Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 14:  454. CHUYỆN TRÍ GIẢ GHATA - Phần 12 (trang 94-100)

                 Hạnh phúc cho đời ắt khởi sinh.
5               Người nào kết bạn thiện, hiền nhân,
                 Được trọng vì mồm chẳng ác thâm,
                 Không hại bạn, chia đều của cải,
                Chính niềm hạnh phúc giữa thân bằng.
6.              Vợ hiền đồng tuổi, có tình thân,
                Tận tụy, nhân từ, trẻ lại đông,
                Đức hạnh, trung thành, dòng quý tộc,
               Ấy niềm hạnh phúc giữa hồng quân.
7.              Vua nào đại đế giữa thần dân,
                Biết sống thanh cao, đủ khả năng,
                Bảo: “Đấy bạn ta,” không dối trá,
               Chính niềm hạnh phúc giữa vương quân.
8.            Thành tín, cùng cơm nước cúng dường,
               Vòng hoa tươi tốt, các mùi hương,
               Với tâm thanh tịnh gieo an lạc,
              Ẩy mang hạnh phúc mọi thiên đường.
9.             Các trí nhân thuần thiện, chánh chân,
                Tâm tư rửa sạch, gắng tinh cần,
                Theo đời thanh tịnh, người hiền trí,
                Phúc lạc thay người giữa Thánh nhân!
Cứ như vậy, bậc Đại sĩ đã đưa bài thuyết pháp lên đến đỉnh cao nhất của Thánh quả, và sau khi đã giải thích các Điềm lành trong tám vần kệ, ngài ngâm vần kệ cuối cùng để tán thán các Điềm lành ấy:
10.           Công đức như vầy giữa thế gian
                Được tôn sùng bởi mọi hiền nhân,
               Người khôn hãy bước đi theo chúng,
               Điềm triệu chẳng mang tính thật chân.
 Các bậc hiền trí, sau khi nghe các Điềm lành này xong, còn ở lại bảy tám ngày nữa rồi từ giã ngài và lên đường đến chỗ cũ.
 Vua đến thăm các ông và hỏi chuyện kia. Các vị giải thích vấn đề Điềm lành như cách đã được giải thích cho quý vị và trở lại Tuyết sơn. Từ đó về sau, vấn đề Điềm lành đã được thông hiểu trên thế giới. Sau khi đã chuyên tâm học tập vấn đề Điềm lành, lúc mạng chung, các vị đều lên cộng
trú với Thiên chúng rất đông đảo. Còn Bồ-tát tu tập Tứ vô lượng tâm và cùng với hội chúng của ngài được tái sinh lên cõi Phạm thiên.
                                                                       *
Sau khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Đạo sư bảo:
-   Này các Tỷ-kheo, không phải bây giờ mà cả ngày xưa nữa Ta cũng đã giải thích vấn đề Điềm lành.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
-   Vào thời ấy, hội chúng đệ tử của đức Phật là đám hiền nhân kia, Sāriputta (Xá-lợi-phất) là vị Trưởng đệ tử, người đã hỏi vấn đề Điềm lành và Ta chính là Đạo sư.
                                                         454. CHUYỆN TRÍ GIẢ GHATA
                                                                    (TIỀN THÂN GHATA)
Hắc đế Kanha hãy đứng lên...
Chuyện này bậc Đạo sư kể tại Kỳ Viên vê cái chêt cua mọt nam tử. (Hoàn cảnh cũng giống trong số 449, Tiền thân Maṭṭakuṇḍali)
Ở đây, bậc Đạo sư hỏi vị nam cư sĩ:
-     Này cư sĩ, có phải ông đang phiền muộn chăng?
-    Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Đức Phật bảo:
-     Này cư sĩ, ngày xưa, các bậc trí nghe lời dạy của các hiền nhân nên không phiền muộn về cái chết của con mình nữa.
Và theo lời thình cầu của ông, Ngài kể một chuyện quá khứ.
                                                            *
Ngày xưa, một vị vua có danh hiệu là Mahākaṃsa trị vì ở Uttarāpatha. trong địa hạt Kaṃsa ở kinh thành Asitañjana. Ông có hai hoàng nam Kaṃsa và Upakaṃsa, và một công chúa Devagabbhā. Vào ngày sinh nàng, các Bà- la-môn tiên đoán tương lai của nàng, bảo:
-      Một hoàng nam do công chúa này sinh ra sẽ phá hoại xứ sở và dòng họ Kaṃsa.
Vua quá yêu thương con gái nên không thể giết nàng được, mà để cho các hoàng huynh của nàng lo liệu việc đó, còn ngài chỉ sống hết đời thì từ trần. Khi ngài băng hà, Kaṃsa lên làm vua và Upakaṃsa làm phó vương. Hai vị nghĩ sẽ có sự phản đối của quần thần nếu như bắt công chúa phải chết, vì thế quyết định không gả nàng cho ai cả, mà cứ để nàng sống không có chồng và canh giữ thật kỹ. Các ngài lại xây một cái tháp tròn đơn độc để nàng ở đó. Bấy giờ, nàng có một nữ tỳ tên là Nandagopā và chồng nữ tỳ này là Andhakaveṇhu, gã gia nô canh giữ nàng.
Thời ấy, vị vua danh hiệu Mahāsāgara đang trị vì ở phương bắc
Madhurā, có hai vương tử là Sāgara và Upasāgara. Vào lúc vua cha băng hà, Sāgara lên ngôi vua và Upasāgara làm phó vương. Vương tử này là bạn của Upakaṃsa, cùng lớn lên và cùng học với một thầy. Song chàng đã có âm mưu gian díu trong khuê phòng của hoàng huynh và bị bại lộ nên phải chạy trốn đến Upakaṃsa, trong địa phận Kaṃsa. Upakaṃsa tiến cử chàng với vua Kaṃsa và vua đón tiếp chàng rất trọng thể.
Upasāgara, trong lúc vào chầu vua thường quan sát cái tháp mà công chúa Devagabbhā trú ngụ, và khi hỏi ai ở đó, rồi nghe chuyện kia, chàng đem lòng yêu nàng. Còn Devagabbhā, một hôm, trông thấy chàng khi chàng cùng đi với Upakaṃsa vào chầu vua. Nàng hỏi ai đó, và khi được Nandagopā nói đó là Upasāgara, con của Đại vương Sāgara, thì nàng cũng yêu chàng ngay. Chàng Upasāgara trao một món quà cho Nandagopā, bảo:
-   Này hiền tỷ, xin chị thu xếp cho tôi được gặp Devagabbhā.
-   Dễ lắm.
Nandagopā bảo và kể lại chuyện ấy với công chúa. Nàng đã thầm yêu chàng nên đồng ý ngay. Một đêm kia,  Nandagopā sắp đặt một cuộc hẹn hò và đem Upasāgara lên tháp và chàng ở lại đó với Devagabbhā. Vì đôi bên tiếp xúc thường xuyên như thế nên Devagabbhā có thai. Dần dần, ai cũng biết nàng có thai nên hai vị hoàng huynh cật vấn Nandagopā. Nữ tỳ này xin hai vị hứa tha tội cho nàng, rồi kể tình tiết của câu chuyện. Khi hai vị nghe chuyện, liền suy nghĩ: “Ta không thể bảo giết em gái ta được. Nếu em ta sinh con gái, chúng ta sẽ tha chết cho hài nhi ấy luôn, còn nếu con trai thì giết nó đi.”
      Và hai vị vua gả Devagabbhā cho Upasāgara đem về làm vợ.
       Đến thời mãn nguyệt khai hoa, nàng sinh hạ một gái. Hai vị hoàng huynh nghe tin ấy rất hoan hỷ đặt cho hài nhi tên là công nương Añjanā. Hai vị lại cho các em một ngôi làng để làm tài sản, đặt tên là Ghovaḍḍhamāna. Upasāgara đem Devagabbhā đến sống cùng nhau tại ngôi làng ấy.
       Devagabbhā lại có thai nữa và đúng ngày đó Nandagopā cũng có thai. Khi đến kỳ, cả hai lại cùng sinh một ngày. Deva sinh con trai và Nanda sinh con gái. Song Deva sợ rằng con trai nàng có thể bị giết nên bí mật gởi con đến Nanda và nhận con gái của Nanda về nuôi. Chúng lại báo tin nàng sinh con gái với hai vị hoàng huynh. Hai vị hỏi:
-    Con trai hay gái?
Chúng đáp:
-    Con gái.
Các hoàng huynh bảo:
-    Vậy thì lo nuôi nấng nó đi.
Cứ như vậy, Devagabbhā sinh mười con Irai, và Nandagopā sinh mười con gái. Bọn con trai sống với Nanda và bọn con gái sống với Deva, chẳng một ai biết được bí mật kia.
Con trai trưởng của Devagabbhā được đặt tên là Vāsudeva, con trai thứ là Baladeva, thứ ba là Candadeva, thứ tư Suriyadeva, thứ năm Aggideva, thứ sáu Varuṇadeva, thứ bảy Ajjuna, thứ tám Pajjunna, thứ chín Ghatapaṇḍita, thứ mười Aṅkura. Chúng nổi tiếng là các con trai của gia nô Andhakaveṇhu hay Mười anh em nô lệ.
Theo thời gian chúng lớn khôn, rất cường tráng lại hung dữ, bạo tàn, chúng đi khắp nơi cướp phá, chúng còn cả gan đến độ cướp lễ vật triều cống được dâng vua. Dân chúng đến tụ tập ở sân chầu vua, kêu than:
-    Các con trai của Andhakaveṇhu, cả Mười anh em ấy đang cướp phá xứ sở.
Vì thế, vua triệu Andhakaveṇhu đến, trách mắng y đã để các con mình đi cướp bóc. Cứ như vậy, các tiếng kêu than nổi dậy ba bốn lần, vua hăm dọa y. Vì lo sợ cho tính mạng mình nên y xin vua ban cho y đặc ân được an toàn tính mạng rồi kể chuyện bí mật kia, rằng chúng không phải là con trai của y như thế nào, mà là con trai của Upasāgara. Vua hoảng sợ.
-    Làm thế nào bắt chúng nó được? Ngài hỏi quần thần.
Quần thần tâu:
-    Tâu Đại vương, chúng nó là bọn đánh vật, chúng ta hãy tổ chức thi đánh vật tại kinh thành và khi chúng vào vòng đấu, chúng ta sẽ bắt chúng và giết đi.
    Thế là quần thần tìm hai người đánh vật Cānura và Muṭṭhika, và cho loan báo khắp kinh thành bằng trống lệnh rằng vào ngày thứ bảy sẽ có một cuộc thi đô vật.
    Vùng đâu được chuẩn bị trước hoàng môn, có hàng rào quanh đấu trường. Vòng được trang hoàng rất vui mắt. Cờ chiến thắng được buộc sẵn sàng. Cả kinh thành quay cuồng như ở trong cơn lốc. Hàng hàng lớp lớp
ghế ngồi chật ních. Cānura và Muṭṭhika bước vào vòng đấu, đi nghênh ngang, nhảy nhót, la hét, vỗ tay. Mười anh em kia cũng thế. Trên đường đi, chúng đã cướp phá phố thợ giặt nên phục sức các xiêm y rực rỡ vào; lại cướp nước hoa của các tiệm nước hoa, xoa dầu thơm khắp nguời; đeo vòng trên đầu, hoa tai trên tai, chúng nghênh ngang bước vào đấu trường, nhảy nhót, la hét vỗ tay.
      Vào lúc ấy, Cānura đang đi quanh và vỗ tay, Baladeva thấy gã liền suy nghĩ: “Ta không muốn đụng kẻ kia với bàn tay ta!” nên chàng chụp lấy sợi dây lớn từ chuông voi, vừa nhảy lên, hò hét, vừa ném dây quanh bụng Cānura, cột hai đầu dây lại thật chặt, rồi tung gã kia lên, quay cuồng gã quanh đầu mình, rồi đạp gã xuống đất cho lăn ra khỏi đấu trường. Khi Cānura đã chết, vua cho gọi Muṭṭhika. Muṭṭhika bước lên, hò hét, vỗ tay. Baladeva tát mạnh vào mặt gã và trong lúc gã la lớn:
-   Ta không phải kẻ đấu vật! Ta không phải kẻ đấu vật!
Baladeva cột hai tay gã lại bảo:
-   Đấu vật hay không phải đấu vật đối với ta cũng thế thôi!
Rồi chàng xô mạnh gã xuống đất, giết gã và ném gã ra ngoài đấu trường.
Muṭṭhika trong cơn giãy chết, thốt ra lời nguyền: “Ước mong ta thành quỷ để xé xác nó ra,” và gã trở thành con quỷ ở trong rừng có tên gọi là Kāḷamattiya. Vua bảo:
-   Bắt Mười tên nô lệ này ra ngay.
Vào lúc ấy, Vāsudeva ném một cái bánh xe (một loại binh khí), chặt đứt đầu cả hai anh em nhà vua. Đám đông kinh hoàng quỳ xuống chân chàng và xin chàng cứu giúp che chở cho họ.
   Thế là Mười anh em này, sau khi đã giết hai ông cậu xong, lên làm vua tại kinh thành Asitañjana và đem cha mẹ về đó ở.
    Lúc bấy giờ, họ bắt đầu dự định chinh phục cả cõi Diêm-phù-đề (Ấn Độ). Chẳng mấy chốc, họ đi đến kinh thành Ayojjhā, nơi ngự trị của vua Kāḷasena. Họ bao vây kinh thành, tiêu diệt đám rừng rậm quanh đó, phá vỡ trường thành và bắt vua làm tù binh, chiếm vương quốc vào tay họ.
    Sau đó, họ đến Dvāravatī. Bấy giờ, kinh thành này có một phía là biển, một phía là núi. Dân chúng đồn rằng nơi đó có quỷ hiện. Con quỷ giữ vị trí canh phòng, hễ thấy quân thù nó hóa thành con lừa và hí như lừa vậy. Lập
tức, nhờ sức kỳ bí của quý, cả kinh thành bay lên không gian đặt chân trên một hòn đảo giữa biển; khi quân thù đi rồi, nó sẽ trở lại và ổn định trên vị trí cũ.
    Lần này, cũng như thường lệ, vừa khi con lừa thấy Mười anh em kia đến thì nó hí lên như lừa. Cả kinh thành bay lên không gian và đặt mình trên hòn đảo kia. Họ không thấy kinh thành nữa nên quay lui. Sau đó, kinh thành lại trở về chỗ cũ. Bọn họ trở lại, con lừa lại làm như trước, bọn họ không thể nào chiếm lấy thành Dvāravatī được.
   Vì thế, họ đến yết kiến vị hiền giả Kanhadīpīyana và nói:
   -      Thưa Tôn giả, chúng tôi đã thất bại trong việc chiếm vương quốc Dvāravatī, xin cho chúng tôi biết phải làm cách nào?
  Ông bảo:
  -      Trong một cái hào ở nơi kia, có một con lừa đi quanh quẩn. Nó hí lên khi thấy quân thù, nên lập tức kinh thành bay lên không. Các ngài phải ôm lấy thân nó mà van xin, đó là cách để các ngài đạt mục đích.
 Sau đó, họ tạ từ ẩn sĩ và cả mười người đi đến con lừa, quỳ xuống chân nó, bảo:
 -      Thưa Tôn ông, chúng ta không nhờ cậy ai được ngoài Tôn ông! Khi chúng ta đến chiếm thành, xin đừng hí lên.
Con lừa đáp:
-      Ta không thể nào không hí được. Song nếu các ngài đến trước, và bốn người trong bọn các người đem các cây cày bằng sắt thật lớn, và đặt bốn cột trụ sắt lớn ở dưới đất tại bốn cổng thành. Khi kinh thành bắt đầu bay lên, nếu các ngài đóng vào trụ sắt một dây xích bằng sắt buộc vào cây cày thì kinh thành không thể nào bay lên nổi.
  Họ cám ơn con lừa, và nó không kêu một tiếng khi họ đem đến các cây cày và đào hố chôn các cột trụ dưới đất ở bốn cổng thành rồi đứng đợi. Sau khi con lừa hí, cả kinh thành bắt đầu bay lên. Song những người đứng ở bốn cổng thành với bốn cây cày đã đóng vào các cột trụ các dây xích sắt buộc vào các cây cày, nên kinh thành không thể bay lên được nữa. Thế là Mười anh em vào thành giết vua và chiếm vương quốc.
   Như vậy, họ chiếm được toàn cõi Diêm-phù-đề, và trong sáu mươi ba ngàn kinh thành, họ đã dùng bánh xe kia giết sạch mọi vị vua các nước đó, rồi sống tại Dvāravatī, chia vương quốc thành mười phần. Song họ đã quên
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây