Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 13: 451.  CHUYỆN HỒNG NGA - Phần 11 (trang 87-93)

                                                    451.  CHUYỆN HỒNG NGA
                                                     (TIỀN THÂN CAKKAVĀKA)
Màu lông tươi đẹp, dáng thanh tao...
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc đang trú tại Kỳ Viên về một Tỷ- kheo tham lam.
Chuyện kể rằng người này bất mãn với bộ y khất sĩ cùng những thứ tương tự nên thường đi quanh quẩn hỏi:
-   Nơi đâu có cơm cho Tăng chúng? Nơi đâu có người mời?
Và khi nào nghe nói có thịt, ông tỏ ra rất hoan hỷ. Lúc bấy giờ, có một vị Tỷ-kheo tốt bụng, vì lòng thương tưởng bạn nên đem chuyện ấy kể với bậc Đạo sư. Ngài triệu người ấy đến hỏi:
-   Này Tỷ-kheo, có thật đúng như ta nghe rằng ông tham lam đó chăng?
-    Bạch Thế Tôn, đúng thế.
-     Này Tỷ-kheo, tại sao ông còn ham muốn sau khi hành trì Giáo pháp đưa đến giải thoát như Đạo của Ta? Tham tâm này là ác pháp, ngày xưa, vì tham dục, ông bất mãn với các xác voi chết cùng nhiều vật thừa khác ở Ba- la-nại nên đã đi vào rừng rậm.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
                                                                 *
     Thuở xua, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, một con quạ tham ăn không hài lòng với các xác voi chết ở Ba-la-nại, cùng mọi thứ xác chết khác. Nó suy nghĩ: “Bây giờ đây ta không biết rừng rậm ra sao nhỉ? Thế là nó vào rừng xanh, song nó cũng không hài lòng với trái cây rừng mà nó tìm được, nên đi đến sông Hằng.
Khi nó tiến về phía sông Hằng, chợt thấy một đôi hồng nga, nó suy nghĩ: “Những con chim đàng xa kia tuyệt đẹp, ta chắc chúng tìm ra nhiều thịt để ăn trên bờ sông Hằng này. Ta muốn hỏi chúng và nếu ta cũng ăn thịt chúng nữa, chắc chắn ta sẽ được màu lông tươi sáng như chúng vậy.” Thế
là khi đậu không xa đôi chim ấy, quạ hỏi hồng nga bằng cách ngâm hai vần kệ đầu:
1.                  Màu lông tươi đẹp, dáng thanh tao,
                    Thân thể tròn xinh, ửng sắc đào,
                     Này ngỗng, đúng là bạn tuyệt mỹ,
                     Năm căn và mặt sáng ngời sao!
2.                  Trong khi đậu ở bến sông Hằng,
                     Cá tráp, cá vền, ngỗng vẫn ăn,
                     Cá chép, cùng nhiều loài cá khác,
                    Trên dòng sông nước lội tung tăng
   Hồng nga liền cãi lại quạ bằng cách ngâm vần kệ thứ ba:
3.                  Ta chẳng ăn bầy cá giữa dòng,
                    Cũng không nằm nghỉ ở trong rừng,
                    Mọi loài rong cỏ, ta nuôi sống,
                    Này bạn, đó là món ngỗng ăn.
Lúc ấy, quạ ngâm hai vần kệ:
4.                 Ta chẳng tin theo ngỗng giải bày,
                   Xác minh thực phẩm nó ăn đầy,
                   Của ngon trong xóm ngâm dầu muối,
                   Là món ta ăn sống mỗi ngày.
5.                Món cơm tinh sạch, đẹp làm sao,
                   Có kẻ làm xong, lại đổ vào,
                  Món thịt ấy, nhưng này bạn ngỗng,
                  Sắc ta không giống bạn đâu nào.
Ngay sau đó hồng nga ngâm cho quạ nghe các vần kệ còn lại, nêu rõ lý do tại sao quạ có màu lông xấu xí và thuyết giảng đức tính chân chánh:
6.                Ngắm xem tội ác ở lòng người,
                   Làm hại, phá tan cả cuộc đời,
                   Lo sợ, kinh hoàng, ngươi ẩm thực,
                  Nên ngươi có được sắc này thôi.
7.               Quạ ơi, lầm lạc khắp trên trần,
                  Tội ác trong đời trước hóa thân,
                  Bạn chẳng thích đồ ăn uống nữa,
                 Chính màu này quạ phải mang luôn.
8.              Này bạn, ta chẳng hại ai,
                 Cũng không lo lắng, dạ an hoài,
                 Cũng không có việc gì sầu muộn,
                 Sợ hãi gì do kẻ địch ngoài.
9.             Vậy bạn này, nên sống dũng cường,
                 Giã từ đường lối sống vô lương,
                Trên đời tiến bước không làm hại,
                 Tất cả cùng yêu mến tán dương.
10.            Người nào thân ái với muôn loài,
                 Không hại và không bảo hại ai,
                 Không quấy nhiễu, không ai quấy nhiễu,
                 Không thấy gì sân hận vì người.
 -     Vậy nếu bạn muốn được mọi người thương mến, hãy từ bỏ các ác dục.
 Hồng nga này thuyết giảng đạo đức chân chánh, đã nói như vậy. Quạ đáp:
  -    Đừng nói tầm phào với ta về cách sống của bạn.
Xong nó vừa kêu lên "Quạ! Quạ!” vừa bay mất qua không gian đến bãi phân ở thành Ba-la-nại.
                                                              *
  Khi bậc Đạo sư chấm dứt Pháp thoại này xong. Ngài thuyết giảng các Sự thật. Bấy giờ lúc kết thúc các Sự thật, vị Tỷ-kheo tham lam đã được an trú vào Tam quả (Bất Lai).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
-    Thời ấy, Tỷ-kheo tham lam này là con quạ, mẹ của La-hầu-la là chim bạn của hồng nga và Ta chính là hồng nga.
                                                           452.  CHUYỆN VẤN ĐỀ TRÍ TUỆ
                                                                  (TIỀN THÂN BHŪRIPAÑÑA)
Chuyện này sẽ được kể trong Tiền thân Mahā Ummagga (số 546), Tập VII.


                                                            453. CHUYỆN ĐIỀM LÀNH LỚN
                                                             (TIỀN THÂN MAHĀMAṄGALA)
Hiển bày chân lý giải nghi nan...
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về Kinh Điềm lành tối thượng hay Luận về điềm lành.
Tại kinh thành Vương Xá, vì một lý do này nọ, một đám đông tụ họp trong nhà nghỉ của vua; giữa bọn ấy có người đứng dậy, bước ra nói:
-     Hôm nay là ngày có điềm lành.
Một người khác nghe được, bảo rằng người kia bước ra và nói đến “Điềm triệu,” vậy y muốn nói gì qua chữ “Điềm”?
Một người thứ ba bảo:
-     Dấu hiệu gì có vẻ may mắn thì đó là điềm lành, ví dụ một người thức dậy sớm và thấy một con bò đực toàn trắng hay một người đàn bà có thai, hay con cá màu đỏ (Cyprinus Rohita) hay cái bình đầy đến tận miệng, hoặc bơ tươi mới tan từ sữa bò, hoặc y phục mới chưa giặt hoặc cháo gạo, thì chẳng có điềm nào tốt hơn nữa.
Vài kẻ bàng quan bình phẩm lời giải thích này:
-     Nói hay đấy.
Song có kẻ khác chen vào:
-       Ổ không, chẳng có điềm gì trong việc ấy cả, chỉ lời nói bạn nghe 
mới là điềm. Có người nghe người ta nói: “Đầy đủ,” rồi lại nghe “Lớn đầy đủ” hoặc “Đang lớn,” hoặc nghe chúng bảo: “Ăn đi” hay “Nhai đi” thì chẳng có điềm nào tốt hơn nữa.
Một số kẻ bàng quan bảo:
-  Nói hay đấy.
Và họ bình phẩm lời giải thích này. Một người khác lại nói:
-  Chẳng có điềm gì trong mọi chuyện ấy cả. Hễ vật gì bạn đụng chạm đến mới là điềm. Nếu một người thức dậy sớm đụng vào đất hay cỏ xanh, phân bò tươi, chiếc áo sạch, cá màu đỏ, vàng hay bạc, thức ăn... thì chẳng có điềm gì tốt hơn nữa.
Ở đây, vài kẻ bàng quan lại tán đồng và bảo là khéo nói. Và sau đó, số người theo phái chủ trương các điềm do mắt thấy, điềm về âm thanh, điềm về xúc chạm, chia làm ba nhóm, không ai thuyết phục ai được cả. Từ chư Thần trên mặt đất đến Phạm thiên giới không ai có thể xác định điềm là như thế nào cả. Đế-thích Thiên chủ nghĩ thầm: “Giữa chư Thiên và loài Người ai ngoài đức Thế Tôn là có thể giải đáp đúng vấn đề điềm triệu. Ta muốn đi đến đức Thế Tôn và đặt vấn đề với Ngài.”
Thế là ban đêm Thiên chủ đến thăm đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và chắp tay vào nhau để thỉnh cầu, Thiên chủ đặt câu hỏi bắt đầu bằng: “Có chư Thiên và loài Người.” Sau đó, bậc Đạo sư dùng mười hai vần kệ nói cho Thiên chủ biết ba mươi tám điềm lành lớn. Và trong khi ngài ngâm những lời kinh điềm lành ấy, lần lượt chư Thiên lên đến con số mười ngàn triệu vị đắc Thánh quả A-la-hán, còn các vị đắc ba Đạo quả kia thì không sao kể xiết. Thiên chủ nghe xong các điềm lành, liền trở về cõi của mình.
Khi bậc Đạo sư nói các điềm lành xong, thế giới loài Người và Thiên giới đồng tán thành và bảo:
-    Thật là khéo nói!
Sau đó trong Chánh pháp đường, Tăng chúng bắt đầu bàn luận về công đức của đức Như Lai:
-    Này các Hiền giả, vấn đề điềm triệu vượt phạm vi hiểu biết của mọi người, nhưng Ngài đã tuệ tri tâm của loài Người và chư Thiên, cùng giải tỏa các mối nghi của quần chúng như thể Ngài khiến mặt trăng hiện lên trên bầu trời! Ôi đức Như Lai là một bậc Đại trí, này các hiền hữu!
Bậc Đạo sư bước vào hỏi Tăng chúng đang nói chuyện gì trong lúc
ngồi tại đó. Tăng chúng trình với Ngài. Ngài bảo:
-    Này các Tỷ-kheo, chẳng vi diệu gì khi Ta giải đáp vấn đề điềm lành vì nay Ta đã đạt Trí tuệ tối thắng; mà ngay cả khi Ta còn là Bồ-tát trên trần gian Ta đã giải đáp các mối nghi hoặc của chư Thiên và loài người bằng cách trả lời vấn đề điềm lành.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
                                                     *
Một thuở nọ, Bồ-tát tái sinh vào một thị trấn trong một gia đình Bà-la- môn giàu có, cha mẹ đặt tên ngài là Rakkhitakumāra. Khi ngài khôn lớn và đã hoàn thành việc học tập tại Takkasilā, ngài cưới vợ. Sau khi song thân qua đời, ngài kiểm tra lại gia sản, suy nghĩ kỹ, ngài phân chia tài sản để bố thí và điều phục các tham dục, rồi ngài trờ thành ẩn sĩ trong vùng Tuyết sơn. Ở tại đó, ngài tu tập các Thắng trí và an trú tại một nơi, tự nuôi sống bằng các thứ củ, quả rừng. Theo thời gian, đệ tử của ngài rất đông, gồm năm trăm vị cùng sống với ngài.
Một ngày kia, các ẩn sĩ này đến gần Bồ-tát nói như sau:
-    Bạch Đạo sư, khi mùa mưa đến, xin cho chúng con xuống vùng Tuyết sơn, đi qua đồng bằng để kiếm muối và các thứ gia vị; nhờ vậy, thân thế chúng con sẽ được khỏe mạnh và chúng con sẽ thành tựu cuộc sống tu hành.
Ngài bảo:
-    Được rồi, các bạn cứ đi. Còn ta sẽ ở lại nơi này.
Thế là các vị từ giã ngài, đi xuống từ vùng Tuyết sơn, tiến hành trên lộ trình đến tận Ba-la-nại, tại đó các vị trú ngụ ở trong ngự viên. Dân chúng đón tiếp các vị rất trọng thể và nồng nhiệt.
Lúc bấy giờ, một ngày kia, có đám đông tụ tập trong nhà nghỉ của cung vua tại Ba-la-nại và vấn đề điềm triệu được đưa ra bàn cãi. Lúc ấy, cũng như trước kia, đám đông không thấy ai có đủ khả năng đánh tan mối hoài nghi của mọi người và giải đáp vấn đề điềm triệu; vì thế, họ đi đến ngự viên đặt vấn đề cùng hội chúng hiền nhân kia. Các hiền nhân ấy nói với vua:
-    Tâu Đại vương, chúng thần không thể giải đáp vấn đề này, song bổn sư của chúng thần, ẩn sĩ Rakkhita, một bậc đại tuệ sống ở Tuyết sơn ngài sẽ giải đáp vấn đề ấy, vì ngài thông suốt tư tưởng của chư Thiên và loài người.
Vua đáp:
  -    Này các Hiền giả, Tuyết sơn quá xa xôi và khó đi lắm đấy, chúng ta không thể nào đến đó được. Xin các Hiền giả đích thân đi về gặp đức bổn sư và xin hỏi ngài vấn đề ấy. Sau khi các vị đã biết rồi, hãy trở lại đây nói cho chúng ta biết được chăng?
  Các vị ấy hứa sẽ làm như vậy; và khi các vị đã trở về gặp đức bổn sư, đảnh lễ ngài và sau khi ngài đã vấn an vua cùng các phong tục của dân chúng, các vị kể lại cho ngài toàn thể câu chuyện các điềm triệu như trên từ đầu tới cuối và giải thích việc các vị đến đây theo lời dặn dò của vua như thế nào, để nghe tận tai lời giải đáp vấn đề này. Các vị thưa:
  -   Bạch Tôn sư, giờ đây xin Tôn sư giải thích vấn đề điềm triệu cho chúng con rõ và cho chúng con thấy chân lý. Lúc ấy, vị đệ tử lớn tuổi nhất hỏi bậc Đạo sư bằng cách ngâm vần kệ đầu:
1.            Hiển bày chân lý, giải nghi nan,
              Xin dạy kinh gì của Thánh nhân
              Được học hành theo giờ thuận lợi,
             Đời này, đời kế tạo hồng ân?
Khi vị đệ tử lớn nhất đã đặt vấn đề điềm lành qua các lời kệ này, bậc Đại sĩ muốn xóa tan mọi nỗi nghi ngờ của chư Thiên và loài người, liền đáp lại:
-  Đây và đây chính là điềm lành.
Và như vậy, ngài diễn tả các điềm lành với tài thiện xảo của một vị Phật:
2.            Mọi Phạm thiên, thần thánh hiển linh,
              Rắn rồng ta thấy giữa quần sinh,
              Trong lòng mãi mãi đầy từ mẫn,
              Vị ấy ban ơn mọi hữu tình.
 Như vậy, bậc Đại sĩ đã thuyết giảng Điềm lành thứ nhất, rồi tiếp đến thuyết giảng Điềm lành thứ hai và các Điềm lành khác còn lại:
3.            Kẻ nào khiêm tốn với muôn người,
               Yêu mến nữ nam, mọi gái trai,
               Đứng trước lời bình không đáp lại,
               Sẽ mang hạnh phúc đến cho đời.
4.            Gặp hiểm nguy, người có trí nhanh
               Chẳng khinh đồng nghiệp, bạn đồng hành,
               Chẳng khoe dòng trí, giàu, giai cấp,
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây