Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 97: Chương Mười Tám- Phẩm Năm Mươi Bài Kệ - Phần 1 (trang 679-685)

                                                CHƯƠNG MƯỜI TÁM
                                           PHẨM NĂM MƯƠI BÀI KỆ

                                526. CHUYỆN CÔNG CHÚA NAḶINIKĀ

                                                  (TIỀN THÂN NAḶINIKĀ)
Nhìn kia, mặt đất cháy khô cằn....
Câu chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc một Tỷ-kheo bị người vợ của thời kỳ phóng dật cũ cám dỗ.
Khi kể chuyện này, Ngài hỏi vị Tỷ-kheo vì ai ông đã lạc đường. Ông đáp:
-Vì người vợ cũ.
Bậc Đại sư bảo:
- Quả vậy, này Tỷ-kheo, nữ nhân ấy đã làm hại ông. Ngày xưa, chính vì nàng ấy mà ông đã sa đọa mất hết thiền lực và bị sụp dổ hoàn toàn.
Nói xong, Ngài kể câu chuyện quá khứ.
                                                           *
   Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát tái sinh vào một gia đình Bà-la-môn giàu có ở phương bắc. Khi ngài khôn lớn và đã được huấn luyện đủ môn học thuật, ngài xuất gia làm ẩn sĩ. Sau khi đạt được thần lực nhờ tu tập thiền định, ngài vào trú ẩn tại Tuyết sơn.
   Giống như câu chuyện được kể trong Tiền thân Alambusā (số 523), một con nai cái đã thụ thai ngài và hạ sinh một nam tử được đặt tên là Isisiṅga. Khi cậu bé lớn khôn, cha cậu truyền giới cho cậu và dạy cậu đủ mọi pháp môn dẫn đến thiền định.
    Nhờ pháp môn này, chẳng bao lâu chàng đạt được thần lực và hưởng thú cực lạc trong miền Tuyết sơn; rồi nhờ pháp khổ hạnh, chàng trở thành một bậc hiền trí chuyên tu khổ hạnh, đến độ cung của Sakka( Đế-thích) Thiên chủ bị rúng động vì đức độ của chàng.
   Thiên chủ suy xét, tìm ra nguyên nhân liền suy nghĩ: “Ta phải tìm cách phá tan công hạnh vị này.” Trong khoảng ba năm liền, trời ngưng đổ mưa xuống quốc độ Kāsi, xứ sở này thành khô cằn nứt nẻ, không một vụ mùa nào có kết quả cả. Dân chúng bị nạn đói bức bách liền tụ tập trước sân chầu và oán trách vua.
   Đứng trước cửa sổ mở rộng, vua hỏi họ có việc gì. Dân chúng tâu:
  -T âu Thánh thượng, trong ba năm liền, mưa trên trời không rơi xuống, cả nước bị khô cháy, dân chúng vô cùng khổ sở, xin Thánh thượng hãy cầu trời mưa.
 Vua thề nguyện giữ đức độ, hành trì ngày trai giới, nhưng vẫn không có mưa xuống.
  Rồi chính vào lúc nửa đêm, Thiên chủ Đế-thích giáng hạ tại hoàng cung, vừa chiếu sáng lòa khắp vùng vừa đứng trên không. Vua thấy ngài liền hỏi:
-  Ngài là ai?
Ngài đáp:
- Ta là Đế-thích Thiên chủ.
- Tại sao ngài giáng thế?
- Này Đại vương, mưa có rơi trên quốc độ của ngài chăng?
- Không có mưa rơi.
- Thế ngài có biết tại sao chăng?
-Trẫm không biết.
- Trên vùng Tuyết sơn, này Đại vương, có một ẩn sĩ tên là Isisiṅga. Vị này hành trì khổ hạnh hết sức khắc nghiệt, khi trời sắp mưa, ông giận dữ nhìn lên trời khiến mưa ngưng lại.
-Vậy phải làm sao đây?
-Nếu công hạnh vị này sụp đổ thì mưa sẽ rơi xuống.
-Nhưng ai có thể chiến thắng đức độ của vị ấy?
-Này Đại vương, công chúa Naḷinikā của ngài có thể làm được việc này. Xin hãy triệu nàng đến đây và bảo nàng đến nơi đó phá tan công hạnh của vị ẩn sĩ kia.
   Sau khi khuyên bảo vua như thế xong, Đế-thích Thiên chủ trở về cõi của ngài. Ngày hôm sau, vua hội ý với quần thần và triệu công chúa đến bảo nàng qua vần kệ đầu:

1.     Nhìn kìa, mặt đất cháy khô cằn,
       Quốc độ chìm trong cảnh lụi tàn,
       Con hỡi, Naḷinikā, đi đến đó,
       Khiến La-môn nọ phải quy hàng.
Nghe lời này, nàng đáp lại vần kệ thứ hai:
2.     Làm sao con chịu được gian nan,
        Khi giữa bầy voi, lạc bước đàng
       Trong chốn rừng xanh xa vắng ấy,
       Làm sao cất bước được bình an?
Vua cha lại ngâm hai vần kệ:
3.     Con hỡi, đi về mỹ lạc cung,
        Rồi từ đấy phải vội rời chân
        Lên xe gỗ được trang hoàng khéo,
       Ngự giá công nương tiến thẳng đường.
4.     Chiến mã, tượng cùng với bộ binh
        Chỉnh tề hàng ngũ hãy bao quanh,
        Với mê hồn sắc, con cần kíp
       Khiến đạo nhân kia quy lụy mình.
  Như vậy, vì muốn bảo vệ quốc độ, vua đã nói với công chúa những việc không nên nói bằng lời như trên. Còn nàng sẵn sàng tuân theo lệnh cha. Thế là sau khi cung cấp cho nàng đủ mọi thứ cần thiết, bảo nàng lên đường cùng đám cận thần kia.
   Họ đi đến gần biên giới và sau khi đóng trại ở đó, họ truyền đưa công chúa đi theo con đường do các sơn nhân chỉ dẫn. Rạng ngày hôm sau, họ vào đến vùng Tuyết sơn, tiến sát vùng ẩn am ấy. Ngay lúc bấy giờ, Bồ-tát để con trai ở lại thảo am, còn ngài đã vào rừng hái quả dại. Các sơn nhân đến gần vùng thảo am, đứng ở nơi có thể nhìn thấy rõ, vừa chỉ lều cho Naḷinikā vừa ngâm kệ:
5.      Nổi bật với hàng chuối lá xanh
          Giữa bhurja khóm lắm cây cành,
          Nhìn xem, lều của Isisiṅga đấy,
          Xinh đẹp hiện ra một mái tranh.
6.        Chắc rằng lắm khói ở đằng kia
           Phát xuất từ trong lửa tỏa ra,
                Được ấp ủ nhờ tay bậc trí,
                Nổi danh thần lực thật cao xa.
   Đúng lúc Bồ-tát đã đi vào rừng, đám cận thần của vua đã vào bao vây vùng ẩn cư ấy và canh chừng kỹ. Họ cho công chúa giả dạng một ẩn sĩ khổ hạnh, khoác lên mình nàng đủ y trong y ngoài bằng vỏ cây đẹp có tô điểm mọi thứ trang sức, rồi bảo nàng cầm một quả cầu được vẽ màu, buộc vào một sợi dây và đưa nàng vào vùng am tranh kia, còn chính họ đứng canh bên ngoài. Thế là vừa chơi quả cầu, nàng vừa tiến vào am thất ấy.
   Lúc bấy giờ, Isisiṅga đang ngồi trên trường ký đặt tại cửa lều, thoạt trông thấy nàng tiến đến, chàng kinh hoàng đứng dậy chạy trốn vào trong. Nàng cứ tiến gần cửa lều và tiếp tục chơi quả cầu.
  Bậc Đại sĩ ngâm ba vần kệ để làm sáng tỏ việc này:
7.        Tô điểm bảo châu, tiến lại gần,
           Một nàng kiều nữ sáng huy hoàng,
           Isisiṅga tội nghiệp liền kinh hoảng
           Vội bước vào am, chốn ẩn thân.
8.       Lúc đứng trước thềm của đạo nhân,
          Công nương đùa với quả cầu tròn,
         Thân hình diễm lệ nàng phô diễn
          Lồ lộ hiện ra trước mắt chàng.
9.      Chàng thấy nàng đùa thế thật hay,
         Từ trong, chàng vội phóng ra ngay,
         Vụt nhanh từ túp lều tranh ấy,
         Chàng thốt ra lời lẽ thế này:
 10.    “Quả cây gì đó, dám thưa ngài,
          Dù có tung xa tít tận trời,
         Cũng sẽ quay về ngài như vậy,
        Chẳng bao giờ quả bặt tăm hơi?”
Nàng đáp vần kệ này, tả cho chàng biết về cây kia:
11.     Đinh hương sơn nọ, chính quê nhà,
         Vốn tự hào khoe chốn tệ gia
        Có thật nhiều cây sinh quả ấy,
         Dù tung cao vút tận trời xa
        Vẫn còn trở lại tay lần nữa,
                       Chẳng có bao giờ lạc mất ta.
    Nàng nói dối như vậy, nhưng chàng tin nàng ngay, và cứ tưởng đấy là một vị tu khổ hạnh nên chàng ân cần chào đón nàng và ngâm vần kệ này:
12.                Xin vào an tọa, hỡi hiền nhân,
                    Nhận thức ăn và nước rửa chân,
                   An nghỉ đây, cùng nhau thọ dụng
                   Chùm dâu, khoai ấy sẵn lòng dâng.
    Chàng trai trẻ thanh tân này chưa từng thấy nữ nhân bao giờ cả, nên chàng bị nên chàng bị lung lay liền tin ngay câu chuyện lạ thường nàng vừa kể cho chàng nghe; rồi công hạnh của chàng bị đánh bại vì các trò quyến rũ của nàng và thiền lực của chàng tiêu tan cả. Sau khi chơi đùa với nàng đến độ mệt mỏi, cuối cùng chàng đứng dậy bước xuống hồ tắm rửa; và khi đã hết cơn mệt chàng trở về ngồi trong lều, vẫn còn tưởng nàng là một ẩn sĩ, một lần nữa chàng hỏi nàng ở nơi đâu và ngâm kệ này:
13.         Ngài đã đến đây bởi lối nào,
              Hẳn ngài thích ở núi ngàn cao?
             Đói lòng ăn trái sim, khoai sắn,
             Song thú săn mồi tránh được sao?
Tiếp theo, Naḷinikā đáp bốn vần kệ:
14.       Hướng bắc vùng đây, suối Thái Hòa
            Chảy xuôi từ dãy Tuyết sơn ra,
            Trên bờ, thắng cảnh ôi kỳ thú,
             Nhìn thấy ẩn am ấy của ta.
15.        Đây xoài, tilak với sāla,
           Nở rộ hoa kèn với quế hoa,
            Khúc hát yêu tinh văng vẳng lại,
            Thưa ngài nơi ấy thấy nhà ta.
16.        Ta đoán chà là, củ sắn khoai,
             Nhìn đây đủ loại trái cây tươi,
            Một nơi vui, đẹp và thơm ngát,
           Đã lọt phần ta chiếm hết rồi.
17.      Mọi thứ mơ, dâu, đậu mọc tràn,
            Ngọt ngào, tươi đẹp ngát hương lan,
            Song ta sợ lũ cường gian đến
          Sẽ phá nhà ta, chốn lạc an.
Chàng ẩn sĩ nghe nói vậy, muốn cầm chân nàng lại cho tới khi thân phụ chàng về, liền ngâm kệ này:
18.     Thân phụ đi tìm quả thật xa,
          Mặt trời khuất bóng, sẽ về nhà,
          Khi người trở lại từ rừng ấy,
          Ta sẽ cùng đi viếng đại gia.
 Lúc ấy, nàng suy nghĩ: “Chàng trai này sinh trưởng trong rừng nên không biết ta là nữ nhân, chứ cha chàng sẽ biết ngay điều đó khi vừa thấy ta và sẽ hỏi ta có việc gì mà đến đây, ngài sẽ đánh vỡ đầu ta với cái đòn gánh của ngài. Thôi, chắc ta phải chạy trốn trước khi ngài trở về vì mục đích ta đến đây đã hoàn thành.” Rồi dặn chàng cách tìm đường đi đến nhà nàng, nàng ngâm thêm một vần kệ nữa:
19.    Ôi! Ta ngại chẳng ở lâu hơn,
       Song tại nơi này, lắm Thánh nhơn,
       Xin hỏi một ngài đưa đúng lối,
        Hân hoan ngài hướng dẫn lên đường.
  Khi nàng nghĩ ra một kế để thoát thân như vậy, nàng liền rời vùng thảo am và bảo chàng cứ ở lại nơi này, trong lúc chàng khao khát nhìn theo. Nàng trở về gặp các triều thần theo đúng con đường nàng đã đến trước kia, rồi họ đưa nàng về trại và vượt qua nhiều trạm đường, họ đã đến thành Ba-la-nại.
  Ngay hôm ấy, Đế-thích Thiên chủ đẹp ý đến dộ ngài làm mưa rơi xuống trên khắp quốc độ này.
  Nhưng cũng ngay khi nàng từ giã ẩn sĩ Isisiṅga, chàng bỗng dưng nổi cơn nóng sốt khắp toàn thân và chàng run rẩy bước vào trong lều đắp thêm y ngoài bằng vỏ cây, rồi nằm xuống rên rỉ.
  Buổi chiều thân phụ chàng về, không thấy chàng, liền tự hỏi: “Con ta đi đâu rồi?” Ngài vội đặt đòn gánh, bước vào trong am và khi thấy chàng nằm đó liền hỏi:
- Này con thân, con đau gì vậy?
Và vừa xoa bóp lưng con, ngài vừa ngâm các vần kệ:
20.   Bổ củi không, nước chẳng gánh về,
        Lửa không đốt sáng, nói ta nghe,
        Này con sao trẻ người non dạ,
        Mơ mộng suốt ngày mãi thế kia?
21.    Củi rừng vẫn chẻ tự xưa nay,
         Lửa đốt, đem nồi nấu đặt ngay,
        Sắp sẵn tọa sàng rồi lấy nước,
        Con làm bổn phận thật vui vầy.
22.   Nay củi không, mà nước cũng không,
      Lửa công, thức nấu kiếm hoài công,
      Sao con chẳng đón mừng cha nữa,
     Con mất gì, sao phải nhọc lòng?
Nghe cha hỏi, chàng liền ngâm các vần kệ giải đáp việc này:
23.   Cha hỡi, hôm nay một thiếu niên,
        Xinh trai, sang trọng, dáng ưa nhìn,
        Chàng không thấp quá, không cao quá,
         Làn tóc đen sao tựa hạt huyền!
24.    Chàng trẻ không râu, má mịn màng,
        Sáng ngời trên cổ, ngọc trang hoàng,
       Đôi gò bồng đào phô kiều diễm,
      Sáng tựa kim cầu rực ánh quang.
25.  Mặt chàng tuyệt đẹp, mỗi bên tai
      Có một vành khuyên lủng lẳng cài,
       Chiếc mạng trên đầu chàng tỏa sáng
       Hào quang, khi chuyển nhẹ đôi hài.
26. Chàng trẻ còn mang đủ bội hoàn
       Đỏ, xanh trên áo, tóc tai chàng,
      Chàng đi mỗi bước đều rung nhạc,
     Ríu rít như chim gặp nước tràn.
27. Chẳng áo vỏ cây, dáng đạo nhân,
      Chẳng dây đai cỏ, thắt vào thân,
      Lung linh xiêm áo ôm đùi sát,
       Như chớp sáng lòe giữa khoảng không.
28. Quả cây gì buộc cạnh sườn ai,
      Mềm mại, không nhành, chẳng có gai,
     Bên áo kết vào, buông lủng lẳng,
      Chạm vào nhau lách tách rung hoài.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây