Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
Một hôm, vị tế sư đi đến ngôi làng có hoa lợi của mình, và vào làng bằng cổng phía nam, vị này thấy ngoài cổng làng một người đàn bà cùng khổ lại sinh nhiều con trai quá, có đến bảy đứa. Tất cả đều cường tráng khỏe mạnh, đứa cầm nồi đem chảo đi nấu bếp, đứa thì lấy chiếu trải giường, thằng này đi trước thằng nọ theo sau, thằng khác nắm tay mẹ, thằng kia ngồi trong lòng mẹ, một thằng nữa trên vai bà. Vị tế sư hỏi:
- Thế cha bầy trẻ này đâu?
Bà ấy đáp:
- Thưa ngài, chắc hẳn là đám trẻ chẳng có cha nào cả.
Vị này hỏi:
- Vậy thì làm sao bà có được bảy thằng con xinh tốt như thế này?
Người đàn bà không để ý đến cả khu rừng rậm, mà chỉ tay vào cây đa đứng cạnh cổng thành và nói:
- Thưa ngài, tiện thiếp cầu khẩn vị Thần sống ở cây này, vị Thần ấy đáp lại lời cầu xin của thiếp bằng cách ban cho bảy thằng bé ấy.
Vị tế sư liền bảo:
- Thôi được, bà đi đi.
Rồi vị này xuống xe bước lên cây ấy, cầm một cành mà lắc mạnh, bảo nó:
- Này thần linh, đức vua có thiếu món gì cúng ông, suốt năm này qua năm khác, ngài cúng ông cả ngàn đồng tiền, mà ngược lại ông chẳng ban cho ngài vị vương tử nào cả. Còn mụ ăn mày kia đã làm gì mà ông cho mụ cả bảy đứa con trai? Ông phải cho đức vua một đứa con trai này trong vòng bảy ngày, nếu không ta sẽ bảo chặt đốn thân ông xuống và xẻ ra từng khúc đấy.
Khi trách mắng vị Thần cây đa như thế xong, vị tế sư ra đi.
Suốt sáu ngày, vị tế sư cứ làm như vậy và vào ngày thứ sáu, vừa nắm một cành cây vừa bảo:
- Này Thần cây, chỉ còn một đêm nữa thôi đấy, nếu ông không cho đức vua một con trai thì thân ông phải ngã xuống ngay.
Vị nữ thần trên cây suy nghĩ mãi cho đến khi nàng thấy sự việc ấy rõ ràng như thế nào. Nàng nghĩ thầm: “Vị Bà-la-môn kia sẽ phá tan nhà của ta nếu vị ấy không được đứa con trai. Vậy ta biết cho ngài một con trai bằng cách nào đây đã chứ? Sau đó nàng yết kiến Tứ đại Thiên vương, và tâu trình với các ngài. Các ngài phán:
Kế đó, nàng đến gặp hai mươi tám vị thần Dạ-xoa (Yakkha), các Thần kia cũng trả lời nàng như vậy. Nàng liền đến yết kiến Sakka (Đế-thích) Thiên chủ và tâu trình ngài.
Thiên chủ suy nghĩ trong lòng: “ Nhà vua nay có sinh được hoàng nam xứng đáng với mình hay chăng?” Rồi ngài nhìn quanh và chợt thấy bốn vị Thiên tử đức độ. Truyện kể rằng các vị này nguyên là thợ dệt ở Ba-la-nại, trong một đời trước, tất cả mọi tiền của kiếm được nhờ buôn bán, các vị ấy chia làm năm phần, bốn phần làm của riêng mỗi người, còn phần thứ năm là của chung được đem ra bố thí hết. Từ thành ấy, chư vị tái sanh lên cõi trời (Ba mươi ba), sau đó lại tái sinh vào cõi Yāma thiên (Dạ-ma), từ đấy cứ tái sinh liên tục lên xuống qua về sáu tầng trời cõi dục và hưởng thọ vô số vinh quang.
Ngay thời bấy giờ là lúc chư vị phải đi từ cõi trời Ba mươi ba đến cõi Yāma (Dạ-ma). Thiên chủ Sakka liền đi tìm kiếm, đi đến cõi nhân gian và nhập mẫu thai của chánh hậu Đại vương Esukārī.
- Lành thay, tâu Thiên chủ.
Và các vị cùng nói những lời này:
- Chúng thần sẽ đi, song chúng thần không muốn liên quan gì đến hoàng gia cả. Chúng thần sẽ tái sinh vào gia đình vị tế sư và ngay khi còn thanh niên, chúng thần sẽ từ giã thế tục.
Thế là Thiên chủ tán thành các vị ngay về lời cam kết kia, xong Ngài trở về, kể lại mọi chuyện cho nữ thần sống trên cây đa ấy. Nữ thần rất vui mừng, tạ từ Thiên chủ Sakka và lui về nơi cư ngụ của mình.
Còn vị tế sư ngày hôm sau lại đến cùng với một đám người lực lưỡng mà vị này đã tập hợp lại, mỗi người cầm một cây rìu thật bén hay một vật tương tự. Vị tế sư bước gần cây, nắm một cành và kêu to:
- Này thần cây,đây là ngày thứ bảy kể từ khi ta cầu khẩn ông một đặc ân. Nay đã đến phá hoại cây rồi đó!
Vị Thần cây dung đại lực của nàng làm nứt nẻ thân cây và xuất hiện với giọng ngọt ngào, bảo vị ấy như vầy:
- Này vị Bà-la-môn, ngài muốn có một nam tử chăng? Chà, ta sẽ ban cho ngài cả bốn đứa kia!
Vị tế sư bảo:
- Ta không muốn có con, xin nàng có một đứa con trai cho đức vua của ta thôi.
- Không được đâu, ta chỉ muốn ban cho ngài thôi.
Vậy thì nàng hãy ban cho đức vua hai đứa và ta hai đứa đi.
- Không được, đức vua chẳng thể nào có con đâu, phần ngài phải có cả bốn đứa, mà chúng chỉ được phép ban cho riêng ngài thôi, là vì chúng sẽ không muốn sống cuộc đời thế tục tại gia, nên ngay lúc tuổi còn thanh xuân, chúng sẽ từ giã thế tục này.
Vị ấy đáp:
- Vậy nàng cứ cho ta các đứa con trai ấy đi, ta quyết chăm sóc để bọn chúng khỏi từ giã thế tục.
Như vậy là nữ thần đã chấp thuận lời cầu tự của vị tế sư này và trở về chỗ cư ngụ của nàng. Từ đó về sau, nữ thần kia được trọng vọng tôn vinh lắm.
Bấy giờ, vị Thiên tử lớn nhất giáng trần, nhập mẫu thai của phu nhân vị quốc sư kia. Vào ngày đặt tên, gia đình ấy gọi hài nhi là Hattipāla hay Người quản tượng, và để ngăn cản con trai rời khỏi thế tục này, họ giao hài nhi cho vài người giữ voi chăm sóc, nên hài nhi lớn lên giữa đám người ấy.
Khi hài nhi mới lớn, vừa mới biết đi chập chững thì hài nhi thứ hai ra đời cũng từ phu nhân ấy. Vào ngày sanh, họ đặt tên hài nhi là Assapāla hay Người giữ ngựa, và hài nhi lớn lên giữa bọn người giữ ngựa. Hài nhi thứ ba lúc ra đời được đặt tên là Gopāla hay Người chăn trâu và hài nhi lớn lên giữa bầy mục tử. Còn Ajapāla hay Người chăn dê, là tên hài nhi thứ tư được gọi lúc ra đời và hài nhi này lớn lên giữa đám người chăn dê. Khi bầy trẻ lớn lên, chúng là những nam tử có đầy đủ tướng mạo tốt lành.
Lúc bấy giờ, vì lo sợ bầy con trai từ bỏ thế tục nên các người tu khổ hạnh xuất gia đều bị đuổi ra khỏi quốc độ này. Trong toàn xứ sở Kāsi không còn sót tu sĩ nào cả. Riêng bầy nam tử này tính tình thô bạo lắm, hễ chúng đi trên con đường nào là chúng cướp đoạt những lễ vật cúng cấp đây đó trong vùng.
Khi Hatthipāla lên mười sáu tuổi, vua và vị tế sư thấy dung mạo hoàn mỹ của chàng, liền nghĩ thầm: “Các con nay đã khôn lớn mạnh mẽ. Khi đã giương lên chiếc lọng hoàng gia rồi thì ta sẽ làm gì chúng được nữa? Ngay khi làm lễ quán đảnh cho chúng xong, chúng sẽ thống trị tất cả. Các vị tu khổ hạnh sẽ đến, bọn chúng sẽ thấy các vị đó và cũng sẽ trở thành các vị tu khổ hạnh luôn; một khi chúng hành động như thế thì cả nước sẽ loạn lên mất. Vậy trước tiên ta phải thử lòng chúng rồi sau đó mới làm lễ quán đảnh.”
Đầu tóc búi to,tựa Thánh thần,
Răng bẩn, hôi dơ đầy bụi bặm,
Lại gồng gánh nặng nhọc trên lưng.
2. Cuối cùng thấy được một hiền nhân,
Vui thú theo đường lối chánh chân,
Với vỏ cây làm y phủ kín,
Và thêm một chiếc nữa màu vàng.
3. Xin nhận tọa sàng nước rửa chân,
Thật là chân chánh lúc đem dâng,
Tặng nhiều thực phẩm chư hiền khách,
Xin nhận,vì gia chủ đón mừng.
Chàng trai lần lượt nói như vậy với hai vị. Rồi vị tế sư bảo:
- Này Hatthipāla con hỡi, con nói điều này vì con không biết chúng ta.Con tưởng chúng ta là các bậc hiền nhân từ vùng Tuyết sơn xuống đây ư, song thật chúng ta không phải như vậy đâu, con ạ. Đây là Đại vương Esukārī và ta là thân phụ của con,vị quốc sư đó.
Chàng trai nói:
- Thế thì tại sao Đại vương và thân phụ đắp y như các bậc hiền giả?
Vị ấy đáp:
- Để thử lòng các con đó mà!
Chàng hỏi:
- Tại sao lại thử con chứ?
- Bởi vì, nếu con gặp chúng ta mà không muốn từ giã thế tục thì chúng ta sẵn sàng làm lễ quán đảnh phong vương cho con ngay.
Chàng đáp:
- Ồ thưa phụ vương, con chẳng ham vương vị, con muốn rời bỏ thế tục.
Thân phụ chàng liền đáp:
- Này con Hatthipāla, đây chưa phải thời để rời bỏ thế tục đâu. Rồi vị này giải thích ý định của mình qua vần kệ thứ tư:
Làm giàu và cưới vầy duyên,
Nhiều con, hưởng thú vui trần thế,
Thanh, sắc cùng hương, vị, xúc êm,
Sau đó ẩn cư rừng khả ái,
Thế là người trí xứng danh hiền.
Hatthipāla đáp lại với vần kệ:
5. Chân lý không sao lại đạt thành
Từ vàng bạc hoặc Vệ-đà kinh,
Nhiều con chẳng khỏi thành già cả,
Có lối thoát ra mọi dục tình,
Như các trí nhân đều thấu suốt,
Gieo gì gặt nấy kiếp lai sinh.
Bấy giờ, vua ngâm kệ đáp lời chàng trai:
6. Lời tự mồm con quả thật chân,
Đời sau ta gặt thứ đang trồng,
Hai thân con đó, nay già yếu,
Song các người mong muốn thấy rằng
Cuộc sống trăm năm đầy hạnh phúc
An khang cho trẻ hưởng riêng phần.
- Tâu Chúa thượng, ngài muốn ám chỉ việc gì thế?
Vương tử hỏi và ngâm hai vần kệ:
7. Kẻ nào khi chết, tấu Anh quân,
Có thể tìm ra một bạn thân,
Đã ký với tuổi già thỏa ước
Để cho người ấy chẳng từ trần,
Mong lời cầu nguyện trên Hoàng thượng
Dành bách niên kẻ đó hưởng phần.
8. Cũng giống như người lái vượt dòng,
Con thuyền sang bến nọ bên sông,
Phàm nhân đều vậy, không sao khỏi
Bệnh, lão niên, rồi tử, mệnh chung.
Bằng cách trên, chàng trai đã chỉ cho các vị này thấy cuộc sống thế nhân giả tạm phù du ra sao, rồi thêm lời khuyên nhủ:
Sau khi vái chào vua và phụ thân, chàng đem theo đám hầu cận muốn đi cùng chàng, bỏ lại vương quốc Ba-la-nại đằng sau và lên đường với ý định theo sống đời khổ hạnh. Cả một hội chúng đông đảo cùng đi với chàng thanh niên Hatthipāla, vì hội chúng bảo:
- Cuộc sống tu hành này chắc hẳn phải cao thượng lắm.
Hội chúng ấy trải dài suốt một dặm đường, chàng nam tử cùng hội chúng tiến lên cho đến tận bờ sông Hằng.Tại đó, chàng làm phát khởi thiền định bằng cách quan sát dòng nước sông Hằng.
Chàng nghĩ thầm: “ Tại đây rồi sẽ có hội chúng đông lắm. Ba vị hiền đệ của ta sẽ đến, kế song thân, đức vua và hoàng hậu, tất cả cùng với đám tùy tùng sẽ sống theo đời tu tập.Thành Ba-la-nại sẽ trống vắng.Ta sẽ ở lại đây cho đến khi các vị đến đủ.” Thế là chàng ngồi tại đó, khích lệ cả đám đông dân chúng đang tụ tập.
Hôm sau,vua và vị tế sư suy nghĩ: “ Như vậy vương tử Hatthipāla đã thật sự rời bỏ quyền làm vua và hiện đang ngồi bên bờ sông Hằng, từ đó chàng đi theo cuộc sống tu hành cùng với hội chúng đông đảo ở bên chàng. Song ta hay đi thử Assapāla xem sao, rồi làm lễ quán đảnh phong vương cho chàng.” Vì thế cũng như trước kia vừa khoác bộ y phục của nhà tu khổ hạnh,hai vị cùng đi đến cửa nhà chàng. Chàng rất hoan hỷ khi thấy hai vị, liền bước tới gần hai vị ngâm câu kệ “ Cuối cùng…” ấy giống như anh cả của chàng đã ngâm. Hai vị này cùng làm như trước,và bảo cho chàng biết nguyên nhân hai vị đến đây.Chàng đáp:
- Tại sao chiếc lọng trắng hoàng gia lại dành ưu tiên cho phần con, khi con có một hoàng huynh như Hatthipāla?
Hai vị đáp:
- Này con, hoàng huynh con đã ra đi để sống đời tu tập, anh con chẳng muốn liên hệ gì với hoàng gia nữa.
Chàng hỏi:
- Thế bây giờ anh con đâu rồi?
- Hiện đang ngồi bên bờ sông Hằng.
- Tâu Chúa thượng và thân phụ, con cũng chẳng màng đến cái thứ mà
Sau đó, chàng thuyết pháp cho thân phụ và đức vua qua hai vần kệ được chàng ngâm lên:
9. Dục lạc là bùn bẩn, uế nhơ,
Tham tâm gây chết chóc, sầu tư,
Ai chìm trong đám bùn vô trí
Không thể bước sang đến bến bờ.
10. Đây là kẻ đã chịu sầu tư,
Nó bị bắt giam trước đến giờ,
Tìm lối thoát thân nào chẳng thấy,
Để không làm những chuyện như xưa,
Từ nay con quyết lòng xây dựng
Những bức tường không thể lọt vô.
- Tiểu sinh xin thưa Chúa thượng cùng thân phụ hiện đứng chỗ kia và ngay khi tiểu sinh đang trình với hai vị, thì bệnh tật, tuổi già và cả thần chết cũng đang tiến đến gần ta hơn.
Cùng với lối khuyến giáo này, vừa được một đám đông hộ tống kéo dài cả dặm đường, chàng ra đi tìm gặp vương tử Hatthipāla, vị vương huynh chàng liền đứng ở trên không và thuyết pháp cho chàng rồi nói:
- Này hiền đệ, sau sẽ có một đám đông dân chúng đến đây, vậy hai ta hãy cùng ở lại chốn này.
Chàng đồng ý ở lại đó ngay.
Hôm sau, vua và vị tế sư cũng theo cách trên đến nhà vương tử Gopāla. Khi được chàng hoan hỷ chào đón theo như cách hai vị vương tử trước. Hai vị giải thích duyên cớ đến đây. Cũng như Hatthipāla, chàng từ chối lời đề nghị của hai ngài.
- Từ lâu, con đã ước mong sống đời tu tập, như một con bò cái bị lạc trong rừng vẫn còn đi lang thang tìm lối sống. Nay con nhìn thấy con đường mà hai vương huynh của con đã đi qua, giống như dấu chân kia của con bò bị lạc, nên con cũng theo đường ấy mà ra đi.
Sau đó, chàng ngâm kệ:
11. Như tìm bò cái lạc trên đường,
Bối rối loanh quanh mãi giữa rừng,