Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 31: 473. CHUYỆN BẠN- THÙ - Phần 8 (trang 210-216)

             Ăn toàn xương xẩu lẫn đàn ruồi.
3.          Ai phạt kẻ không có tội gì,
             Để người có tội lọt qua đi,
             Khác gì hơn một người mù mắt
             Bước trên đường cái quá gồ ghề.
4.          Người xét xem toàn thể sự tình
            Trong việc dù to, nhỏ thật rành,
            Cai trị nước nhà theo cách ấy
             Xứng ngôi chúa tể giữa quần sinh.
5.          Người nào ở địa vị cao sang,
             Xử sự không nên quá dễ dàng,
             Cũng chẳng nên làm khe khắt quá,
             Song song thực hiện cả đôi đàng.
6.          Quá dễ dàng hay bị miệt khinh,
             Khắt khe thường nổi trận lôi đình,
             Giữa hai điều ấy cần thông hiểu
            Và giữ đường trung chính hợp tình.
7.         Người đang nổi giận, hỡi Quân vương,
            Cũng nói nhiều như kẻ bất lương,
             Và thế là đừng vì phụ nữ,
             Giết vương nhi nối dõi tông đường.
   Song dù nói hết mọi cách, quần thần vẫn không thuyết phục được vua theo lời họ. Bồ-tát cũng vậy, đã dùng hết mọi lời lẽ van xỉn nhưng không lảm vua cha nghe theo ngải. “Không,” vua thật ngu si mù quáng phán bảo:
  -    Lôi cổ nó đi thả xuống vực sâu dành cho bọn trộm cướp.
 Rồi vua ngâm vần kệ thứ tám:
8.          Cả nước này đang đứng một bên,
            Bên kia ái hậu một mình riêng,
             Với nàng, tuy vậy, ta khăng khít,
            Thả nó vào hang, hãy cút liền!
 Nghe các lời lẽ ấy, không ai giữa đám mười sáu ngàn phi tần đứng yên được, trong khi toàn thể thần dân đưa tay lên vò đầu bứt tóc và kêu than khóc lóc. Vua phán:
-     Đừng để bọn này cản trở việc quẳng tên kia xuống vực sâu.
   Rồi giữa đám quần thần và dân chúng vây quanh than khóc, vua cứ ra lệnh tóm lấy vương tử quẳng lộn nhào xuống vực sâu.
   Lúc ấy, vị thần trú ngụ ở trên đồi ấy dùng uy lực nhân từ an ủi vương tử bảo:
   -    Hỡi Padumn, xin ngài đừng sợ hãi.
   Vị thần đưa cả hai tay ra đón lấy ngài, ôm chặt ngài vào lòng mình, truyền qua thân thể ngài một niềm xúc động kỳ diệu, đem ngài vào nơi cư trú của bầy rắn gồm tám loại, dưới quyền của vị Xà vương. Vị rắn chúa đón Bồ-tát vào hang rắn, song lại chia cho ngài một nửa giang sơn vinhh hiển, và ngài ở đó một năm tròn. Rồi sau đó ngài bảo:
  - Ta muốn trở về cõi nhân gian,
 Chúng hỏi:
 -      Đến nơi đâu?
 -     Đến Tuyết sơn, nơi ta muốn sống đời tu hành.
 Xà vương chấp thuận, mang ngài đi đến tận nơi có loài người đi qua lại, trao cho ngài đủ mọi vật dụng cần thiết của đời tu hành, rồi trở về chốn cũ.
 Thế là ngài tiến lên vùng Tuyết sơn, đi theo cụộc đời đạo hạnh, tu tập năng lực Thiền định đem đến an lạc, ngài ở đó nuôi sống mình bằng các thứ củ quả rừng.
  Lúc bấy giờ, có một người kiểm lâm ở Ba-là-nại đi  đến chốn ấy và nhận ra bậc Đại sĩ. Gã bảo:
  -  Tâu Chúa công, có phải chăng ngài là thái tử Paduma vĩ đại?
 Ngài đáp:
 -  Chính phải, thưa tôn ông.
 Kẻ kia đảnh lễ ngài và ở lại chơi vài ngày. Sau đó, y trở về Ba-la-nại, trình với vua:
-  Tâu Chúa thượng, thái tử đã theo cuộc đời tu hành ở vùng Tuyết sơn, hiện đang sống trong am lá. Hạ thần đã đến tận đó ở với ngài và trở về đây.
Vua hỏi:
-   Ngươi có chính mắt trông thấy thái tử chăng?
-  Tâu Chúa thượng, chính phải.
  Vua liền cùng đám đông tùy tùng đến đó, đóng trại ở ven rừng rồi cùng vài cận thần đi đến đảnh lễ bậc Đại sĩ lúc ấy đang ngồi ở ngưỡng cửa am trong mọi vẻ uy nghi rực rỡ, còn vua ngồi xuống một bên; các cận thần
cũng đảnh lễ ngài với lời lẽ rất thân ái, xong cùng ngồi một bên cả. Về phần bậc Đại sĩ, ngài mời vua dùng trái rừng và đàm đạo rất vui vẻ với vua. Sau đó, vua hỏi:
 -    Này vương nhi, con bị ta thả xuống vực sâu, làm cách nào mà còn sống sót được?
 Và vua ngâm vần kệ thứ chín để hỏi chuyện đó:
9.               Con bị thả vào miệng vực sâu,
                  Bên sườn núi dựng, dốc đèo cao,
                  Chẳng ai cứu giúp, rừng dừa rậm,
                  Con vẫn bình an bởi cách nào?
 Sau đây, là những câu kệ còn lại gồm năm vần xen kẽ nhau, ba vần do Bồ-tát ngâm và hai vần do vua ngâm.
Vương tử:
10.             Một mãnh xà kia đủ lực hùng
                  Sinh ra sống dưới đất trong rừng,
                  Bắt con cuộn lấy trong mình rắn,
                  Con được bình an, thoát tử thần.
Vua cha:
11.             Cha sẽ đưa con, hỡi thiếu nhi,
                  Quay về cung điện của cha đi,
                  Con làm gì nữa trong rừng núi,
                   Hạnh phúc con nay sẽ trị vì.
Vương tử:
12.             Kẻ nào đã nuốt móc mồi câu,
                  Khi kéo móc ra, máu đỏ trào,
                 Kéo được móc rồi là hạnh phúc,
                 Lòng con hỷ lạc tuyệt thanh cao.
Vua cha:
13.            Sao con nói đến móc mồi câu,
                 Con nói vậy sao đến máu đào,
                 Con lại nói sao về rút móc,
                 Cha nay muốn biết việc kia nào?
Vương tử:
14.           Dục tham là chính móc mồi câu,
                        Con nói ngựa voi, chính máu đào,
                        Con rút ra nhờ lìa thế tục,
                        Cha cần biết chuyện ấy, muôn tâu.
  - Tâủ Đại vương, như vậy, việc làm vua không có nghĩa gì đối với con cả. Song Đại vương phải chú tâm đừng vi phạm Thập vương pháp mà phải từ bỏ các ác nghiệp và trị dân thật chân chính.
  Bậc Đại sĩ khuyến giáo vua cha qua những lời đó. Vua vừa than khóc vừa từ giã ra đi, và trên đường về kinh, vua hỏi các cận thần:
  -  Vì ai mà ta phải chia lìa với một người con đức độ như thế?
Hội chúng đáp:
 -  Chính vì vương hậu.
Vua liền ra lệnh bắt vương hậu thả xuống vực sâu dành cho bọn trộm cướp, rồi vào thành cai trị theo đúng chánh pháp.
                                                                    *
  Khi bậc Đạo sư chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
  -   Này các Tỷ-kheo, như vậy, nữ nhân này đã vu cáo Ta thuở xưa, và phải chịu hủy diệt thương đau.
 Rồi Ngài nhận diện tiền thân bằng cách ngâm vần kệ cuối cùng:
15.                 Kế mẫu ta là ả Ciñcā,
                       Đề-bà-đạt-đa, chính vua cha,
                      Ta là thái tử Liên Hoa nọ,
                      Còn vị thần non thuở ấy là
                      Xá- lợi-phất giờ đây Trưởng lão,
                      Thiện xà chúa nọ A-nan-đà,
                      Và này Tăng chúng, Ta tuyên bố
                      Kết thúc Tiền thân ấy của Ta.
                                                        473. CHUYỆN BẠN- THÙ
                                                       (TIỀN THÂN MITTĀMITTA)
  Làm sao người trí phải tinh cần...
 Chuyện này bậc Đạo sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên về một vị triều thần chánh trực của vua Kosala.
  Tương truyền rằng, vị quan này rất có công với vua, và sau đó vua ban tặng ông vinh hiển tột bực. Các vị quan khác không thể nào chịu đựng được việc ấy được, nên vu cáo với vua đã làm những việc xúc phạm đến vua. Ngài cho điều tra về vị ấy  và thấy ông không có lỗi gì cả, liền suy nghĩ: “Ta không thấy người này phạm lỗi gì cả, làm sao ta biết được đó là bạn hay thù?” Rồi vua lại nghĩ: “Không có ai ngoài đức Như Lai có đủ khả năng quyết đoán vấn đề này, vậy ta đi tham vấn ngài xem sao.”
 Thế là sau khi điểm tâm xong, vua đến viếng bậc Đạo sư và thưa:
 - Bạch Thế Tôn, làm sao ta có thể phân biệt một người nào là bạn hay thù của ta?
 Lúc bấy giờ, bậc Đạo sư đáp:
 -  Thưa Đại vương, những người không ngoan ngày xưa đã suy nghĩ về vấn đề này và đã hỏi các bậc hiền trí, rồi theo lời khuyến giáo của các vị ấy mà tìm ra chân lý, lánh xa các cừu nhân và chú tâm đến các bạn lành.
Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của vua, ngài kể một chuyện quá khứ.
                                                                 *
  Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát là vị cận thần khuyến giáo vua về thế sự cũng như thánh sự.
  Thời ấy, đám triều thần kia vu cáo một vị quan chánh trực. Vua thấy vị ấy không có lỗi gì liền hỏi bậc Đại sĩ:
  -  Này, bằng cách nào ta có thể phân biệt bạn và thù?
 Rồi ngài ngâm vần kệ thứ nhất:
1.                    Làm sao người trí phải tinh cần,
               Phân biệt làm sao được thực chân,
               Những việc làm nào tai mắt thấy
               Tỏ rằng kẻ ấy chính cừu nhân?
Lúc ấy, bậc Đại sĩ ngâm năm vần kệ này để giải thích các dấu hiệu của kẻ thù:
2.            Khi ngài thăm, nó chẳng tươi cười,
               Nó chẳng tỏ ra muốn đón mời,
              Nó chẳng quay nhìn theo cách ấy,
              Và trả lời “không có” với ngài.
3.             Kẻ thù ngài, nó lại tôn vinh,
                Bạn thiết của ngài, nó miệt khinh,
                Nó cản người khen ngài tốt đẹp,
                Những người phỉ báng, nó hoan nghênh.
4.             Nó chẳng hề tâm sự mảy may,
                Chuyện ngài tâm sự, nó phơi bày,
                Việc ngài làm, chẳng hề khen tốt,
               Cũng chẳng hề khen trí tuệ ngài.
5.            Khi ngài hạnh phúc nó không mừng,
               Ô nhục ngài mang, nó thỏa lòng,
               Nếu được món ngon, không nghĩ tới
               Tên ngài, trong dạ chẳng buồn thương,
              Cũng không kêu lớn: Ô này bạn,
              Ta ước bạn ta cũng có phần!
6.           Mười sáu điều trên, cớ rõ ràng
               Cho ngài thấy được một cừu nhân,
              Nếu người có trí nào nghe thấy,
              Sẽ biết kẻ thù để nhận chân.
7.           Làm sao người trí phải tinh cần
              Phân biệt làm sao được thực chân,
              Các việc làm nào tai mắt thấy
             Tỏ ra người ấy chính thân bằng?
Khi được hỏi qua lời kệ trên, vị quan liền ngâm các vần kệ còn lại:
8.           Kẻ ấy nhớ người lúc vắng xa,
               Mừng vui khi bạn trở về nhà,
             Trong lòng hoan hỷ lên cao độ,
             Chàng cất tiếng liền đón rước ta.
9.          Chàng chẳng tôn vinh kẻ chống ngài,
             Chỉ ưa phụng sự bạn ngài thôi,
            Những ai phỉ báng, chàng ngăn cản,
             Ai tán tụng ngài, lại thấy vui.
10.        Chàng kể nhiều tâm sự vớỉ ngài,
             Chuyện ngài tâm sự, chẳng phơi bày,
             Đề cao những việc ngài làm được,
             Khen ngợi tài năng bạn thật hay.
11.        Chàng vui khi nghe bạn được an lành,
             Chàng khổ lòng khi bạn ố danh,
             Nếu được gì cao lương mỹ vị,
             Chàng liền nghĩ đến bạn thân mình,
             Cảm thương ngài quá, chàng kêu lớn:
             Ta ước ao phần bạn được dành!
12.        Mười sáu điều trên ấy chứng minh
              Rõ ràng xác định bạn thân tình,
              Nếu người có trí nào nghe thấy,
              Có thể nói ngay bạn chí thành.
   Vua hoan hỷ nghe lời thuyết giảng của bậc Đại sĩ, liền ban tặng ngài vinh quang tột đỉnh.
                                                               *
   Sau khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Đạo sư bảo:
   - Thưa Đại vương, như vậy vấn đề này nảy sinh từ ngàn xưa và các bậc trí nhân dạy bảo, nhờ ba mươi hai biểu hiện trên mà Ta có thể biết được bạn hay thù.
  Cùng với các lời này Ngài nhận diện tiền thân:
   -   Vào thời ấy, Ānanda là vua và Ta chính là vị triều thần hiền trí.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây