Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
( TIỀN THÂN CITTA- SAMBHŪTA)
Chóng chầy thiện nghiệp đều mang quả…
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về hai người bạn đồng tu của Tôn giả Mahā Kassapa ( Đại Ca- diếp) sống rất hòa hợp với nhau.
Chuyện kể rằng đôi bạn này vô cùng thân thiết, đã phân chia mọi thứ cùng nhau hết sức công bình; ngay cả khi khất thực, hai vị cũng cùng đi ra và cùng trở về với nhau, hai vị không hề chịu rời nhau.
Trong Chánh pháp đường, Tăng chúng đang ngồi tán than tình bằng hữu ấy thì bậc Đạo sư bước vào, hỏi các vị đang bàn luận chuyện gì khi ngồi tại đó. Tăng chúng trình với Ngài. Ngài đáp:
- Này các Tỷ- kheo, tình bạn này chỉ trong một đời sống chẳng có gì kì lạ cả, vì các bậc trí nhân ngày xưa đã giữ được tình bằng hữu vững bền suốt qua cả ba, bốn đời sống.
Nói vậy xong, Ngài kể cho Tăng chúng nghe một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, trong quốc độ Avanti, tại kinh thành Ujjenī, có vị Đại vương trị vì mệnh danh là vua Avanti. Thưở ấy, một làng Caṇḍāla ( Chiên-đà-la: vô loại, hạ đẳng) ở ngoại thành Ujjenī, là nơi bậc Đại sĩ ra đời. Một người khác sinh làm con trai của bà dì ngài. Một cậu bé tên là Citta, cậu kia tên là Sambhūta.
Khi hai cậu bé lớn lên và đã học được nghề quét bằng chổi trong dòng họ Chiên-đà-la rồi, liền nghĩ rằng hai cậu sẽ đi trình diễn nghề này tại cổng thành. Vì thế, một cậu biểu diễn tại bắc môn, một cậu tại đông môn. Bấy giờ, trong kinh thành này có hai phụ nữ giỏi nghề xem tướng, một cô là con gái một thương nhân, và cô kia là con một tế sư. Hai cô gái ấy đi vui chơi trong công viên, sau khi bảo gia nhân đem theo thực phẩm đủ loại cứng, loại mềm, vòng hoa hương liệu, thì ngẫu nhiên một cô đi ra cổng bắc, và
- Chúng là ai đây?
Rồi hai cô được cho biết đó là hai kẻ Chiên-đà-la. Hai cô bảo:
- Thấy điềm này xui xẻo lắm.
Và sau khi rửa mắt bằng nước hương thơm, cả hai đều đi về. Sau đó, đám dân chúng la lớn:
- Này bọn hạ đẳng tồi tàn kia, chúng bay đã làm chúng ta mất phần cơm rượu đáng lẽ được hưởng miễn phí đấy.
Chúng đánh đập hai anh em cùng họ ấy một trận nhừ tử, làm cả hai đau đớn ê chề.Khi hai người tỉnh dậy liền đi tìm nhau và kể cho nhau nghe tai họa đã đến cho mình, rồi lại kêu gào và cố nghĩ cách xem phải làm gì đây. Cả hai suy nghĩ : “ tất cả việc khốn nạn này đã giáng xuống chúng ta chỉ vì dòng giống ta sinh ra. Ta sẽ chẳng bao giờ làm kẻ Chiên-đà-la nữa, mà ta phải giấu tung tích dòng họ để rồi đi tới Takkasilā, giả dạng các nam tử Bà-la-môn và học tập tại đó.”
Sau khi quyết định như vậy, cả hai đến chỗ đó, theo đòi học tập với một giáo sư danh tiếng lẫy lừng. Thiên hạ đồn vang khắp cõi Diêm-phù-đề ( Ấn Độ ) rằng có hai nam tử Chiên-đà-la đang làm thư sinh và giấu giếm tung tích gia tộc mình. Bậc trí nhân Citta học tập thành công, song chàng Sambhūta thì không được như thế.
Một ngày kia, có người dân làng mời vị giáo sư ấy với ý định cúng dường thực phẩm cho các Bà-la-môn. Bấy giờ, do ngẫu nhiên mưa suốt đêm ấy làm ngập lụt mọi hang hốc trên đường đi.Sáng sớm hôm sau,vị thầy giáo gọi Trí giả Citta vào và bảo:
- Này con, hôm nay thầy không đi được,vậy con đi cùng các nam tử kia, rồi làm lễ chúc phước lành và khi con ăn thực phẩm của mình xong, hãy mang về những món để dành cho thầy.
Do dó, ngài đem các thanh niên Ba-la-môn khác cùng lên đường .Trong khi các thanh niên tắm rửa và súc miệng,dân chúng dọn món cháo gạo đã chuẩn bị sẵn sàng để mời khách quý và bảo:
- Để cho nó nguội đi.
Trước khi cháo nguội, đám thanh niên đã đến ngồi xuống. Dân chúng dâng nước cúng dường, rồi đặt các bát cháo trước mặt họ. Trí óc Sambhūta
- Cháo nóng quá phải chăng?
Chàng kia quên mất bản thân mình, nên đáp lại theo ngôn ngữ của họ:
- Nhổ ra, nhổ ra mau!
Nghe thế, đám thân niên nhìn nhau bảo:
- Loại ngôn ngữ gì thế này?
Lúc ấy, bậc Trí giả Citta nói lời chúc lành cho tất cả.
Khi các chàng trai kia về nhà, họ tụ tập thành tụm năm tụm ba và ngồi bàn luận về những từ ngữ đã được dùng kia. Khi nhận ra đó là ngôn ngữ của bọn Chiên-đà-la, họ kêu to:
- Quân hạ đẳng tồi tàn kia! Chúng bay đã lừa dối cả bọn ta lâu nay, cứ giả dạng làm Bà-la-môn!
Rồi họ đánh đập hai vị ấy. Có một người tốt bụng xua đuổi hai vị ra và nói:
- Đi ngay, vết nhục nằm trong huyết thống kia! Phải đi ngay, đến đâu đó mà làm ẩn sĩ khổ hạnh!
Rồi các thanh niên Bà-la-môn trình với thầy giáo rằng, đấy là hai kẻ Chiên-đà-la giả dạng.
Hai chàng đi vào rừng sống đời sống khổ hạnh tại đó, sau một thời gian chết đi, tái sanh làm hai chú nai con bên bờ sông Nerañjarā (Ni-liên-thiền). Từ lúc sinh ra, chúng luôn luôn ở bên nhau. Một ngày kia, sau khi chúng ăn xong, một người thợ săn chợt thấy chúng dưới một gốc cây đang ngồi nhai lại, âu yếm vuốt ve nhau rất hạnh phúc, đầu sát đầu, mõm kề mõm, sừng bên sừng. Gã liền phóng lao tới, giết trọn luôn cả hai bằng phát lao ấy.
Sau đó, chúng tái sanh làm con của chim ưng biển trên bờ Nerbudda (Niết-bút). Cũng tại đó, chúng lớn lên sau khi ăn xong lại ôm ấp đầu sát đầu, mỏ kề mỏ. Một kẻ bẫy chim trông thấy, bắt cả hai và giết đi.
Sau đó, bậc Trí giả tái sanh tại Kosambī, làm con vị tế sư; còn bậc Trí Sambhūta tái sanh làm vương tử của vua Uttarapañcāla. Ngay từ ngày được đặt tên, hai hài nhi ấy đã có khả năng nhớ lại các đời trước của mình. Song
Khi Citta được 16 tuổi, chàng xuất gia làm ẩn sĩ khổ hạnh ở vùng Tuyết sơn, tu tập làm phát khởi thắng trí do thiền định và an trú trong hỷ lạc thiền định. Còn bậc Trí giả Sambhūta, sau khi phụ vương băng hà, liền được phong chiếc lọng trắng trên đầu vào ngày phong vương kia, giữa quần thần đông đảo, ngài làm một bài ca tức vị rồi rung cảm ngâm lên hai đoạn.
Khi quần thần nghe xong, đám cung phi và nhạc công đều ca hát, bảo nhau:
- Đây là khúc đăng quang của đức Chúa thượng chúng ta!
Và dần dà với thời gian, dân chúng đều ca khúc hát ấy vì đó là Thánh đạo ca được vua yêu thích. Bậc Trí giả Citta đang an trú ở vùng Tuyết sơn, tự hỏi không biết hiền đệ Sambhūta của ngài đã được giương chiếc lọng che ấy chưa. Khi nhận thấy việc đã xong, ngài suy nghĩ: “Ta chẳng bao giờ đủ sức giáo hóa một vị tân vương còn trẻ, song khi nào em ta già rồi, ta sẽ đến thăm và khuyên nhủ em ta đi làm ẩn sĩ khổ hạnh.”
Suốt năm mươi năm ngài không hề đi thăm viếng, và trong thời gian ấy, vua có đông con cái lên dần. Về sau nhờ thần lực của ngài, Trí giả Citta phi hành đến vườn ngự uyển đáp xuống, ngồi trên bảo tọa nghi lễ như một bức tượng bằng vàng.
Vừa lúc ấy, một chàng trai kiếm củi vừa làm việc vừa hát khúc đạo ca ấy. Bậc Trí giả Citta gọi chàng trai lại gần, chàng tiến đến đảnh lễ cung kính rồi đứng chờ. Trí giả Citta bảo chàng:
- Từ sáng đến giờ, cậu chỉ hát mãi khúc đạo ca ấy, thế cậu không biết khúc nào nữa chăng?
- Thưa Tôn giả, có chứ, con biết nhiều khúc ca lắm, song đây là những lời ca được đức vua yêu chuộng, vì thế con không hát khúc nào khác.
- Thế không có ai biết hát một điệp khúc đáp lại khúc ca của đức vua chăng?
- Thưa Tôn giả, con biết hát nếu con được dạy khúc ca ấy.
- Thế thì được, hễ khi nào đức vua hát hai khúc ca trên, thì cậu hát khúc này làm khúc thứ ba đấy.
Rồi ngài ngâm một khúc và bảo:
Chàng trai vội vàng chạy về tìm mẹ, bảo mẹ mặc cho chàng y phục thật chỉnh tề rồi đến cửa cung vua, nhờ người tâu lên rằng có một chàng trai xin được yết kiến để hát một khúc ca đáp lại lời đức vua. Vua bảo:
- Cho nó vào.
Khi chàng trai tiến lên, đảnh lễ ngài xong, vua phán:
- Chúng tâu rằng cậu muốn hát một khúc đáp lời trẫm có phải chăng?
Chàng trai đáp:
- Tâu Chúa thượng, đúng vậy, xin ngài triệu tâp quần thần để cùng nghe.
Ngay khi triều đình tụ họp xong, chàng tâu:
- Tâu Chúa thượng, xin Chúa thượng ca khúc hát của ngài trước, rồi thần sẽ xin hát lời đối lại.
Vua liền ngâm đôi vần kệ:
1. Chóng chày thiện nghiệp đều mang trái,
Không nghiệp gì không có quả sinh,
Chẳng có việc lành nào uổng phí,
Sambhūta, ta thấy, lớn lên thành
Hùng cường, vĩ đại và như thế
Công đức ngài đem đến quả lành.
2. Chóng chày thiện nghiệp đều mang trái,
Không nghiệp gì không có quả sinh,
Chẳng có việc lành nào uổng phí,
Citta ai biết, có vinh quang,
Giống như phần trẫm, tâm hiền hữu
Có được an vui lợi lạc chăng?
Khúc đạo ca trên vua chấm dứt, chàng trai liền đáp vần thứ ba:
3. Thiện nghiệp chóng chầy đều đạt quả,
Nghiệp nào mà chẳng quả lai sinh,
Không gì vô ích tâu Hoàng thượng,
Xin ngắm Citta tại cổng thành,
Chẳng khác quân vương, tâm vị ấy
Đã đem hỷ lạc đến cho mình.
Nghe lời này, vua lại ngâm vần kệ thứ tư:
Hay chàng nghe được chuyện ngày xưa
Từ ngài hay một người nào khác?
Ôi ngọt ngào thay khúc Thánh ca!
Ta chẳng sợ gì, ta sẽ thưởng
Ngôi làng hay tặng vật làm quà.
Tiếp theo, chàng trai ngâm vần kệ thứ năm:
5. Hạ thần nào có phải Citta,
Song chuyện ấy thần được biết qua,
Chính một hiền nhân vừa dạy bảo:
“Đi ngâm lời hát đối dâng vua,
Rồi chàng sẽ được ngài ban thưởng,
Tay của ngài ân nghĩa đậm đà.”
Nghe lời này, vua suy nghĩ: “Chắc hẳn đó là hiền huynh Citta của ta rồi, ta muốn đi tìm ngài ngay.” Thế là vua ra lệnh cho quần thần qua hai vần kệ sau:
6. Các vương xa hãy thắng yên cương,
Chạm trổ tinh vi, đẹp tuyệt trần,
Đem buộc cân đai vào bảo tượng,
Điểm trang vòng cổ sáng huy hoàng.
7. Quần thần hãy đánh trống liên hoan,
Bảo thổi tù và, ốc dậy vang,
Chuẩn bị vương xa nhanh bậc nhất,
Bởi vì trẫm muốn sớm lên đàng,
Hôm nay tìm thảo am cô tịch
Yết kiến hiền nhân trước tọa sàng.
Vua nói vậy xong, liền ngự lên vương xa lộng lẫy và vội vàng đến ngay cổng ngự viên. Tại đó, ngài dừng xa giá và đến gần Hiền giả Citta, đảnh lễ rất cung kính rồi ngồi xuống một bên, lòng tràn ngập hân hoan, ngài ngâm vần kệ thứ tám:
8. Thật quý thay là Thánh khúc xưa,
Trẫm từng ca hát thật say sưa,
Trong khi dân chúng đông dồn dập,
Quần tụ chung quanh chật cả nhà;
Hân hoan, hạnh phúc ngập tâm ta
Từ lúc tái ngộ Hiền giả Citta, vua hoan hỷ ra lệnh làm mọi sự cần thiết và truyền chuẩn bị bảo tọa dành cho vị hiền huynh, rồi ngài ngâm vần kệ thứ chín:
9. Tọa sàng, nước mát rửa bàn chân,
Đúng pháp là đem lễ cúng dâng
Thực phẩm dành cho nhiều khách quý,
Xin hiền huynh nhận, trẫm ân cần.
Sau lời mời ngọt ngào này, vua ngâm vần kệ khác để tặng bạn hiền một nửa giang san của mình:
10. Bảo làm cho nhộn nhịp từng bừng,
Nơi chốn hiền huynh sẽ trú thân,
Truyền đem nữ tỳ theo phục vụ,
Ôi, ta muốn tỏ với hiền nhân
Lòng ta yêu quý ngài tha thiết
Xin hãy cùng ta ngự trị dân.
Khi nghe những lời này, bậc Trí giả Citta thuyết giáo cho vua qua sáu vần kệ:
11. Hỡi Đại vương nhìn quả ác hành,
Thấy bao lợi lạc thiện hành sinh,
Ta mong điều ngự thân tu tập,
Con, của không lôi cuốn trí mình.
12. Trăm năm tròn cuộc sống người đời,
Năm tháng theo nhau kế tiếp trôi,
Khi đến hạn kỳ, người héo úa,
Tựa hồ lau sậy, nát tan thôi.
13. Thế nghĩa gì hoan lạc, ái ân,
Nghĩa gì săn đuổi cảnh giàu sang?
Nhiều con, nghĩa lý gì, nên biết,
Hỡi Đại vương, ta thoát buộc rang
14. Ta biết, vì đây chính thật chân,
Ta không qua khỏi tử ma thần,
Nghĩa gì vàng bạc và ái ân,