm thế, ngài có thể bảo:
-Nó rất hữu ích vào ta.
Khoác tấm da lên, ngài đi dần vào thành Ba-la-nại, tiến lại gần các vương tử và bảo họ:
- Giết phụ thân là một việc ác khủng khiếp, các vương tử không nên làm vậy. Làm người không ai thoát khỏi mạng vong chết chóc. Ta phải đến đây để hòa giải các vị; khi ta nhắn tin, chư vị phải đến gặp ta.
 Sau khi khích lệ các vương tử xong, ngài đi vào ngự viên trong kinh thành, ngồi trên phiến đá trải miếng da khỉ lên trên.
 Khi người giữ vườn thấy thế, liền vội phi báo cho vua. Vua nghe xong lòng đầy hoan hỷ, bảo năm vị cố vấn cùng đi với vua đến đảnh lễ bậc Đại sĩ, rồi ngồi xuống để chuyện trò vui vẻ cùng ngài.
Bậc Đại sĩ chẳng hề đáp lễ thân mật gì cả, cứ tiếp tục vuốt tấm da khỉ. Vua hỏi:
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây