Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 12: Chuyện Tiền Thân- Chương Mười- Phẩm Mười Bài kệ - Phần 10 (trang 80-86)

ấy nay ở đâu rồi? Ta phải phân chia tài sản ra và bố thí.”
      Vì thế ngài xây một bố thí đường, trong lúc sinh thời, ngài bố thí rộng rãi và khi sắp mạng chung liền giao phó cho con trai ngài không được làm gián đoạn việc hành trì bố thí; còn ngài tái sinh là Sakka (Đề-thích) Thiên chủ ở cõi Trời Ba mươi ba. Con trai của ngài cũng bố thí như thân phụ đã làm, rồi giao trọng trách ấy cho con trai mình, và tái sinh lên làm Canda, Thần mặt trăng, giữa Thiên chúng. Con trai vị này trở thành Suriya, Thần mặt trời, lại sinh ra một người con trở thành Mātali, Thần lái xe (của Thiên chủ Sakka hay Indra). Con trai vị này tái sinh làm Pañcasikha (Ngũ Kế) một vị Gandhabba (Càn-thát-bà), nhạc thần của Thiên chủ.
      Song người con trai thứ sáu trong dòng họ này lại không có tín tâm, tàn nhẫn, không thương người, keo kiệt. Người này phá hủy bố thí đường, đốt cháy hết, đánh đập các hành khất, đuổi họ đi nơi khác làm ăn chẳng hề cho ai chút gì dù bằng một giọt dầu ở đầu ngọn cỏ.
Lúc ấy, Đế-thích Thiên chủ nhìn lại các việc của ngài trong quá khứ, tự hỏi: “Truyền thống bố thí của ta có tiếp tục được chăng?” Suy nghĩ thế, ngài nhận xét: “Con trai ta tiếp tục bố thí, tái sinh làm Canda, con trai nó là Suriya, cháu nó là Mātali, và chắt nó là Pañcasikha, nhưng đứa con thứ sáu trong dòng họ đã phá bỏ truyền thống kia.” Lúc ấy, ngài chợt có ý nghĩ này, ngài muốn đi điều phục con người độc ác kia và dạy cho gã kết quả của bố thí. Vì vậy ngài triệu tập Canda, Suriya, Mātali, Pañcasikha đến gặp ngài và bảo:
Này các Hiền-giả, nguời con thứ sáu trong dòng họ ta đã phá bỏ truyền thống gia đình, nó đã đốt bố thí đường, đuổi đánh bọn hành khất đi chỗ khác và không cho ai chút gì cả. Vậy ta phải điều phục nó.
Thế là ngài cùng các ông lên đường đi đến Ba-la-nại.
Vào lúc ấy, thương nhân kia phải đến chầu vua và khi đã trở về đang đi đi lại lại dưới tháp canh thứ bảy, nhìn theo con đường. Thiên chủ bảo các vị thần:
-     Các Hiền giả, hãy đợi cho đến khi ta bước vào rồi hãy lần lượt theo sau.
Cùng với những lời này, ngài bước tới và đứng trước phú thương kia, bảo ông:
-     Này Tôn ông, hãy cho ta ăn với.
-     Này Ba-la-môn, chẳng có gì ở đây cho ngài ăn cả, hãy đi nơi khác.
-     Này Đại nhân, khi các Bà-la-môn khất thực thì chẳng nên từ chối.
   -   Này Bà-la-môn, trong nhà ta chẳng có thức ăn nấu sẵn, cũng chẳng có thức ăn để nấu. Hãy đi đi!
   -         Này đại nhân, ta muốn đọc một câu kệ cho ngài, hãy lắng nghe.
   -         Ta chẳng muốn nghe kệ gì cả, đi đi, đừng đứng ở đây.
Nhưng Thiên chủ không để ý lời ông và ngâm hai vần kệ:
1.             Khi món ăn không có giữa nồi,
                Thiện nhân tìm, chẳng chối từ hoài,
                Còn ngài đang nấu thì không tốt,
                Nếu chẳng muốn chia sẻ với ai.
2.             Phóng dật, xan tham, kẻ chối từ
                Chẳng hề đem bố thí bao giờ,
                Còn người nào thích làm công hạnh,
                Là một trí nhân, phải biết cho.
 Khi người này nghe nói vậy liền đáp:
  -    Thôi được, xin vào ngồi đó, ngài sẽ được ăn đôi chút.
Thiên chủ Đế-thích vừa bước vào vừa ngâm các vần kệ ấy và ngồi xuống.
Kế đó là Canda bước lên xin thức ăn.
Người đó bảo:
  -      Chẳng có thức ăn cho ngài đâu, đi đi!
Vị kia đáp:
-  Thưa Đại nhân, có một vị Bà-la-môn ngồi trong đó, ta đoán chắc hẳn có một bữa cơm bố thí cho Bà-la-môn nên ta cũng bước vào.
  -         Chẳng có một bữa cơm nào bố thí cho Bà-la-môn cả.
Người đó bảo:
-  Đi ngay đi!
Lúc ấy, Canda nói:
-   Thưa Đại nhân, xin nghe một hai vần kệ.
Rồi ngài ngâm hai vần kệ (hễ khi một kẻ keo kiệt lo sợ không muốn cho ai cả, thì chính nỗi sợ hãi đó khởi lên trong lòng vì y không bố thí):
3.         Sợ khi khát nước hoặc thèm cơm,
            Khiến bọn xan tham phải hoảng hồn,
            Trong cõi đời này, đời kế nữa,
            Bọn ngu kia phải trả hoàn toàn.
   4.             Vậy nên bố thí, tránh xan tham,
                   Rửa sạch tâm nhơ ác dục tràn,
                  Trong cõi đời sau, nhiều thiện nghiệp
                  Sẽ là nơi trú tuyệt an toàn.
 Sau khi nghe các lời như vậy xong, ông bảo:
 -     Thôi được, xin buớc vào, và ngài sẽ được ăn một chút.
 Vị kia bước vào ngồi xuống với Thiên chủ Đế-thích.
 Sau khi đợi một lát nữa, Suriya bước lên, và xin ăn bằng cách ngâm hai vần kệ:
5.            Thực khó làm như các thiện nhân,
               Phát ban như các vị đem ban,
              Khó mà kẻ ác làm theo được
              Cuộc sống hiền nhân vẫn trú an.
6.           Vậy thì khi phải giã từ trần,
              Kẻ ác, người hiền bỏ thế gian,
              Kẻ ác tái sinh vào địa ngục,
             Người hiền sinh ở cõi thiên đàng.
Vị phú gia chẳng thấy cách gì thoát được chuyện ấy, đành bảo:
-     Thôi được, xin bước vào, và ngồi với các Bà-la-môn này, rồi ngài sẽ được ăn đôi chút.
Và Mātali, sau khi chờ đợi một lát nữa, cũng bước lên xin ăn. Và khi vị ấy được bảo là không có thức ăn, vừa mới nghe các lời ấy được thốt lên. liền ngâm vần kệ thứ bảy:
7.          Có người ít của vẫn đem bán,
             Có kẻ không cho, dẫu của tràn,
            Người ít của cho không thể kém
            Kẻ kia ban phát cả trăm ngàn.
Ông bảo vị này:
 -     Thôi được, xin vào ngồi xuống.
Sau khi đợi thêm một lát, Pañcasikha bước lên xin ăn. Kẻ kia đáp:
-     Không có, đi đi!
Ông bảo:
-   Ta đã đến thăm nhiều nhà rồi! Ở đây chắc phải có bữa cơm cúng dường các Bà-la-môn chứ, ta đoán thế.
Rồi ngài bắt đầu nói với ông, và ngâm vần kệ thứ tám:
8.             Dù sống chắt chiu, phải chánh chân,
               Con nhiều, của ít vẫn đem phân,
                Trăm ngàn đồng bạc người giàu cúng
                Chẳng sánh quà con của tiện dân.
Vị phú gia suy nghĩ lại khi nghe lời của Pañcasikha. Rồi ông ngâm vần kệ thứ chín để yêu cầu vị ấy giải thích giá trị ít ỏi của các vật bố thí kia:
9.             Sao dồi dào lễ vật cao sang
               Giá trị không bằng vật chánh chân?
               Sao cả ngàn đồng từ phú hộ
               Chẳng bằng quà mọn kẻ cùng bần?
Pañcasikha ngâm vần kệ kết thúc để đáp lời:
10.           Nhiều người sống độc ác hung tàn
                Đàn áp, giết rồi lại phát ban,
                Thí vật chua cay, tàn nhẫn ấy
               Thua xa quà tặng với chân tâm,
               Nên ngàn đồng bạc người giàu cúng
              Chẳng sánh quà con của tiện dân.
Nghe lời thuyết giáo của Pañcasikha xong, ông đáp:
  -      Thôi được, xin ngài vào nhà ngồi xuống, ngài sẽ được ăn đôi chút.
Rồi ông cũng vào ngồi với các vị kia.
Sau đó, phú ông keo kiệt Biḷāri ra hiệu cho một tỳ nữ, bảo nàng:
-       Hãy đem cho các Bà-la-môn đằng kia một đấu thóc còn vỏ.
Nàng ấy đem thóc đến gần các vị, bảo các vị rằng:
-Nhận thóc rồi đem nấu nơi khác mà ăn.
Các vị đáp:
 -       Ta chưa đụng đến thóc còn vỏ trấu.
 -      Thưa ông chủ, các vị ấy bảo chưa hề đụng đến thóc còn vỏ.
 -      Được, vậy thì cho các ông gạo đã xay.
Nàng ấy đem gạo đã xay và bảo các vị nhận. Các vị bảo:
-    Chúng ta không nhận thứ gì chưa nấu chín.
-    Vậy thì nấu cho họ một ít thức ăn của bò trong cái nồi và đem ra mời khách.
Năm vị cầm lên mỗi người một miếng và đặt vào mồm, song để nó
dính vào cổ họng rồi trợn mắt lên. Các vị bất tỉnh nằm đó như chết rồi. Cô nữ tỳ thấy thế nghĩ chắc các vị đã chết, nàng hoảng sợ chạy đi báo phú ông:
-       Thưa ông chủ, các Bà-la-môn này không nuốt nổi thức ăn của bò, nên chết cả rồi!
Ông suy nghĩ: “Bây giờ dân chúng sẽ trách mắng ta, bảo gã độc ác này đem đống thức ăn trâu bò cho các Bà-la-môn yếu đuối và các vị ấy không nuốt nổi nên đã chết.” Sau đó, ông bảo cô nữ tỳ:
-       Mau đi chôn cất hết thức ăn trong bát của các ông, rồi nấu cho họ một ít món đủ thứ gạo ngon nhất.
Nàng tuân lời. Phú ông tìm một số khách qua lại trên con đường gần đó, khi đã tập hợp số người ấy lại với nhau, ông bảo:
-       Ta đã cúng dường các Bà-la-môn này thức ăn giống như các thức ta vẫn ăn, nhưng các vị tham lam nuốt từng miếng lớn và vì ăn như vậy nên thức ăn mắc ở cổ họng và phải chết. Ta mời các ngài đến làm chứng cho ta vô tội.
Trước đám đông đang tụ tập như vậy, các vị Bà-la-môn đứng dậy, vừa bảo vừa nhìn vào đám đông:
-       Các vị hãy xem sự dối trá của thương nhân này. Ông bảo cho chúng ta thức ăn của ông đấy! Một đống tạp nhạp thức ăn cho bò là những thứ ông đã đem cho chúng ta trước tiên; sau đó sau khi chúng ta nằm như chết, ông bảo người nhà nấu thức ăn này đây.
Rồi các vị ấy nhả ra từ miệng những thứ đã ăn, rồi chỉ thứ đó. Đám đông trách mắng vị thương gia, thét lớn:
-       Đồ ngu si, mù quáng! Ông đã phá bỏ phong tục gia đình ông. Ông đốt bố thí đường, ông đã nắm cổ các hành khất tống ra đường; giờ đây khi bố thí các Bà-la-môn yếu đuối này, ông lại cho một đống thức ăn trâu bò. Đến lúc ông sang thế giới bên kia, chắc ông sẽ mang hết tài sản trong nhà buộc thật chặt quanh cổ đấy!
Vào lúc ấy, Đế-thích Thiên chủ bảo đám đông:
-       Các người có biết tài sản này là của ai chăng?
-       Chúng tôi không biết.
Ngài bảo:
-       Chắc các người có nghe nói một đại phú thương ở Ba-la-nại ngày xưa sống ở thành này đã xây một bố thí đường và bố thí rất rộng rãi?
Họ đáp:
-    Thưa có, chúng tôi có nghe nói về ông.
Ngài bảo:
-    Ta chính là vị thương gia đó, nhờ các vật tài thí ấy ta được là Đế- thích Thiên chủ bây giờ đây, và con trai ta đã không phá vỡ truyền thống gia đình, trở thành thần Canda; con trai nó là Suriya va cháu trai của nó la Pañcasikha; trong các vị này, đằng kia là Canda, đó là Suriya, và đây là Mātali, thần lái xe; còn đây nữa là Pañcasikha, nhạc thần, ngày xưa là cha của kẻ độc ác đằng kia ấy. Bố thí tạo công đức lớn như vậy, cho nên người có trí phải làm công đức.
Nói vậy xong, với ý định đánh tan các mối nghi hoặc của dân chúng đang tụ tập tại đó, các ngài bay lên không gian và đứng vững trên không; nhờ thần lực của các ngài hiện ra một đám tùy tùng đông đảo vây quanh, toàn thân các ngài sáng rực lên, vì thế toàn thể kinh thành như ở trong đám lửa. Sau đó, Đế-thích Thiên chủ bảo đám đông:
-    Chúng ta đã rời vinh quang Thiên giới để đến đây và chúng ta đến chỉ vì kẻ độc ác Biḷārikosiya này, người cuối cùng trong dòng họ, người tàn phá cả giống nòi mình. Với lòng lân mẫn mà chúng ta đến, vì chúng ta biết ác nhân này đã phá bỏ truyền thống gia đình, đốt bố thí đường, nắm cổ hành khất tống ra ngoài, vi phạm phong tục của nhà ta và do từ bỏ bố thí, nó sẽ tái sinh vào địa ngục.
Ngài thuyết giáo cho đám đông như vậy, xong lại nói về công hạnh cùa bố thí. Biḷārikosiya chắp hai tay thỉnh cầu và phát nguyện:
-    Tâu Thiên chủ, từ nay trở đi, con xin nguyện sẽ không phá bỏ phong tục gia đình nữa mà con sẽ bố thí; bắt đầu ngay hôm nay, con quyết chẳng bao giờ ăn mà không chia phần cho kẻ khác, các vật dụng cuả riêng con, ngay cả nước uống và cả tăm xỉa răng con dùng cũng vậy.
Đế-thích thiên chủ đã điều phục ông như vậy, làm cho ông biết xả thân và an trú ông trong Ngũ giới, rồi trở về cõi của ngài. Còn vị thương nhân cứ bố thí suốt cả đời nên được tái sinh vào cõi trời Ba mươi ba.
                                                                *
Sau khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Đạo sư bảo:
-    Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này ngày xưa không có tín tâm
và không bao giờ cho ai chút gì cả, song Ta đã điều phục y và dạy cho y kết quả của bố thí, và tâm lành đó không rời y ngay cả khi y đã sinh vào một đời khác.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
-      Thời bấy giờ, Tỷ-kheo rộng lượng này là vị phú gia, Sāriputta (Xá- lợi-phất) là Canda, Moggallāna (Mục-kiền-Iiên) là Suriya, Kassapa (Ca diếp) là Mātali, Ānanda (A-nan) là Pañcasikha và Ta là Sakka (Đế-thích) Thiên chủ.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây