Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 98:                                        527. CHUYỆN KỸ NỮ UMMADANTĪ - Phần 2 (trang 686-692)

29. Tóc đầu chàng kết đẹp phi thường,
     Cuộn tóc hàng trăm, tỏa ngát hương,
     Đôi mái tóc này chàng rẽ giữa,
     Tóc con cũng ước chải như chàng.
30. Tình cờ chàng thả tóc buông dây,
     Bao vẻ yêu kiều gửi gió bay,
     Sực nức lều ta miền thảo dã
     Như mùi sen thoảng gió lung lay.
31. Người của chàng xinh, ngắm mỏi mòn
     Thân chàng cao thật khác thân con,
     Bay mùi thoang thoảng cùng nơi chốn
     Như khóm hoa hè nở ngát hương.
32. Trái chàng sáng đẹp có nhiều màu,
      Trên đất, dù chàng ném thật cao,
     Nó cũng về nơi chàng đứng mãi,
     Trái gì, con muốn hỏi cha nào.
33. Răng chàng đều đặn trắng trong ngần,
     Mọi vẻ yêu kiều sánh bảo trân,
     Chàng hé đôi môi, ôi quyến rũ!
     Thức chàng ăn khác củ, rau rừng.
34. Tiếng nói chàng êm dịu, rõ, trong,
     Vào tai âm, hưởng tận trong lòng,
    Xuyên vào tim, thật du dương điệu,
    Giai khúc sơn ca chẳng sánh bằng.
35. Giọng kia dịu xuống, lắng thâm trầm,
     Con chắc dành ngâm tụng chú thần,
    Tuy thế, chàng ân cần quyến luyến,
    Cùng chàng, con ước kết thân bằng.
36. Cánh tay chàng ấm, sáng kim ngân
      Như chớp bao lần cuộn lấy thân,
      Được phủ lông tơ mềm, các ngón
     Như san hô đỏ ửng, tròn dần.
37. Tứ chi mềm dịu, tóc buông lơi,
      Các móng tay tô đỏ, thật dài,
       Với cánh tay mềm ôm siết chặt,
       Trai xinh tạo khoái lạc cho đời.
38. Tay ngà như lụa chiếu huỳnh quang,
      Như tấm gương vàng phản ánh dương,
       Chạm nhẹ làm con bừng rúng động,
      Chàng đi, lòng đốt nóng như rang.
39. Chàng không gánh thóc lúa bao giờ,
      Tay của chàng không bổ củi ra,
      Cũng chẳng đem rìu cưa gỗ xuống,
     Không mang cọc nhọn, đẹp lòng ta.
40. Tọa sàng bằng lá kết giày vò,
     Chứng kiến đùa vui, trẻ lắm trò,
     Rồi đến hồ kia con tắm mát,
    Xong thèm nghỉ mệt ở trong nhà.
41. Thánh kinh, con chẳng đọc nay mai,
     Chẳng đốt lửa thiêng tế lễ đài,
      Con sẽ nhịn ăn dâu, củ, đậu,
      Đến khi con gặp lại chàng trai.
42. Phụ thân, cho biết, hẳn am tường
     Nơi chốn đạo nhân ở cõi trần,
     Con muốn phi thân ngay đến đó,
      Bằng không, con chết tại tiền đường.
43. Nghe rừng chàng nói rực tươi hoa,
      Nhộn suốt ngày chim ríu rít ca,
      Con muốn phi thân nhanh đến đó,
        Bằng không, con chết tại đây mà.
Bậc Đại sĩ nghe chàng trai nói lảm nhảm như vậy thì hiểu ngay chàng đã đánh mất công hạnh vì một nữ nhân nào đó, nên ngài ngâm sáu vần kệ để giáo huấn con mình:
44. Ngôi nhà xưa của các hiền nhân
      Ở giữa rừng này ngập ánh quang,
      Nơi ẩn của chư Thần, Thánh nữ,
      Chẳng hề cảm thấy mất an toàn.
45. Tình bạn phát sinh, sẽ diệt vong,
     Mọi người yêu mến đám thân nhân,
    Song kẻ đáng thương nào có biết
     Nhờ ai, có gốc rễ, tình thân.
46-47. Tình bạn kết nhờ gặp gỡ luôn,
       Đoạn giao, tình bạn phải tiêu vong;
        Nếu con nhìn lại chàng trai ấy
         Như trước, cùng trò chuyện thiết thân,
        Như lụt cuốn trôi thóc lúa chín,
        Công năng đức hạnh bại vong dần.
48.   Ma quỷ thường đi khắp thế gian,
       Thiên hình giả dạng, hãy coi chừng!
       Hiền nhân chẳng kết giao cùng chúng,
       Công hạnh tan hoang nếu chúng gần!
  Nghe những lời cha dạy, chàng trai suy nghĩ: “Cha ta bảo nàng ấy là một con quỷ cái!” Sau đó, chàng xin cha tha lỗi và nói:
- Thưa thân phụ, xin hãy tha tội cho con, con sẽ không rời nơi này đâu.
Cha chàng liền an ủi chàng, ngài bảo:
- Này con thân, con hãy tu tập từ, bi, hỷ, xả.
Và ngài thuyết giảng cho chàng pháp môn chứng đắc Tứ vô lượng tâm này.
Từ đó, chàng trai thực hành theo lời dạy bảo trên và tu tập thiền định như trước.
                                                                           *
Khi đã chấm dứt Pháp thoại, bậc Đạo sư thuyết giảng các Thánh đế và nhận diện tiền thân:
-Thời ấy, người vợ trong những ngày phóng dật cũ của kẻ này là Naḷinikā, Tỷ-kheo thối thất là Isisiṅga và Ta chính là người cha.
Vào lúc kết thúc các Thánh đế, vị Tỷ-kheo thối thất đã được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu).
                                       527. CHUYỆN KỸ NỮ UMMADANTĪ
                                                 (TIỀN THÂN UMMADANTĪ)
   Kia nhà ai đó, hỡi Sunanda?...
  Câu chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Jetavana (Kỳ Viên) về một Tỷ-kheo thối thất.
   Chuyện rằng, một ngày kia, trong khi đi quanh thành Sāvatthi( Xá-vệ) để khất thực, ông chợt trông thấy một nữ nhân tuyệt sắc,với xiêm y diễm lệ, liền sinh lòng mê mẩn nàng ấy. Khi trở về tinh xá, ông không thể nào xua tan bóng hình nàng khỏi tâm tư. Từ lúc ấy, như thể trúng mũi tên độc của dục tình, ông mắc bệnh tương tư, gầy gò như chú nai rừng, gân xanh nổi khắp mình mẩy và mong manh như cành liễu rũ.
Ông không tìm thấy an lạc trong bất cứ pháp nào của tứ oai nghi, cũng không ham thích trầm tư, nhưng một khi xao lãng phận sự đối với vị Giáo thọ, ông xao lãng luôn cả việc học hỏi, suy tư và tham thiền nhập định. Các bạn đồng phạm hạnh bảo:
-  Này Hiền giả, trước đây, bạn an tịnh và tự tại trong tứ oai nghi. Sao giờ đây không như vậy nữa, vì cớ gì?
Ông đáp:
-  Này Hiền giả, ta chẳng còn ham thích gì nữa.
Tăng chúng khuyên ông giữ an lạc và bảo:
- Sinh ra làm đức Phật thật khó lắm thay, được nghe Chánh pháp và làm người là chuyện cũng khó vậy. Song trước đây, Hiền giả đã đạt được điều này. Và vì mong ước đoạn trừ phiền não, bạn đã để mặc thân nhân khóc lóc và trở thành người tu hành sống đời sống ẩn sĩ. Tại sao nay Hiền giả lại rơi vào vòng tham dục? Những tham dục xấu xa này rất thông thường đối với mọi chúng sanh sinh si ám, từ loài sâu bọ trở lên; những tham dục này có gốc ở sắc pháp hữu vi, vì thế chúng rất đáng nhàm chán. Tham dục đầy phiền não, khổ ưu ở đây lại tăng trưởng nhiều hơn nữa. Tham dục giống như xương khô, như miếng thịt. Tham dục như bó đuốc làm bằng cỏ
khô hay lửa than hồng. Tham dục tan biến như con mơ hay của nợ, hoặc như trái cây. Tham dục làm đau đớn như mũi giáo nhọn hay chiếc đầu rắn. Thế mà Hiền giả, thật vậy, sau khi đã thọ trì Giáo pháp sáng ngời như thế này và xuất gia tu tập, giờ đây lại rơi vào vòng tham dục tai hại kia.
Khi thấy những lời khuyến giáo của Tăng chúng không làm ông hiểu được ý nghĩa, Tăng chúng đưa ông yết kiến đức Thế Tôn tại Chánh pháp đường. Đức Thế Tôn hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, tại sao các ông đem người này lại đây dù người đó không muốn?
Tăng chúng đáp:
- Hội chúng bảo rằng vị Tỷ-kheo này thối thất.
Bậc Đạo sư hỏi xem có đúng chăng, khi nghe ông thú nhận quả đúng, Ngài bảo:
-Này Tỷ-kheo, các bậc trí nhân ngày xưa, dù đang trị vì một quốc độ, vậy mà hễ khi nào tham dục khởi lên trong tâm cũng phải bị chúng chi phối một thời gian, nhưng rồi đã cố điều phục nhưng tâm tư tán loạn ấy và không còn phạm vào tà hạnh bất xứng nữa.
Nói xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
                                                                         *
    Ngày xưa, trong kinh thành Ariṭṭhapura của quốc độ dân Sivi, có vị vua trị vì mệnh danh là Sivi. Bồ-tát sinh ra làm con của chánh hậu và được đặt tên là vương tử Sivi. Vị đại tướng trong triều cũng sinh con trai đặt tên là Ahipāraka. Hai thiếu nhi lớn lên trở thành thân hữu; khi được mười sáu tuổi, hai vị đến thành Takkasilā học tập thành tài xong liền trở về nhà. Vua giao vương quốc cho vương tử, tân vương này phong bạn Ahipāraka làm đại tướng và cai trị rất đúng pháp.
    Trong kinh thành có một phú thương tên gọi Tirīṭavaccha, gia sản đến tám trăm triệu đồng, sinh được một con gái rất yêu kiều diễm lệ, thân nàng có đủ mọi tướng tốt của phúc phận mai sau. Đến ngày lễ đặt tên, nàng được gọi là Ummadantī (Người làm điên đảo say mê). Khi đến mười sáu tuổi, nàng đẹp như tiên nữ với một dung sắc siêu phàm.
Mọi phàm nhân chiêm ngưỡng nàng đều không thể nào chế ngự được lòng mình, và đều say mê nàng như thể say rượu nồng và mất hẳn tính tự
chủ, vì thế thân phụ nàng đến yết kiến vua và tâu:
-Tâu Thánh thượng, nhà hạ thần có một nữ báu thật xứng đáng tiến cung hầu hạ Thánh thượng, xin hãy triệu các tiên trì vào. Những vị này biết cách xem quý tướng trên thân người, để các vị ấy thử xét đoán nàng xong, xin Thánh thượng cứ tuyển dụng nàng tùy thích.
   Vua chấp nhận cho triệu các vị Bà-la-môn. Rồi họ đi đến nhà phú thương ấy, được tiếp đón rất trọng thể linh đình và dự tiệc bánh sữa. Vào lúc ấy, Ummadantī ra tiếp kiến quan khách với xiêm y lộng lẫy. Thoạt trông thấy nàng, họ đều mất hết tự chủ, chẳng khác nào bị say rượu mạnh, họ quên mất rằng đang ăn tiệc dở dang. Có người cầm chiếc bánh lên, nghĩ mình sẽ ăn bánh, lại đặt bánh lên đầu. Có người để rớt bánh trên hông, có người lại ném bánh vào tường. Mọi người đều như mất trí.
  Nàng thấy bọn họ như vậy, liền bảo:
-Thế mà họ bảo ta rằng các người này đến đây để xem xét các đặc điểm của ta.
Nàng ra lệnh nắm gáy cả bọn ném ra ngoài đường. Họ rất bực túc trở về cung với lòng uất hận Ummadantī và trình:
-Tâu Thánh thượng, nữ nhân này không xứng đáng với Thánh thượng, đó là một tay phù thủy.
Vua nghĩ thầm: “Họ bảo ta nàng ấy là một phù thủy.”
Vì thế, vua không triệu nàng vào.
Nghe được việc ấy, nàng bảo:
-Ta không được vua tuyển vào làm vương hậu vì họ bảo ta là phù thủy, như vậy bọn phù thủy đều giống ta. Được lắm, nếu ta có dịp vào yết kiến vua, ta sẽ biết cách hành động.
 Nàng lại sinh lòng thù oán vua.
 Sau đó, cha nàng đem gả nàng cho Ahipāraka và nàng rất được vị phu quân yêu quí, say mê. Nguyên nhân gì khiến nàng thành diễm lệ như vậy? Đó là nhờ một chiếc áo đỏ. Ngày xưa, đã có một đời nàng sinh ra trong một gia đình nghèo khổ ở Ba-la-nại. Vào một ngày lễ, nàng trông thấy một vài nữ nhân cao quý phục sức lộng lẫy trong những chiếc y rực rỡ nhuộm màu hoa cúc đỏ thắm đang vui đùa, nàng nói với cha mẹ là nàng cũng muốn mặc áo như vậy và chơi đùa.
Họ bèn bảo:
-  Này con, nhà ta nghèo lắm, làm sao kiếm ra áo ấy cho con được?
Nàng đáp:
-Vậy thì cha mẹ hãy cho con đi làm kiếm tiền ở một gia đình giàu có; khi nào họ biết đến công lao của con, họ sẽ thưởng con một chiếc áo.
- Được.
Cha mẹ chấp thuận. Nàng liền đến một gia chủ xin làm việc phục dịch để lấy một chiếc áo đỏ, họ bảo:
- Sau khi làm việc ba năm, ta sẽ trả công cho nàng một chiếc áo.
Nàng bằng lòng ngay, bắt đầu làm cho họ. Trước khi mãn hạn ba năm, họ đã thưởng công nàng một chiếc áo nhuộm màu hoa cúc đỏ thật dày cùng với một chiếc xiêm khác và đưa nàng ra về, họ bảo:
-  Hãy đi tìm các bạn nàng và sau khi tắm gội xong, hãy mặc các xiêm y này.
Thế là nàng cùng đám bạn ra đi tắm dưới sông, để chiếc áo đỏ trên bờ. Lúc ấy, một vị đệ tử của đức Phật Kassapa (Ca-diếp), vừa bị cướp mất y, đang mặc những mảnh lá cây dùng làm y trong và y ngoài, đang đi đến chỗ này.
Thấy vị này, nàng nghĩ:
-Vị Thánh nhân này chắc bị cướp mất y. Ngày xưa ta cũng vậy, vì không có ai cho y nên thật khó kiếm ra một chiếc.
Nàng liền quyết định chia chiếc y làm đôi, cho vị này một nửa, vì vậy nàng bước lên bờ mặc chiếc áo cũ vào xong bảo:
- Xin Thánh giả nán lại.
Nàng đảnh lễ vị Tỷ-kheo và xé chiếc y làm đôi, tặng vị kia một nửa.
Sau đó, vị này đứng nghiêng một bên trong một nơi kín đáo, ném chiếc y bằng lá cây ra, lấy một mảnh áo làm y trong và mảnh kia làm y ngoài, rồi bước ra giữa khoảng không, cả người chói rực lên nhờ màu sắc huy hoàng của chiếc áo như thể vầng dương mới xuất hiện.
Thấy vậy, nàng suy nghĩ: “Vị Thánh nhân này trước đây trông chẳng sáng chói, thế mà bây giờ ngài rực rỡ như vầng dương mới xuất hiện. Thôi để ta cúng dường ngài thêm cái này nữa.”
Nàng liền cúng nửa áo kia và phát nguyện:
- Thưa Thánh giả, con xin nguyện kiếp sau sẽ được sắc đẹp tuyệt trần. Hễ ai thấy con đều không tự chủ được và không nữ nhân nào đẹp hơn con cả.
Vị Tỷ-kheo cảm tạ nàng và ra đi. Sau một kiếp luân hồi trong Thiên
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây