Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 91: Chương Mười Bảy- Phẩm Bốn Mươi Bài Kệ - Phần 4 (trang 635-641)

     Khi đến nơi, trước tiên vua ngậm chiếc tăm rồi nhỏ nước bọt và thả chiếc tăm rơi trên đám tóc bện chặt của vị ẩn sĩ, sau đó còn làm ướt đầu ngài, cả đám quân lính cũng làm theo như vậy.
Khi vua đi rồi, vị tổng tướng quân đến, thấy vị ẩn sĩ, liền lấy que tăm ra khỏi đám tóc và tắm gội vị này thật sạch sẽ, xong lại hỏi:
-  Đức vua sau này sẽ ra sao?
-  Thưa ngài, tâm ta không sân hận gì, nhưng chư Thần phẫn nộ nên vào ngày thứ bảy kể từ ngày nay, quốc độ của ngài sẽ tan tành, ngài nên nhanh chân tẩu thoát đi nơi khác.
  Vị tướng quân vô cùng kinh hãi, về tâu vua. Vua không tin, vì thế vị tướng quân đem vợ con trốn sang quốc độ khác. Bậc Đạo sư Sarabhaṅga (tức Bồ-tát Jotipāla ở đầu câu chuyện) nghe tin ấy, liền bảo hai ẩn sĩ trẻ tuổi đến mang Kisavaccha trên chiếc cáng bay về trên không. Còn vua đánh trận xong, đem đám phản loạn làm tù binh trở về thành.
   Vào lúc về trở về, trước hết chư thần làm mưa xuống, khi các xác chết được cơn mưa lũ cuốn trôi đi hết, lại có trận mưa hoa trời trên đỉnh cát trắng tinh khiết, trên hoa trời có mưa tiền nhỏ rơi xuống, sau đó có mưa tiền lớn, tiếp theo là trận mưa đầy châu báu cõi trời.
   Dân chúng hân hoan lượm báu vật vàng ròng. Sau đó, rơi xuống trên người trần một trận mưa đủ loại binh khí, dân chúng bị phân thây tan tành. Kế đến là trận mưa than hồng nóng bỏng trên người họ, và trên các đám lửa cao như núi ấy rơi xuống một trận mưa cát mịn tràn ngập một khoảng rộng chừng sáu mươi cubit (1 cubit= 45cm). Một phần quốc độ rộng sáu mươi dặm bị tàn phá tan tành và tin trận hủy diệt này loan ra khắp toàn cõi Diêm-phù-đề.
  Các lãnh chúa trong các xứ chư hầu, ba vị vua Kāliṅga, Aṭṭhaka và Bhīmaratha nghĩ thầm: “Ngày xưa, ở Ba-la-nại, vua xứ Kāsi là Kalābu đã phạm tội với ẩn sĩ Khantivādī, chuyện kể rằng vua ấy bị nuốt vào lòng đất;
  Cũng vậy, vua Nāḷikīra đem các ẩn sĩ cho chó ăn thịt; vua Ajjuna có ngàn cánh tay đã phạm tội với trí giả Aṅgīrasa nên cũng chết cách như trên. Nay vua Daṇḍaki phạm tội với trí giả Kisavaccha, nên tương truyền cũng bị tan tành quốc độ, hủy diệt hết thảy. Chúng ta không biết các vị vua ấy tái sinh cõi nào; không ai trừ ngài Sarabhaṅga. Đạo sư của chúng ta có thể nói về điều này. Vậy chúng ta hãy đi hỏi ngài.”
     Rồi cả hai ba vị vua theo lễ nghi trọng thể ngự đi hỏi chuyện này. Nhưng dù cả ba vị vua đã nghe tin đồn như vầy như kia, cũng không biết thực hư ra sao, mỗi vị cứ tưởng rằng chỉ riêng mình lên đường, nên khi không còn cách xa Godhāvarī mấy, cả ba vị vua gặp nhau, cùng bước xuống các vương xa và ngự lên một chiếc vương xa duy nhất để cùng lên đường đến bờ sông Godhāvarī.
    Vào lúc ấy, Đế-thích Thiên chủ ngự trên ngai hoàng cẩm thạch, xem xét bảy vấn đề và tự nhủ thầm: “Ngoại trừ ngài Sarabhaṅga, bậc Đạo sư, không có ai trên trần thế hay Thiên giới có thể giải đáp các vấn đề trên. Vậy ta hãy đi hỏi ngài. Ba vị vua kia đã đi đến bờ sông Godhāvarī để hỏi ngài Sarabhaṅga, bậc Đạo sư. Ta cũng sẽ đến hỏi ngài vấn đề ba vị kia hỏi.
    Sau đó, được chư thiên của hai Thiên giới hộ tống, ngài giáng trần. Ngay hôm ấy, ẩn sĩ Kisavaccha từ trần nên lúc cử hành tang lễ, vô số hội chúng ẩn sĩ cư trú nhiều nơi khác nhau đến dựng dàn hỏa táng bằng gỗ thiên đàn để hỏa thiêu ngài. Và quanh chỗ hỏa thiêu khoảng chừng năm dặm, hoa trời rơi xuống như mưa.
    Bậc Đại sĩ, sau khi xem xét việc cất giữ phần di cốt của vị đệ tử xong, liền vào am cùng các ẩn sĩ theo hầu và ngồi xuống. Khi các vua đến bờ sông, có tiếng nhạc quân hành trổi. Bậc Đại sĩ nghe vậy, bảo ẩn sĩ Anusissa:
   -  Ông hãy ra xem nhạc ấy có ý nghĩa gì?
   Rồi cầm bình nước uống, ẩn sĩ đến đó, khi thấy ba vị vua, ngài ngâm vần kệ đầu để thăm hỏi:
1.       Vòng vàng, xiêm áo thật cao sang,
          Chư vị đeo gươm nạm bảo trân,
          Trân trọng kính chào chư đại tướng,
          Danh gì, cho biết, giữa trần gian?
Nghe lời ngài,ba vị vua liền xuống xe đảnh lễ ngài. Trong ba vị, có vua Aṭṭhaka lên tiếng đáp lời ngài qua vần kệ thứ hai:
2.        Bhīmaratha, danh đế Kāliṅga,
          Cùng trẫm, Aṭṭhaka, chính hiệu ta,
           Yết kiến chư hiền nhân khổ hạnh,
            Đến đây tham vấn, đủ ba vua.
Nhà ẩn sĩ bảo ba vị vua:
- Thế thì tâu Đại vương, các ngài đã đến tận nơi các ngài muốn; sau
khi tắm rửa, nghỉ ngơi, các ngài vào am, đảnh lễ hội chúng ẩn sĩ rồi đem vấn đề ra hỏi bậc Đạo sư.
     Như vậy, ngài chuyện trò thân mật cùng ba vị vua, rồi tung lên bình nước và lau hết những giọt nước rớt ra ngoài, ngài nhìn lên thấy Đế-thích Thiên chủ, được chư thiên hộ tống đông đảo, đang giáng trần ngự trên lưng Thiên tượng Erāvaṇa, nhà ẩn sĩ liền đối thoại với Thiên chủ qua vần kệ thứ ba:
3.         Ngài ngự trên cao, giữa cõi trời,
            Như vầng trăng tỏa ánh vàng soi,
            Đại Thiên thần, dám xin ngài dạy,
            Danh tiếng ngài sao ở cõi đời.
Nghe thế, Đế-thích Thiên chủ đáp vần kệ thứ tư:
4.         Sujampati, danh tiếng ở trên trời,
           Tên gọi Maghavā ở cõi đời,
           Thiên chủ hôm nay vừa giáng thế
           Thăm hiền nhân khổ hạnh bao người.
  Lúc ấy, ẩn sĩ Anusissa nói với ngài:
   -Tâu Thiên chủ, xin ngài hãy theo chúng thần.
   Rồi cầm bình nước, vị ẩn sĩ vào am, cất bình nước xong, liền đến báo tin cho bậc Đại sĩ biết có ba vị vua cùng Thiên chủ giáng lâm để hỏi ngài một số vấn đề. Lúc ấy, hội chúng ẩn sĩ vây quanh Đạo sư Sarabhaṅga đang tọa giữa một khoảng rộng có rào che. Ba vị vua đến đảnh lễ chúng ẩn sĩ, rồi ngài ngồi xuống một bên. Còn Đế-thích Thiên chủ giáng hạ đến gần hội chúng, chắp tay vái chào và tán tán hội chúng này qua vần kệ thứ năm:
5.         Chư hiền danh vọng đã lừng vang,
            Uy lực thần cao cả sẵn sàng,
            Hoan hỷ ta chào mừng Thánh chúng,
           Trí tài siêu việt đám người phàm.
  Đế-thích Thiên chủ chào hội chúng như vậy xong liền ngồi riêng ra để tránh khỏi sáu cố tật lúc ngồi. Sau đó, ẩn sĩ Anusissa thấy ngài ngồi phía dưới hội chúng, liền ngâm vần kệ thứ sáu:
6.        Thân thể của ngài lão Thánh nhân
           Bốc mùi hôi hám khắp không gian,
           Sakka Thiên chủ liền lùi bước,
           Tránh các mùi chư Thánh nực nồng.
Nghe nói vậy, Đế-thích Thiên chủ đáp vần kệ khác:
7.        Dù các Thánh nhân tuổi đã già,
          Gây mùi xúc phạm mũi người ta,
          Nhiềm ô luồng khí đưa hương ngát,
          Ta vẫn yêu mùi Thánh bốc ra,
         Hơn các tràng hoa thơm rực rỡ,
         Chư Thiên chẳng ghét chuyện kia mà.
Nói vậy xong, ngài thêm:
-  Này Tôn giả Anusissa, ta gắng công đến đây để hỏi một số vấn đề, xin hãy cho phép ta làm việc ấy.
Nghe lời Đế-thích Thiên chủ, ẩn sĩ Anusissa liền đứng dậy cho phép ngài xong, vị ẩn sĩ này liền ngâm hai vần kệ với hội chúng ẩn sĩ:
8.        Sujampati phu tướng, Maghavā,1
           Thí chủ lừng danh, chúa quỷ ma,
           Dẹp lũ yêu tinh, Thiên đế ấy
           Ước ao được hỏi chuyện cùng ta.
9.        Ai đây trong các bậc hiền nhân
           Giải đáp vấn đề thật khó khăn
          Cho cả ba vua đang trị nước
         Và Sakka, chúa tể Thiên thần?
Nghe vậy, cả hội chúng ẩn sĩ đều bảo:
-   Này Hiền giả Anusissa, bạn nói chẳng khác nào bạn không thấy quả đất bạn đang ở. Ngoài trừ bậc Đạo sư Sarabhaṅga của chúng ta, còn ai xứng đáng để trả lời các vấn đề kia nữa?
Nói xong, các vị ấy liền ngâm vần kệ khác:
10.       Sarabhaṅga Thánh giả chân hiền
           Thanh tịnh, thoát ly mọi trược phiền,
            Pháp tử, tinh thông trì giới luật,
           Giải trừ nghi hoặc của nhân thiên.
Nói xong, hội chúng bảo ẩn sĩ Anusissa:
-Thưa Hiền giả, xin Hiền giả nhân danh Thánh chúng đến đảnh lễ bậc Đạo sư và tìm cơ hội thưa với ngài về vấn đề Đế-thích Thiên chủ đặt ra.
_____________________________                                      
1 Sujampati và Maghavā: danh hiệu của Sakka Thiên chủ.
Vị này chấp thuận ngay rồi tìm được cơ hội, liền ngâm vần kệ khác nữa:
11.         Thánh chúng mong cầu bậc Đại sư
              Koṇḍañña, xóa sạch nghi ngờ,
              Chủ đề này được nhiều người bảo
              Đè nặng các hiền trí lão gia.
Bậc Đại sĩ liền chấp thuận và ngâm vần kệ sau:
12.        Cho phép người đem hỏi chuyện gì
            Thực lòng người vẫn ước mong nghe,
            Đời này, đời kế, ta đều biết,
            Trí chẳng nghi nan mọi vấn đề.
Sau khi được bậc Đại sĩ cho phép, Thiên chủ ra vấn đề ngài chuẩn bị hỏi.
                                                            *
Bậc Đạo sư ngâm kệ làm sáng tỏ sự việc này:
13.         Thiên chủ tìm chân lý pháp trần,
              Đến chư Hiền giả lượng khoan hồng,
               Để ngài học những điều mong biết,
              Và bắt đầu tham vấn mọi phần.
14.          Cái gì ta phải diệt hoàn toàn
               Mà chẳng bao giờ hối tiếc không,
              Và cái gì ta cần vứt bỏ
              Mà người hiền thiện thảy đồng lòng?
               Lời ai ta phải cần kham nhẫn
               Cho dẫu là thô lỗ tận cùng?
                Đây chính là điều ta ước muốn
               Koṇḍañña Thánh giả nói cho thông.
                                                           *
Bậc Đại sĩ ngâm kệ giải thích vấn đề:
15.          Sân hận là tâm phải diệt trừ
              Mà ta chẳng hối tiếc bao giờ,
              Giả nhân, giả nghĩa cần quăng bỏ
              Được tán đồng ngay bởi bậc từ,
              Ta phải nhịn lời từ mọi phía
             Dù lời thô lỗ thật vô bờ,
             Lòng kham nhẫn ấy, hiền nhân bảo,
             Đệ nhất ngôi cao quả thật là.
Thiên chủ:
16.        Những lời thô ác của hai người
             Ta phải kiên tâm chịu đựng hoài,
              Là bậc trên, người cùng đẳng cấp,
              Song làm sao nhẫn nhịn bao lời
              Của người thấp kém hơn ta nữa,
              Là việc ta mong học hỏi ngài.
Bậc Đại sĩ:
17.          Lời ác thô từ các bậc trên,
              Ta thường kham nhẫn bởi lòng kiêng,
               Hoặc không tranh cãi người đồng đẳng,
                Song nhịn lời thô kẻ thấp hèn
                Là chính viên thành lòng nhẫn nhục,
Như lời hiền Thánh vẫn thường khuyên.
Các vần kệ trên đây là những lời đối đáp giữa hai vị. Khi ngài nói xong, Đế-thích Thiên chủ bảo bậc Đại sĩ:
-  Thưa Thánh giả, trong phần đầu ngài bảo: “Nhẫn nhịn lời thô lỗ của mọi người, đó là lòng kiên nhẫn tối thượng,” song nay ngài lại bảo: “Nhẫn nhịn lời thô lỗ của kẻ dưới, người ta nói, đây mới là lòng kiên nhẫn tối thượng.” Lời nói sau không ăn khớp với lời nói đầu tiên của ngài.
Lúc ấy, bậc Đại sĩ nói với Thiên chủ:
- Thưa Thiên chủ, lời sau cùng này của ta dành cho một người nhẫn nhịn lối nói thô lỗ của một kẻ mà người ấy biết là thấp kém hơn mình, còn lời nói đầu tiên của ta là do khi chỉ nhìn bề ngoài, ta không thể biết chắc hoàn cảnh của người khác có thấp kém hơn ta hay không.
   Rồi để nêu rõ thật khó khăn khi chỉ nhìn bề ngoài mà phân biệt người thấp kém hay cao sang, trừ phi là phải qua tiếp xúc thân mật, ngài liền ngâm kệ:
18.           Khó nhìn vẻ hào nhoáng bên ngoài
                Mà đoán hơn, thường hay giả dạng
                Tồi tàn xuất hiện ở trong đời.
                Vậy thì bạn hỡi, ta khuyên nhủ
                             Hãy nhịn lời thô của mọi người.
Khi nghe điều này, Đế-thích Thiên chủ đầy lòng tín thành, cầu xin ngài:
 -  Thưa Tôn giả, xin Tôn giả thuyết giảng cho chúng ta biết lợi lạc của lòng nhẫn nhục này.
Bậc Đại sĩ liền ngâm kệ:
19.                       Sức mạnh quân vương đến bực nào
                           Cũng không thắng lợi chốn binh đao
                           Bằng hiền nhân tạo nhờ kham nhẫn,
                           Đại nhẫn xóa tan mọi hận cừu.
   Khi bậc Đại sĩ đã thuyết giảng các công đức do nhẫn nhục tạo nên như vậy xong, các vị suy nghĩ: Đế-thích Thiên chủ hỏi vấn đề của riêng ngài, mà lại không để cho chúng ta có cơ hội hỏi vấn đề của chúng ta.”
   Biết được ước vọng của các vua ấy, Thiên chủ để riêng bốn vấn đề ngài đã chuẩn bị trước đây qua một bên, và khi đưa ra mối hoài nghi của các vị kia, Thiên chủ ngâm kệ này:
20.                    Lời ngày đang dạy thật êm tai,
                         Song muốn nghe thêm một chuyện này,
                         Xin hỏi phận Daṇḍdakī chúa tể
                         Cùng ba tòng phạm lỗi lầm gây,
                        Cõi nào phải tái sinh đày đọa,
                        Vì phá Thánh hiền thế giới đây?
Bậc Đại sĩ ngâm năm vần kệ giải đáp các vấn đề trên:
21.                    Thuở nọ tan tành cả quốc gia,
                         Vì làm ô nhục Thánh Kisa
                        Daṇḍdakī ngã xuống Kukula địa
                        Tràn ngập than hừng hóa bụi tro.
22.                   Nāḷikīra đầy hoảng hốt rơi vào
                        Địa ngục trong nanh vuốt chó ngao,
                        Vì nhạo báng hiền nhân, đạo sĩ,
                        Pháp sư chẳng phạm lỗi lầm nào.
23.                     Cũng vậy Ajjuna giết ngay
                          Thánh nhân thanh tịnh, luyện tu dày
                          Aṅgīrasa, nên bị xô đầu xuống,
                          Hành hạ thân trong chốn đọa đày.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây