Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
Thời ấy, Bồ-tát tái sinh vào gia đình trên, vị gia chủ đặt tên ngài là Nam tử Hộ pháp (Dhammapālakumāra). Vừa khi đến tuổi khôn lớn, cha chàng trao cho chàng một ngàn đồng vàng và gửi chàng đến học ờ Takkasilā. Chàng đến đó, học tập với một vị giáo sư lừng danh thế giới và trờ thành đệ tử trưởng trong hội chúng gồm năm trăm nam tử.
Vào lúc ấy, trưởng nam của vị giáo sư từ trần và vị giáo sư được đám đệ tử vây quanh, giữa các bà con quyến thuộc, vừa than khóc vừa cử hành tang lễ con trai trong nghĩa địa. Lúc ấy, vị giáo sư cùng thân bằng quyến thuộc và tất cả các đồ đệ đều than khóc kêu gào, chỉ riêng Dhammapāla không khóc cũng chẳng than. Sau khi năm trăm nam tử từ nghĩa địa về, họ ngồi xuống trước vị giáo sư và nói:
- Ôi, chàng trai thật tốt đẹp, non trẻ thế mà phải chia lìa cha mẹ trong tuổi thanh xuân!
Dhammapāla đáp:
- Non trẻ thay, đúng như các hiền hữu nói! Này, tại sao chàng chết ở tuổi thanh xuân? Trẻ con phải chết lúc còn niên thiếu thật là chẳng hợp lý chút nào.
Chúng bạn liền đáp lại:
- Này Tôn giả, thế Tôn giả không biết rằng những người dù trẻ như vậy cũng phải chịu chết sao?
- Ta biết điều ấy lắm, nhưng lúc còn non trẻ chúng không chết; người ta chết lúc người ta già.
- Thế không phải mọi pháp hữu vi đều giả tạm nhất thời hay sao?
- Chúng thật là giả tạm, đúng vậy, nhưng lúc tuổi còn niên thiếu con người không chết, chỉ khi già người ta mới chết thôi.
- Ồ, thế đó là tục lệ trong gia tộc ngài sao?
- Phải, đó là tục lệ của gia tộc ta.
Bọn thanh niên liền kể chuyện này cho vị giáo sư ấy nghe. Ông cho gọi Dhammapāla đến, hỏi chàng:
- Này Dhammapāla, có phải trong gia tộc con chẳng có người nào chết trẻ chăng?
- Thưa thầy, chính phải, đúng như vậy.
Nghe nói thế, vị giáo sư nghĩ thầm: “Chàng nói chuyện này thật hy hữu lắm thay! Ta muốn lên đường tới gặp cha chàng và hỏi chuyện ấy, nếu quả thực vậy, ta sống theo giới luật chân chánh kia.”
Thế là sau khi đã làm xong mọi việc cần làm cho cậu trưởng nam, khoảng bảy tám ngày sau đó, ông cho gọi Dhammapāla đến bảo:
- Này con, ta sắp đi xa nhà, vậy lúc ta đi vắng, con phải dạy bảo các đệ tử của ta.
Nói thế xong, ông đi tìm xương của một con dê rừng, rửa sạch và ướp hương, rồi đặt vào giỏ, sau đó mang theo mình một chú tiểu đồng. Ông rời Takkasilā dần dần đi đến làng kia, tại đó ông hỏi đường đi đến nhà vị Đại Hộ Pháp và dừng lại ở cửa.
Nguời đầy tớ đầu tiên của vị Bà-la-môn trông thấy vị này, dù đó là ai, cũng cất dù từ tay ông, cởi giày, cầm lấy túi xách trên tay tiểu đồng. Ông nhờ báo với thân phụ chàng rằng đây là giáo sư cùa nam tử Dhammapāla đang đứng ở cửa.
- Tốt lành thay!
Các gia nhân nói, rồi đi mời vị thân sinh ra gặp ông. Vị thân sinh vội vã đến thềm và nói:
- Xin mời vào.
Và ông dẫn đường vào nhà mình. Vừa mời khách ngồi xuống tọa sàng, ông làm bổn phận của chủ nhân như rửa chân vị kia v.v...
Khi vị giáo sư đã dùng cơm xong, hai vị ngồi đàm đạo thân thiết với nhau, vị giáo sư bảo:
- Này Tôn giả Bà-la-môn, nam tử Dhammapāla của ngài có trí tuệ sáng suốt, tinh thông ba tập Vệ-đà và mười tám công trình học thuật, nhân vì rủi ro đã mất mạng. Các pháp hữu vi đều giả tạm, xin ngài chớ đau buồn vì chàng.
Vị Bà-la-môn vỗ tay cười lớn. Vị giáo sư hỏi:
- Tại sao ngài cười, thưa Tôn giả Bà-la-môn?
Vị này đáp:
- Bởi vì không phải con tôi chết đâu, chắc là người khác.
Vị kia nói:
Nói thế xong, ông giở đống xương ra và nói:
- Đây là xương con trai ngài.
Người cha đáp:
- Có lẽ xương dê rừng hay xương chó, chứ con trai tôi không chết được. Trong gia tộc ta bảy đời nay chưa hề xảy ra chuyện như là chết lúc tuổi còn non. Vậy ngài đang nói sai sự thật.
Rồi cả nhà cùng vỗ tay và cười lớn.
Khi thấy việc kỳ diệu như thế, vị giáo sư rất hoan hỷ nói:
- Thưa Tôn giả Bà-la-môn, lề lối này trong gia tộc ngài không phải là không có nguyên nhân, đó là đám thanh niên không hề chết yểu. Tại sao các ngài không chết yểu?
Ông hỏi bằng cách ngâm vần kệ đầu:
1. Tục lệ nào hay Thánh đạo nào,
Quả này do thiện nghiệp từ đâu,
Bà-la-môn, nói ta duyên cớ
Người trẻ trong dòng chẳng chết sao?
Lúc ấy, vị Bà-la-môn giải thích những công đức gì đã đem lại kết quả là trong gia tộc mình không ai chết trẻ cả, ông ngâm các vần kệ sau:
2. Ta không lời dối, sống hiền chân,
Mọi ác nghiệp xa lánh, chẳng gần,
Điều bất thiện ta đều tránh cả,
Nên không ai chết giữa thanh xuân.
3. Nghe việc người ngu lẫn trí nhân,
Việc người ngu trí chẳng quan tâm,
Ta theo bậc trí, ngu ta bỏ,
Nên chẳng ai người chết giữa xuân.
4. Trước khi bố thí, dạ hân hoan,
Lòng thật vui mừng lúc phát phân,
Khi bố thí xong, không hối tiếc,
Nên không ai chết giữa thanh xuân.
5. Ta mời đám lữ khách, La-môn,
Khất sĩ, Sa-môn, mọi kẻ cần,
Nên không ai chết giữa thanh xuân.
6. Cưới vợ, không khao khát vợ người,
Giữ lời loan phụng đã thề bồi,
Vợ hiền tiết hạnh tòng phu cả,
Nên các con không sớm bỏ đời.
7. Con được sinh từ vợ chính chuyên,
Tài cao, học rộng, xứng đanh hiền,
Vệ-đà thông thạo, con toàn hảo,
Nên chẳng lìa đời giữa thiếu niên.
8. Gắng làm chân chánh đạt cao thiên,
Sống vậy, từ cha đến mẹ hiền,
Đến mọi gái trai, anh chị nữa,
Nên không ai chết giữa thanh niên.
9. Mong cầu Thiên giới, các gia nhân,
Trai gái thảy đều sống thiện lương,
Ngay bọn nô tỳ thấp kém nhất,
Nên không ai chết giữa thanh xuân.
Và cuối cùng, qua hai vần kệ này, ngài tuyên thuyết thiện nghiệp của những người bước trên đường chân chánh:
10. Chánh đạo cứu ai hướng chánh chân,
Khéo hành Chánh đạo đạt hồng ân,
Phúc này ban tặng người làm chánh,
Người chánh không vào chốn khổ thân.
11. Đạo đức hộ phò bậc chánh nhân
Như cây che bóng giữa mưa tràn,
Thằng con sống được nhờ hành thiện,
Tâm thiện cho người hộ pháp an.
Còn đó là xương khô kẻ khác,
Đống xương Tôn giả mới vừa mang.
Khi nghe vậy, vị giáo sư đáp:
- Cuộc hành trình của ta thật an lạc lắm thay, nó mang lại nhiều kết chứ không phải là không có kết quả!
Đang lúc lòng đầy hoan hỷ, ông xin lỗi thân sinh Dhammapāla và nói thêm:
Lúc ấy, vị kia viết quy luật ấy vào một ngọn lá. Sau khi lưu lại chỗ đó vài ngày, vị thầy trở về Takkasilā và khi đã dạy cho Dhammapāla đủ mọi tài nghệ và học thuật xong, ông cho phép chàng ra về cùng với một đoàn tùy tùng đông đảo.
*
Khi bậc Đạo sư đã thuyết Pháp thoại như vậy cho Đại vương Suddhodana xong, Ngài tuyên thuyết các Sự thật. Bấy giờ, vào lúc kết thúc các Sự thật, vị Đại vương được an trú vào Tam quả (Bất Lai).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, người cha và người mẹ là hoàng tộc của Đại vương ngày nay, vị giáo sư là Sāriputta (Xá-lợi-phất), đám tùy tùng là các đệ tủ đức Phật và Ta chính là nam tử Hộ Pháp.
(TIỀN THÂN KUKKUṬA)
Chớ đặt lòng tin bọn dối lừa...
Chuyện này bậc Đạo sư kể tại Veḷuvana (Trúc Lâm) về vấn đề mưu toan sát hại.
Trong Chánh pháp đường, các Tỷ-kheo đang bàn luận bản chất độc ác của Đề-bà-đạt-đa:
- Này các Hiền giả, lạ quá, Đề-bà-đạt-đa đang mưu toan sát hại đấng Thập Lực bằng cách mua chuộc đám xạ thủ và nhiều người khác.
Bậc Đạo sư bước vào hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông đang nói chuyện gì trong lúc ngồi với nhau tại đây?
Tăng chúng trình với Ngài. Ngài đáp:
- Đây không phải là lần đầu người ấy toan hành thích Ta mà đã có lần như vậy ngày xưa.
Rồi Ngài kể cho Tăng chúng một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, tại Kosambī (Kiều-thưởng-di, một kinh thành trên sông Hằng), có một vị vua cai trị mệnh danh là Kosambaka. Vào thời ấy, Bồ-tát đầu thai làm con của một gà mái sống trong một rừng tre, sau đó làm chúa cả đàn gà hàng trăm con trong rừng. Không xa đó, có một con diều hâu tìm cơ hội bắt từng con gà trong đàn và ăn thịt, dần dần nó ăn hết mọi con gà, chỉ còn Bồ-tát một mình sống sót. Song ngài rất thận trọng trong lúc kiếm mồi, và sống trong một rừng tre rậm. Tại đây, diều hâu không thể nào đến gần được, vì thế nó bắt đầu suy tính lập mưu gì để dụ dỗ ngài mà bắt lấy.
Sau đó, nó đậu trên một cành cây gần đó và gọi:
- Này Kê hiền hữu, chuyện gì khiến ngài sợ ta? Ta mong muốn kết bạn với ngài. Giờ đây, ở một nơi kia (nó nói tên nơi đó) có đầy thức ăn,
Bồ-tát đáp:
- Không, thưa Tôn ông tốt bụng! Giữa ngài và ta không thể có tình bằng hữu được, xin hãy đi đi.
- Thưa Tôn giả, vì các tội ác trước đây của ta nên ngài không thể tin ta bây giờ, nhưng ta hứa với ngài rằng ta sẽ chẳng bao giờ làm như vậy nữa.
- Không, ta không muốn có bạn như vậy, hãy đi nơi khác, ta nói rồi đấy.
Đến lần thứ ba, Bồ-tát từ chối:
- Với một người hay vật có những đặc tính như vậy chẳng bao giờ nên kết tình bằng hữu cả.
Rồi ngài làm cho cả khu rừng rộng vang dội nên các vị thần hoan nghênh trong lúc ngài cảm hứng nói lên bài pháp này:
1. Đừng đặt lòng tin bọn dối lừa,
Những ai chỉ biết, lợi riêng tư,
Hoặc người đã phạm nhiều điều ác,
Những kẻ tỏ ra quá phụng thờ.
2. Lắm kẻ bản tâm giống lũ bò,
Tràn đầy khao khát với tham ô,
Nói lời thành thật nâng niu bạn,
Song chẳng hề hành động thế mà.
3. Bọn chúng chìa tay lạnh trống trơn,
Nói lời che giấu cả tâm hồn,
Bọn người phù phiếm, ta nên tránh,
Những kẻ không hề biết nhớ ơn.
4. Nam nữ nào tâm chóng đổi thay,
Đừng tin tưởng các bọn người này,
Cũng đừng tin kẻ theo chiều hướng
Làm hiệp ước rồi lại phá ngay.
5. Người bước theo đường ác vẫn đi
Đến làm mọi việc cực gian nguy,
Liều thân, vô định, đừng tin nó,
Kiếm sắc trong bao có khác gì?
6. Nhiều kẻ nói năng thật dịu lành,
Những lời không phải tự tâm thành,