Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 57: Chương Mười Bốn- Tạp Phẩm - Phần 15 (trang 396-400)

“Vinh dự này dành cho ngôi Pháp bảo; nó không thích hợp với ta, mà nó chỉ thích hợp duy nhất với bậc Vô thượng        Chánh đẳng Chánh giác, đấng Pháp vương.” Và Tôn giả dâng nó lên đấng Thập lực. Bậc Đạo sư thấy không còn ai trên Ngài nữa, nên thọ hưởng thực phẩm và nhận số vải vóc để làm ba y.
      Sau đó, Tăng chúng bàn luận việc này trong Chánh pháp đường:
      -   Này các hiền giả Tỷ- kheo, thế là vị điền chủ kia muốn tỏ lòng cung kính, trọng vọng đối với Chánh pháp nên cúng dường Tôn giả Ānanda là vị Thủ Kho Chánh pháp. Tôn giả này nghĩ mình chưa xứng đáng với lễ vật ấy nên trao lại vị Tướng quân Chánh pháp. Tôn giả này cũng nghĩ mình không xứng đáng nên dâng lên đức Như Lai. Còn đức Như Lai, thấy không còn ai trên Ngài, biết rằng Ngài xứng đáng với lễ vật  ấy với vị trí đấng Pháp vương, nên Ngài đã thọ hưởng thực phẩm và nhận số vải để làm ba y kia, Như vậy, thực phẩm cúng dường đã tìm được chủ nhân nhờ đi đến đúng nguời có quyền thọ hưởng.
      Bậc Đạo sư bước vào hỏi Tăng chúng đang bàn luận gì khi ngồi ở đây. Các vị trình với Ngài. Ngài bảo:
      -   Này các Tỷ- kheo, đây không phải là lần đầu tiên thực phẩm cúng dường đến đúng vào phần của người xứng đáng bằng những cấp bậc tiến lên tuần tự, mà ngày xưa, trước thời đức Phật cũng thế.
     Cùng với những lời này, Ngài kể một chuyện quá khứ.
                                                               *
 
     Một thời, vua Brahmadatta trị vì rất chân thánh tại Ba-la-nại, sau khi đã đoạn trừ các ác nghiệp và hành trì Thập vương pháp. Vì thế, tòa án xử kiện của vua trở nên trống rỗng, vua muốn tìm kiếm cho ra lỗi lầm của mình, cứ hỏi han mọi người, bắt đầu với những người ở chung quanh ngài, nhưng không nơi nào, dù trong các hậu cung, trong kinh thành hay các thôn làng lân cận, ngài tìm được người nói một lỗi gì cho ngài cả. Sau đó, ngài quyết định đi thăm dò dân chúng vùng quê. Vì thế, sau khi giao quyền trị nước cho các triều thần, ngài đem vị Tế sư đi theo ngài. Hai vị cải trang du hành xuyên qua quốc độ Kāsi. Tuy thế, ngài cũng không thấy ai nói về ngài vì một lỗi gì cả.
     Cuối cùng, ngài đến một làng ở biên địa, ngồi ở một sảnh đường
không có cổng vào. Thời đó, một vị điền chủ của làng ấy là một phú ông giàu có đến tám trăm triệu đồng tiền, đi cùng một đám tùy tùng đông đảo đến một bến tắm, thấy vua ngồi trong sảnh đường kia với thân tướng cao sang và sắc đa vàng óng.Ông sinh lòng yêu mến ngài, liền đi vào sảnh đường và bảo:
   -   Hãy ngồi đây một lát.
   Sau đó ông về nhà, bảo soạn sẵn đủ loại thực phẩm thượng vị, rồi trở lại với đám tùy tùng đông đảo mang theo các bình bát đựng thức ăn.
   Cùng lúc ấy, một vị tu khổ hạnh từ vùng Tuyết sơn đi xuống cũng ngồi xuống đó, vị này đã chứng được năm Thắng trí. Và một vị Độc Giác Phật, cũng từ hang núi Nanda hạ sơn đến ngồi đó. Vị điền chủ kia đưa nước cho vua rửa tay rồi dọn một đĩa thức ăn thượng hạng đủ loại gia vị thơm ngon và đặt trước mặt vua. Ngài nhận và trao cho vị Tế sư Bà-la-môn,vị Tế sư cầm lên trao cho nhà tu khổ hạnh. Nhà tu khổ hạnh bước đến gần vị Độc Giác Phật, tay trái cầm bình đựng thức ăn, tay phải cầm bình nước, trước tiên rót nước cúng dường (như chuyện trước), rồi đặt thức ăn vào bát vị này. Vị ấy liền ăn ngay, không mời ai cùng chia phần với mình hay xin phép gì cả.
    Khi bữa xong, vị điền chủ suy nghĩ: “Ta dâng thức ăn lên đức vua, ngài trao cho vị Tế sư, vị Tế sư trao cho vị tu hạnh, vị tu khổ hạnh lại trao cho vị Độc Giác Phật, và vị Độc Giác Phật đã thọ thực ngay mà không xin phép ai nữa. Việc cúng dường này có ý nghĩa gì chăng? Tại sao vị cuối cùng thọ thực và không cần xin phép ai hay nhờ ai cho phép? Ta sẽ hỏi lần lượt các vị này.”
    Rồi vị ấy lần lượt đến gần mỗi người, đảnh lễ xong liền nói câu ấy và được các vị trả lời:
    Phú ông hỏi:
1.             Ta trông ngài xứng đáng ngôi cao,
                Ngài đến từ cung điện xứ nào,
                Sa mạc vùng này hoang vắng quá,
                Dáng hình ngài quá thật thanh tao?
2.             Vì mến thương ngài, ta đã dâng
                Cao lương khéo chọn lựa vừa ăn,
                Món cơm kia được tài người khéo
                Nấu đổ lên trên món thịt hầm.
3.                 Thực phẩm ngài cầm lại chẳng ăn,
                    Ngài đem tặng vị Bà-la-môn
                    Lòng đầy cung kính, nay xin hỏi
                    Việc mới làm mang ý nghĩa chăng?
Đức vua đáp:
4.                 Sư trưởng ta đây thật nhiệt thành,
                    Việc dù lớn nhỏ vẫn thi hành,
                    Nên ta phải tặng phần cơm cúng,
                    Xứng đáng Quốc sư, quả thật tình.
Phú ông hỏi:
5.                 Dù vua cũng trọng Bà-la-môn
                    Xin nói, sao ngài lại chẳng ăn
                    Một đĩa cao lương tài nấu khéo,
                    Người đổ đầy trên món thịt ngon?
6.                 Ngài chẳng hiểu thong nghĩa cúng dường,
                    Song ngài đem tặng vị hiền nhân,
                    Với lòng kính trọng, nay xin hỏi,
                   Việc ấy ngài làm có nghĩa chăng?
Tế sư đáp:
7.                Ta có gia đình với vợ con,
                   Ta thường cư trú tại gia môn,
                   Dục tham vua chúa, ta điều phục,
                   Tham dục riêng ta vẫn đắm hồn.
8.                Với người khổ hạnh bậc hiền nhân,
                   Xưa ở trong rừng vẫn trú thân,
                   Già cả, thực hành theo giáo lý,
                  Nên ta cầm thực phẩm đem dâng
Phú ông hỏi:
9.                Nay ta xin hỏi bậc hiền nhân,
                   Ở dưới da ngài lộ rõ gân,
                   Vói móng mọc dài, đầu tóc rối,
                  Cái đầu dơ bẩn lẫn hàm răng.
10.             Ngài chẳng màng đời sống thế gian,
                  Hỡi người đơn độc trú rừng hoang,
                    Tôn sư nay có gì ưu thắng,
                    Mà phải đem lương thực cúng dâng?
Vị khổ hạnh đáp:
11.               Ta đào củ cải, tỏi, hành hoang
                    Cỏ, lá, bạc hà, vẫn kiếm luôn,
                    Nhặt hạt cải đen, rung lúa dại,
                   Trải ra phơi nắng thật khô giòn.
12.               Ngó sen, dược thảo, táo, chà là,
                    Am-lạc, mật ong, miếng thịt thừa,
                    Là của ta dành phần kiếm được,
                    Rồi làm thành món hợp cho ta.
13.                Ngài không, lão nấu, lão nhiều hàng,
                     Ngài chẳng có chi, lão buộc rang,
                    Thế sự bao điều, ngài giải thoát,
                     Món cơm ngài hưởng đúng công bằng.
Phú ông hỏi:
14.               Xin hỏi, ngồi kia bậc Trí hiền
                     Mọi nguồn dục vọng thảy nằm yên,
                     Món cơm nấu khéo đầy ngon ngọt,
                     Có kẻ đem phần thịt đổ lên.
15.                Ngài nhận và ngon miệng uống ăn,
                     Chẳng mời ai đến để chia phần,
                     Đầy lòng kính trọng, nay xin hỏi:
                     Việc ấy ngài làm có nghĩa chăng?
Độc Giác Phật đáp:
16.                Không nấu, cũng không bảo nấu giùm,
                     Nay không làm hại, trước không làm,
                     Vị kia biết rõ ta không của,
                     Ta quyết đoạn trừ mọi dục tham.
17.                Tay phải vị kia nắm chiếc bình,
                     Thức ăn cầm phía trái bên mình,
                     Cho ta món thịt hầm người đặt,
                      Trên bát cơm ngon thật tốt lành.
18.                Chúng nhiều tài sản, lắm kim ngân,
                 Bổn phận là đem của phát phân,
                  Ai bảo người cho cùng thọ hưởng,
                 Ấy là thù địch, chớ phân vân.
  Khi nghe những lời này, vị điền chủ vô cùng hoan hỷ ngâm hai vần kệ cuối cùng:
  19.          Thật là ta được một duyên may
                 Hạnh ngộ quân vương ngự tới rày
                Thưở trước ta không hề biết rõ,
                Cúng dường mang phước quả tràn đầy.
20.            Đế vương với các Bà-la-môn,
                 Trị nước mà tâm ác dục tràn,
                 Các trí nhân tìm cây quả dại,
                 Bậc tu hành giải thoát lòng tham.
  Khi vị Độc Giác Phật thuyết giáo cho vị kia xong, liền trở về cõi của Ngài và vị tu khổ hạnh cũng thế. Còn nhà vua, sau vài ngày ở lại với vị điền chủ, cũng trở về Ba-la-nại.
                                                         *
  Khi bậc Đạo sư đã chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
  -    Này các Tỷ- kheo, đây không phải là lần đầu tiên thực phẩm đến tay người xứng đáng, mà trước kia cũng vậy.
  Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
  -   Vào thời ấy, người điền chủ đã tôn trọng cúng dường Pháp là người điền chủ trong chuyện này, Ānand (A-nan) là vua, Sāriputta( Xá-lợi-phất) là Tế sư và Ta chính là vị tu khổ hạnh trên vùng Tuyết sơn.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây