Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
Rồi hươu này ngâm kệ:
13. Chẳng ai chăm sóc lại mù lòa
Đành phải chết luôn cả mẹ cha
Thiện hữu hãy tha năm mạng ấy,
Và xin thiện hữu thả anh ta.
Khi người thợ săn nghe lời thuyết giáo đầy hiếu thảo này, lòng gã vô cùng hoan hỷ, gã đáp:
- Xin chúa công đừng sợ.
Rồi gã ngâm kệ tiếp đáp lời
14. Thôi được, này xem ta thả ra,
Chúa hươu hiếu dưỡng mẹ cùng cha,
Khi nhìn con bảo toàn thân mạng,
Cha mẹ vui mừng sẽ múa ca.
Trong khi nói thế, gã suy nghĩ: “Nay ta còn thiết gì đến đức vua cùng các danh vọng ngài ban cho nữa? Nếu ta làm hại hươu chúa này thì hoặc là mặt đất sẽ há miệng ra nuốt chửng ta, hoặc là Thiên lôi sẽ giáng xuống đánh tan xác ta. Vậy ta quyết thả hươu này thôi.” Vì thế, gã đến gần bậc Đại sĩ, hạ cây sào xuống và cắt sợi dây da. Sau đó, gã ôm lấy hươu chúa vào lòng, đặt hươu xuống gần mặt nước, nhẹ nhàng êm ái tháo gỡ nút dây thòng lọng ra khỏi chân hươu, nối các đầu dây gân lại với nhau, làm kín vết thương trên da thịt cùng các mép da đã bị xây xát, lấy nước rửa sạch máu, rồi cứ thoa bóp hươu khắp mình mẩy một cách đầy thương xót.
Nhờ uy lực của lòng thân ái kia cùng với công hạnh viên mãn của bậc Đại sĩ nên toàn thân ngài bình phục như trước, đủ gân cổ, da, thịt, lông tơ và da non bao phủ cẳng chân, nên không ai đoán biết được chỗ nào hươu đã bị trọng thương cả. Bậc Đại sĩ đứng tại đó và tràn ngập hạnh phúc trong lòng. Citta nhìn ngài vô cùng hoan hỷ nên ngỏ lời cảm tạ người thợ săn qua vần kệ này:
15. Chú thợ, cầu mon phước lộc tràn,
Ước ao hạnh phúc cả thân bằng,
Như ta hạnh phúc khi nhìn ngắm
Đại lộc vương nay được thoát nàn.
Lúc ấy bậc Đại sĩ suy nghĩ: “Phải chăng vì tự ý mà người thợ săn
- Tâu Chúa công, kẻ hèn này không có liên can gì đến Chúa công cả, chính vương hậu Khemā của đức vua ước mong nghe ngài thuyết giảng Chánh pháp, cho nên kẻ hèn này đã đánh bẫy ngài theo lệnh vua truyền.
- Hiền hữu, bạn đã dám cả gan thả ta ra ư? Mau lên, đưa ta vào yết kiến đức vua, rồi ta sẽ thuyết giáo trước mặt hoàng hậu.
- Quả thật, tâu Chúa công, các vua chúa thường ác độc lắm. Làm sao ai biết được chuyện gì sẽ xảy ra? Kẻ hèn này chẳng màng thứ công danh gì mà đức vua có thể ban cho mình đâu. Vậy ngài hãy ra đi nơi nào như ý.
Nhưng bậc Đại sĩ lại suy nghĩ rằng gã thả ngài ra là một việc quá liều lĩnh, nên ngài phải tìm cơ hội cho gã đạt vinh quang danh vọng đã được vua hứa hẹn trước ấy. Vì thế, ngài bảo:
- Này hiền hữu, hãy lấy tay xát mạnh vào lưng ta.
Gã làm y lời, bàn tay gã liền dính đầy lông tơ vàng óng.
- Tâu Chúa công, kẻ hèn này sẽ làm gì với đám lông tơ này đây?
- Này hiền hữu, hãy đem chúng về trình lên đức vua cùng hoàng hậu, tâu các ngài rằng đây là đám lông tơ của Hoàng kim Lộc vương kia, rồi hãy thay mặt ta thuyết giáo cho hai vị ấy nghe các lời kệ mà ta sắp ngâm đây. Khi hoàng hậu nghe lời hiền hữu như thế là cũng đủ làm thỏa mãn niềm khát khao của hoàng hậu rồi.
- Tâu Lộc vương, xin ngài hãy thuyết pháp.
Người thợ săn nói và hươu chúa dạy cho gã mười vần kệ về đời sống Thánh hạnh, trình bày Ngũ giới đức và bảo gã ra đi với lời dặn dò khuyên nhủ gã phải tỉnh giác hộ phòng.
Người thợ săn cư xử với bậc Đại sĩ như cách người ta đồn đãi tôn trọng một bậc thầy vậy. Gã đi diễu quanh ngài ba lần hướng về phía hữu, đảnh lễ bốn lần rất cung kính và gói ghém đám lông tơ vàng ấy trong ngọn lá sen rồi ra đi.
Ba anh em chúa hươu tiễn đưa gã đi một đoạn đường. Sau khi ăn uống xong, ba vị liền trở về với cha mẹ.
Song thân vội hỏi ngài:
- Này con yêu Rohanta, cha mẹ đã nghe con bị bắt, làm sao con trở về được tự do đây?
16. Làm thế nào con được tự do
Khi đời con suýt dứt đường tơ?
Sao người săn nọ cho con thoát,
Chiếc bẫy giăng kia đã phỉnh lừa?
Bồ-tát ngâm ba vần kệ đáp lời:
17. Citta đã giải thoát cho con
Bằng những lời rung động tâm hồn,
Mê mẩn đôi tai, xuyên thấu dạ,
Lời đưa trong sáng thật du dương.
18. Sutanā đã giải thoát cho con
Bằng những lời rung động tâm hồn,
Mê mẩn đôi tai, xuyên thấu dạ,
Lời đưa trong sáng thật du dương.
19. Chú thợ kia đã giải thoát cho con,
Khi nghe lời nói thật mê hồn,
Thấm sâu tâm trí, xuyên vào dạ,
Lời lẽ thanh tao dịu ngọt luôn.
Song thân của ngài bày tỏ lòng cảm ơn bằng một vần kệ:
20. Ta chúc người, gia quyến, vợ con,
Cầu mong các vị phước duyên tròn,
Như ta hạnh phúc khi nhìn ngắm
Nay chúa Lỗ-hân được thoát nàn.
Bấy giờ, người thợ săn ra khỏi rừng đi về yết kiến vua, gã đảnh lễ ngài và đứng chầu một bên. Khi vua trông thấy gã liền bảo:
21. Lạp hộ, mau lên, nói trẫm hay,
Nhà ngươi có phải muốn thưa vầy
“Tâu hoàng thượng, tấm da hươu chúa,
Nay tiểu thần dâng ngự lãm ngay.”
Hoặc giả da hươu ngươi chẳng có
Để dâng, vì cớ sự gì đây?
Thợ săn:
22. Chúa hươu đã đến tận tay rồi,
Vào bẫy nằm sâu kín của tôi.
Thong dong chầu chực một bên ngài.
23. Xót thương thần rợn cả làn da,
Từ mẫn lạ thường mới khởi ra:
“Nếu giết hươu này (thần nghĩ ngợi),
Đời thần ắt cũng hóa ra ma!”
Nhà vua:
24. Lạp hộ, bầy hươu ấy thế nào,
Phong tư, cốt cách chúng ra sao,
Màu lông, đặc tính gì trong chúng
Xứng đáng lời kia tán tụng cao?
Vua cứ hỏi đi hỏi lại câu này mãi như thể một người tràn đầy kinh ngạc. Gã thợ săn đáp lời qua vần kệ:
25. Đôi sừng như bạc, dáng cao sang,
Với bộ lông da sáng rỡ ràng
Chân đỏ, mắt ngời sao chói lọi,
Toàn thân tuyệt mỹ giữa trần gian.
Trong lúc ngâm kệ, gã vừa đem đặt vào lòng bàn tay vua một nắm lông tơ vàng ánh của bậc Đại sĩ và qua một vần kệ khác, gã trình bày sơ lược đặc tính của các hươu này:
26. Phong tư, cốt cách chúng như vầy,
Tâu Chúa công, là đám lộc này,
Chúng vẫn tìm mồi nuôi phụ mẫu,
Thần không đem được chúng về đây.
Qua những lời này, gã miêu tả các đức tính của bậc Đại sĩ, của chú hươu em Citta và cô bé hươu non Sutanā, rồi nói thêm điều này:
- Tâu Đại vương, hươu chúa cho tiểu thần một nắm lông, lại bảo thần thay thế địa vị ngài mà thuyết pháp trước Hoàng hậu qua mười vần kệ về đời sống theo Thánh hạnh.
Trong lúc gã thợ săn vừa ngồi trên bảo tọa bằng vàng, gã thuyết pháp lành qua mười vần kệ này:
(Theo bản kinh Miến-điện, vua đặt gã thợ săn lên chiếc vương tọa được chạm cẩn với bảy loại châu báu; còn chính vua cùng hoàng hậu ngồi trên một bảo tọa thấp hơn, đặt ở một bên, rồi cung kính đảnh lễ, thỉnh cầu
27. Tâu Hoàng thượng, đối với song thân,
Xin thực hành đường lối chánh chân,
Nhờ vậy sống theo đời đức hạnh,
Đại vương sẽ đến cõi Thiên đường.
28. Với đàn thê tử, tấu quân vương,
Xin thực hành đường lối chánh chân
Nhờ vậy sống theo đời đức hạnh,
Đại vương sẽ đến cõi Thiên đường.
29. Đại vương với thân hữu quần thần,
Xin thực hành đường lối chánh chân
Nhờ vậy sống theo đời đức hạnh,
Đại vương sẽ đến cõi Thiên đường.
30. Trong bước lãng du, hoặc chiến trường,
Thực hành đường lối sống thuần lương,
Vì nhờ sống cuộc đời chân chánh,
Thiên giới sẽ về, tấu Đại vương.
31. Trong làng, thị trấn, tấu quân vương
Xin thực hành đường lối chánh chân
Nhờ vậy sống theo đời đức hạnh,
Đại vương sẽ đến cõi Thiên đường.
32. Mọi miền quốc độ, tấu Quân vương,
Xin thực hành đường lối chánh chân
Nhờ vậy sống theo đời đức hạnh,
Đại vương sẽ đến cõi Thiên đường.
33. Với các Sa môn, Bà-la-môn,
Thực hành đường lối sống hiền nhơn,
Vì nhờ sống cuộc đời chân chánh,
Thiên giới sẽ về, tấu Đại vương.
34. Với loài cầm thú, tấu Quân vương,
Xin thực hành đường lối chánh chân,
Nhờ vậy sống theo đời đức hạnh,
Đại vương sẽ đến cõi Thiên đường.
35. Xin thực hành chân chánh, Đại vương,
Nhờ đi theo cuộc đời chân chánh,
Chúa thượng sẽ lên cõi ngọc đường.
36. Hộ phòng tỉnh giác, tấu Quân vương
Tiến bước trên đường lối thiện lương,
Thiên chủ, chư Thiên cùng giáo sĩ,
Từ lâu đã đạt cõi Thiên đường.
37. Ngàn xưa đây chính các phương ngôn,
Đi đúng theo đường lối trí nhân,
Thiên nữ được tràn đầy hạnh phúc,
Tự mình thăng tiến cõi Thiên đường.
Người thợ săn đã thuyết pháp như trên, theo cách bậc Đại sĩ đã giảng bày cho gã với tài năng của một bậc Giác Ngộ, chẳng khác nào người đem từ bầu trời xuống trần thế cả dải Thiên hà kia. Hội chúng gồm đủ ngàn giọng nói đồng reo hò tán than. Lòng khát khao của Hoàng hậu đã được thỏa mãn lúc bà nghe lời thuyết pháp ấy.
Vua đầy hoan hỷ liền ngâm các vần kệ này, khi ngài ban thưởng người thợ săn đại vinh hoa phú quý:
38. Nạm ngọc vòng tai, trẫm muốn ban,
Tặng khanh cùng với sáu cân vàng,
Xinh tươi, bảo tọa như hoa tấm
Với nệm nằm chen cả bốn hàng.
39. Hai vợ cùng giai cấp xứng đôi,
Trâu bò thường đúng một trăm rồi,
Trẫm nguyền sẽ trị dân công chính
Mãi mãi, ân nhân của trẫm ôi!
40. Cho vay, cày ruộng hoặc kinh doanh,
Hễ đó là nghề nghiệp của khanh,
Trẫm thấy khanh không làm việc ác,
Song nhờ đó cấp dưỡng gia đình.
Khi nghe vua nói những lời này, người ấy đáp:
- Tiểu thần không có nhà cửa hay gia đình gì nữa, xin Chúa thượng cho phép tiểu nhân được làm ẩn sĩ khổ hạnh.
Sau khi được vua chấp thuận, người ấy đem mọi vật vua ban thưởng
Còn vua vẫn tuân hành lời giáo huấn của bậc Đại sĩ, nên về sau lên cộng trú với hội chúng chư Thiên Dục giới. Lời giáo huấn ấy tồn tại cả ngàn năm sau nữa.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo sư bảo:
- Như vậy, này các Tỷ- kheo, xưa kia cũng như bây giờ, Ānanda hy sinh tính mạng vì Ta.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Lúc bấy giờ Channa (Xa nặc) là người thợ săn, Sāriputta (Xá-lợi-phất) là vua, một Tỷ-kheo-ni là hoàng hậu Khemā, hai người trong hoàng tộc là mẹ cha của chúa hươu, Uppalavaṇṇā (Liên Hoa Sắc) là Sutanā, Ānanda là Citta, dòng họ Sākya (Thích-ca) này là đàn hươu tám mươi ngàn con và Ta chính là Lộc vương Rohanta.