Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
Cố lấy lòng nên giả thật tình.
7. Khi kẻ ác tâm ấy ngắm xem
Thức ăn hoặc lợi nhuận kề bên,
Nó hành động ác và đi mất,
Nhưng nó làm nguy bạn trước tiên.
Bảy vần kệ này được vị Kê vương ngâm lên. Rồi vần kệ tiếp theo được vị Pháp vương đọc, đây là những lời phát xuất từ Trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác:
8. Lắm kẻ thù ra vẻ thiết thân,
Ra tay giúp đỡ sẵn sàng luôn,
Như gà rời bỏ diều hâu ấy,
Tốt nhất nên lìa những ác nhân.
Ý nghĩa việc làm diễn biến ra,
Phải chịu bao cừu nhân chế ngự,
Ăn năn hối hận buổi sau mà.
Việc làm mang ý nghĩa nào đây,
Như gà tránh bẫy diều hâu ấy,
Vậy tránh cừu nhân, phải chạy bay.
11. Bầy đó thông thường lại dối gian,
Giết người, giấu kín giữa rừng hoang,
Như gà xa lánh diều hâu ấy,
Người có nhãn quan phải kiếm đàng.
Và một lần nữa, sau khi ngâm các vân kệ này, gà gọi diều hâu lại khiển trách nó và bảo:
-Nếu ngài tiếp tục ở chốn này, ta sẽ biết việc cần phải làm.
Do đó, diều hâu đành bay đến nơi khác.
*
Sau khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Đạo sư bảo:
-Này các Tỷ-kheo; ngày xưa cũng như bây giờ, Đề-bà-đạt-đa đã mưu toan sát hại Ta.
-Vào thời ấy, Đề-bà-đạt-da là diều hâu và Ta chính là Kê vương.
(TIỀN THÂN MAṬṬAKUṆḌALĪ)
Sao giữa rừng này có cậu trai...
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một địa chủ có con trai mới chết.
Tại Xá-vệ, ta được biết thần chết đã cướp mất cậu trai thân yêu của một người địa chủ thường đến cúng dường đức Phật. Quá sầu muộn vì con, người ấy chẳng rửa mặt mày ăn uống gì cả, cũng chẳng đi làm công việc của mình hay đi phụng sự đức Phật mà chỉ kêu khóc:
- Ôi! Con yêu quí! Con đã bỏ ta mà đi trước rồi!
Vào sáng sớm, khi bậc Đạo sư nhìn xuống trần gian, Ngài nhận thấy người này đã chín muồi công hạnh để chứng đắc quả Dự Lưu. Vì vậy, ngày hôm sau, khi đã dẫn các đệ tử đi suốt kinh thành Xá-vệ để khất thực, và thọ đụng bữa cơm xong, Ngài bảo các đệ tử đi nơi khác còn Ngài được Tôn giả Ānanda theo hầu đi đến nơi người này ờ. Bọn gia nhân báo tin cho vị chủ đất biết bậc Đạo sư đã đến, sau đó họ sắp đặt sàng tọa và mời bậc Đạo sư ngồi xuống, rồi dẫn chủ nhà đến yết kiến bậc Đạo sư.
Sau khi người ấy đảnh lễ Ngài xong và ngồi xuống một bên, bậc Đạo sư nói bằng giọng dịu dàng đầy từ mẫn:
- Này cư sĩ có phải ông vẫn đang đau buồn vì đứa con trai duy nhất chăng?
Ông đáp:
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Bậc Đạo sư nói:
-Này cư sĩ, đã lâu, lâu lắm rồi, các người có trí đi lang thang nặng trĩu đau buồn vì cái chết của đứa con trai, đã nghe được lời các bậc hiền nhân và hiểu rõ rằng không gì có thể đem lại người đã mất nên không còn thấy buồn rầu nữa, dù chỉ một chút thôi.
Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của người ấy, bậc Đạo sư kể một chuyện quá khứ.
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì ở Ba-la-nại, cậu con trai của một và Bà-la-môn rất giàu có khoảng mười lăm, mười sáu tuổi lâm bệnh nặng và khi chết được tái sinh vào cõi chư Thiên. Từ lúc con trai chết, người Bà- la-môn thường đi đến nghĩa địa và than khóc, rồi đi quanh đống tro tàn; bỏ các phận sự dở dang, ông cứ lang thang với tâm tư nặng trĩu u sầu.
Một vị Thiên tử, khi đi dạo thấy vậy liền lập mưu để an ủi khổ đau của người kia. Chàng đến nghĩa địa lúc người này đang sầu bi, giả dạng làm chính con trai vị ấy và tô điểm đủ mọi thứ trang sức, chàng đứng một bên, vừa ôm đầu trong hai tay vừa than khóc kêu gào. Vị Bà-la-môn nghe tiếng động và nhìn lên, lòng tràn đầy yêu thương đối với con trai mình, liền dừng lại trước chàng và nói:
- Này con yêu quí, tại sao con đứng khóc giữa nghĩa địa này?
Ông đặt câu hỏi qua vần kệ sau:
1. Sao giữa rừng này có cậu trai,
Tràng hoa, vòng ngọc mỗi bên tai,
Chiên-đàn sực nức, giơ tay nọ,
Sầu khổ gì rơi lệ vắn dài?
Lúc ấy, chàng trai kể chuyện mình bằng cách ngâm vần kệ thứ hai:
2 Vàng ròng đúc chiếu rực hào quang,
Xe ấy con thường vẫn ngã lưng,
Đôi bánh này con tìm chẳng thấy,
Chắc con buồn khổ đến lìa trần!
Vị Bà-la-môn nghe vậy liền ngâm vần kệ thứ ba:
3. Bằng vàng, dát ngọc, loại gì nào,
Bằng bạc, hay đồng, trí nghĩ sao?
Cứ nói ra lời, xe được đóng,
Ta tìm đôi bánh sẽ thêm vào!
Lúc bấy giờ, chính bậc Đạo sư với Trí tuệ tối thắng cùa Ngài, sau khi nghe vần kệ do chàng trai ngâm xong, liền ngâm câu đầu của một vần kệ khác:
4. Nghe nói xong, chàng trẻ đáp lời,
Trong khi chàng ngâm tiếp theo phần còn lại:
Chính nhờ đôi bánh đằng xa ấy,
Xe của con vàng chiếu sáng ngời!
Lập tức vị kia tiếp:
5. Chàng thật ngu vì việc đã làm,
Cầu xin chuyện chẳng có ai ham,
Bởi vì ta chắc chàng nên chết,
Nhật, nguyệt, đòi sao được hỡi chàng?
Thế rồi:
6. Trước mắt, trời, trăng, lặn, mọc dần,
Sắc màu, đường hướng vẫn không ngừng;
Còn ai thấy được hồn người chết,
Vậy kẻ nào ngu lúc khóc than?
Chàng trai nói vậy xong, vị Bà-la-môn tỉnh ngộ, liền ngâm kệ:
7. Giữa ta, hai kẻ khóc than thân,
Chàng thật khôn, ta thật độn đần,
Quả đúng, đòi hồn người đã chết,
Khác nào con trẻ khóc đòi trăng?
Lúc ấy, vị Bà-la-môn được an ủi nhờ lời lẽ của chàng trai kia, liền cám ơn chàng bằng cách ngâm các vần kệ cuối cùng:
8. Lòng ta thiêu đốt nóng bừng,
Như khi người đổ dầu trong lửa đào,
Chàng đà đem nước lạnh vào,
Và chàng dập tắt khát khao, tủi buồn.
9. Vì con, bao nỗi sầu tuôn,
Mũi tên độc cắm trong hồn của ta,
Chàng đà an ủi khuây khỏa
Nỗi niềm bi thiết, nhổ ra tên này.
10. Tên vừa nhổ, khỏi đau ngay,
Giữ tâm thanh thản, ta rày khinh an,
Nghe lời chân thật hỡi chàng,
Ta không còn phải khóc than muộn phiền.
Lúc ấy, chàng trai bảo:
- Này ngài Bà-la-môn, ta chính là người con trai mà ngài đang thương
Với lời khuyến giáo này, chàng trở về cõi của mình. Còn vị Bà-la-môn tuân theo lời khuyên của chàng, nên sau khi làm nhiều công đức bố thí và các thiện sự khác, ông mạng chung và tái sinh vào cõi chư Thiên.
*
Sau khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Đạo sư tuyên thuyết các Sự thật. Bây giờ vào lúc kết thúc các Sự thật, người địa chủ đã được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, Ta chính là vị Thiên tử đã nói lời thuyết giáo này.
(TIỀN THÂN BIḶĀRIKOSIYA)
Khi món ăn không có giữa nồi...
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo nhiệt tâm bố thí.
Chuyện kể rằng sau khi nghe thuyết Pháp, từ lúc hành trì giáo lý, vị này rất nhiệt tâm bố thí, khát khao bố thí. Chưa bao giờ ông ăn chén cơm đầy trừ khi đã chia phần cho kẻ khác, ngay cả nước cũng không uống nếu không đem cho kẻ khác. Ông chuyên tâm bố thí như vậy.
Thời ấy, chúng Tỷ-kheo bắt đầu nói về các đức tính của ông trong Chánh pháp đường. Bậc Đạo sư đi vào hỏi Tăng chúng đang nói chuyện gì khi ngồi tại đây. Các vị ấy trình ngài. Ngài cho gọi vị Tỷ-kheo ấy đến và hỏi:
- Này Tỷ-kheo, có phải đúng như Ta đã nghe là ông nhiệt tâm bố thí, khát khao bố thí chăng?
Ông đáp:
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Bậc Đạo sư bảo:
- Này các Tỷ-kheo, ngày xưa, kẻ này không có tín tâm nên không tin tưởng gì cả, đến như một giọt dầu trên đầu ngọn cỏ cũng không cho ai. Sau đó, Ta điều phục y, giáo hoá, làm cho y thuần thục và dạy cho y kết quả của bố thí, nên hỷ tâm bố thí này không rời y ngay cả khi đã sang một đời khác.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bô-tát sinh vào một gia đình giàu có. Khi đến tuổi khôn lớn, ngài được hưởng tài sản và khi thân phụ mất đi, ngài tiếp nhận địa vị thương nhân của cha ngài.
Một ngày kia, khi xem xét lại sự giàu sang của mình, ngài suy nghĩ: “Tài sản của ta đây dĩ nhiên đầy đủ lắm, song những vị đã tích lũy tài sản