Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
Làm ta sợ hãi, tấu Thiên hoàng?
Lúc ấy, Thiên chủ Đế- thích đáp lời ngài:
9. Đời ngài chưa hết, chẳng lâm chung,
Ngài chẳng cuồng si, hỡi Đại nhân,
Song thiện nghiệp ngài nay đã tận,
Giờ công đức trước hưởng xong phần.
10. Song cứ ở đây, hỡi Đại vương,
Bởi quyền tối thượng của ta ban,
Hưởng đi thiên lạc, cùng Thiên chúng
Tam thập tam Thiên giới trú an.
Tuy nhiên, bậc Đạo sư chối từ và đáp lại lời Thiên chủ:
11. Như lúc Thiên xa đã giáng trần,
Hoặc khi phước lộc được dành phần,
Chính là thọ hưởng niềm Thiên lạc
Do bởi bàn tay khác thưởng ân.
12. Ta chẳng cầu mong nhận phước phần
Do bàn tay kẻ khác thi ân,
Chính nhờ thiện nghiệp phần ta tạo,
Thiện sự riêng ta đứng vững chân.
13. Ta sẽ ra đi tạo việc lành
Phát ban cả nước, khắp quần sinh,
Tuân theo giới hạnh và tu tập,
Điều phục thân tâm, quyết thực hành,
Người biết làm vầy là hạnh phúc,
Chẳng ăn năn hối tiếc phần mình.
Nghe thế, Đế- thích Thiên chủ liền ra lệnh cho Mātali:
- Này hiền khanh, hãy đi đưa vua Sādhīna về lại Mithilā và đặt đức vua xuống vườn ngự uyển.
Vị Thiên thần tuân lệnh.
Đức vua đến nơi, bước đi thơ thẩn trong vườn ngự; người giữ vườn trông thấy ngài và sau khi hỏi ngài là ai, liền mang tin ấy về tâu trình với đương kim hoàng đế Nārada. Khi vua này biết tin tiên đế trở về trần, liền ra lệnh cho người giữ vườn:
Người ấy tuân lệnh. Sau đó đức vua Sādhīna hỏi:
- Ngươi soạn hai chiếc ngai vàng cho ai đây?
- Muôn tâu, một chiếc dành cho Hoàng thượng và một chiếc dành cho đức vua của chúng thần.
Lúc ấy, Đại đế Sādhīna bảo:
- Còn ai khác dám ngồi trước mặt ta chứ?
Rồi ngài ngự lên một chiếc ngai và đặt hai chân lên chiếc kia. Vua Nārada đến gần, sau khi đảnh lễ dưới chân ngài, liền ngồi xuống một bên. Bấy giờ, theo truyền thuyết, vua này là vị vua thứ bảy trong dòng dõi chính thống của ngài, và thời ấy, tuổi thọ của con người chỉ là một trăm năm. Còn bậc Đại sĩ đã trường thọ như thế là do thiện nghiệp của ngài. Ngài cầm lấy tay vua Nārada dạo bước quanh vườn ngự và ngâm ba vần kệ này:
14. Lãnh thổ là đây, tổ quốc ta,
Máng tròn dẫn nước suối băng qua,
Cỏ xanh bao phủ đầy nơi chốn,
Khe nhỏ, lạch ngòi vẫn chảy ra.
15. Các hồ diễm lệ lắng nghe vang,
Khi đám hồng nga réo gọi đàn,
Bao đóa sen xanh chen lẫn trắng,
Cây hình đá biến mọc lan tràn,
Song người yêu cảnh cùng ta trước,
Nay ở đâu, lòng ta muốn hỏi han?
16. Đây là điền thổ ruộng cùng nương,
Đồng lúa lạc viên, chính cố hương,
Song chẳng thấy đâu người quyến thuộc,
Tưởng chừng sa mạc qua thê lương!
Nghe vậy vua Nārada đáp:
- Tâu Hoàng tổ phụ, từ khi tổ phụ thăng Thiên giới đến nay đã bảy trăm năm trôi qua, giờ đây hoàng tôn là cháu bảy đời của tổ phụ, các vị quan cận thần của tổ phụ đều đã hóa ra người thiên cổ. Nhưng đây chính là vương quốc của tổ phụ, hoàng tôn xin tổ phụ nhận lại đất nước.
Đức vua đáp:
Rồi ngài ngâm kệ như sau:
17. Ta đã nhìn cung điện cõi trời
Huy hoàng chiếu sáng khắp muôn nơi,
Chư Thiên ở cõi trời Đao Lợi,
Thiên chủ cùng ta diện kiến rồi.
18. Ta hưởng bao hoan lạc tuyệt trần,
Ngôi nhà Thiên giới để riêng phần,
Tràn đầy tất cả điều tâm nguyện
Tam thập tam thiên của Ngọc Hoàng.
19. Ta ngắm xong và đã tái hồi
Để thi hành thiện sự mà thôi,
Vì ta sẽ sống đời thanh tịnh,
Ta chẳng màng gì đến chiếc ngôi.
20. Đạo này không dẫn đến đau buồn,
Chánh Đạo mà chư Phật chỉ đường,
Đường đó giờ đây ta tiến bước
Là đường bậc Thánh vẫn theo luôn.
Bậc Đạo sĩ đã nói như vậy với Trí tuệ tối thắng của ngài và làm cô đọng tất cả ý nghĩ qua các vần kệ trên. Sau đó, vua Nārada một lần nữa lại thưa với ngài:
- Xin Hoàng tổ phụ nhận lấy quyền cai trị vương quốc.
Và ngài đáp:
- Này Hoàng tôn yêu quý, ta không thiết gì vương vị đâu, song ta lại muốn phân phát trong vòng bảy ngày tất cả tài vật cần được bố thí trong bảy năm qua.
Vua Nārada lãnh ý, và làm như ngài yêu cầu, truyền chuẩn bị vô số của cải để phân phát rộng rãi. Đức tiên đế bố thí trong bảy ngày xong xuôi, vào ngày thứ bảy ngài băng hà và tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba.
*
Khi bậc Đạo sư chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
- Việc hành trì hạnh nguyện ngày trai giới là bổn phận cần phải giữ gìn.
- Vào thời ấy, Ānanda là vua Nārada, Anuruddha (A-na-luật) là Sakka (Đế- thích) Thiên chủ và Ta chính là vua Sādhīna.
(TIỀN THÂN DASABRĀHMAṆA)
Đại Đế Yuddhi thật chánh chân…
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một lễ vật cúng dường tối thượng.
(Chuyện này đã được giải thích trong số 424, Tiền thân Āditta của chương VIII). Ta biết rằng, nhà vua trong lúc thực hiện việc cúng dường này đã quan sát kỹ lưỡng năm trăm vị Tỷ- kheo với đức Phật là vị thượng thủ, và đã dâng lễ vật lên các bậc Thánh cao trọng nhất trong Tăng chúng.
Sau đó, Tăng chúng ngồi trong Chánh pháp đường và nói về công đức của vua ấy như sau:
- Này Hiền hữu Tỷ- kheo, vị vua này trong lúc dâng lễ vật tối thượng đã cúng dường các vị đủ đạo cao đức trọng.
Bậc Đạo sư bước vào và hỏi các vị bàn luận gì trong lúc ngồi tại đây, các vị trình với Ngài, Ngài bảo:
- Này các Tỷ- kheo, thật không kỳ diệu gì ngày nay vua Kosala đã là đệ tử của một Đạo sư như Ta, lại cúng dường có phân biệt rõ ràng.Ngay các bậc hiền trí xưa kia, trước khi đức Phật xuất hiện ở đời, cũng đã cúng dường có phân biệt.
Cùng với những lời này, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, trong quốc vương Kuru và kinh thành Indapatta, có vua Koravya cai trị, thuộc dòng dõi Yudhiṭṭhila. Còn quốc sư về thế sự cũng như thánh sự của vua là vị đại thần mệnh danh Vidhūra ( bậc Hiền Trí). Vua thực hành đại bố thí làm chấn động khắp cõi Diêm- phù- đề (Ấn Độ); nhưng trong số những người thọ hưởng các thí vật này không có ai là người giữ đúng Ngũ giới, tất cả bọn chúng đều là độc ác trên phương diện làm người, nên việc bố thí của vua không làm tâm ngài thỏa mãn. Ngài suy nghĩ: “Kết
*
Để trả lời việc này, bậc Đạo sư ngâm vần kệ đầu. Phần sau là phần vấn đáp giữa nhà vua và Vidhūra:
1. Chúa thượng Yudhi thật chánh chân,
Một hôm hỏi ý bậc hiền nhân
Vidhū tìm các La-môn thiện,
Những bậc hiền nhân trí tuệ tràn.
2. Những người đoạn ác nghiệp, ly tham,
Ao ước chư hiền thọ thức ăn,
Trẫm nguyện cúng như vầy, thiện hữu,
Để ngày sau hái quả an toàn.
Trí giả Vidhūra nói:
3. Thật khó tìm Hiền thánh thế này,
La- môn trí đức đủ như vầy,
Những người giữ trọn tâm ly dục
Để thọ hưởng phần phẩm thực đầy.
4. Giữa đời mười loại Bà- la- môn,
Xin hãy lắng nghe, tấu Đại vương,
Trong lúc hạ thần phân biệt họ,
Thần xin nói rõ họ hoàn toàn.
5. Vài người mang túi xách trên lưng,
Củ, rễ chất đầy buộc thật căng,
Những kẻ góp gom cây cỏ thuốc,
Tắm mình, tụng chú thuật, bùa thần.
6. Bọn họ như thầy thuốc, Đại vương,
Cũng đều được gọi Bà-la-môn,
Nay ngài biết loại này tường tận,
Ta có nên tìm hạng ấy chăng?
Đại vương Koravya đáp:
Phạm hạnh thanh cao, họ diệt vong,
Hãy kiếm, Vidhū, nhiều vị khác,
Tràn đầy trí tuệ với hiền lương.
8. Những người đoạn ác nghiệp, ly tham,
Ao ước chư hiền thọ thức ăn,
Trẫm nguyện cúng dường người đức độ,
Chính mình sau hái quả an toàn.
Trí giả Vidhūra nói:
9. Bọn người đi trước lại mang chuông,
Trong lúc vừa đi họ réo vang,
Họ biết lái xe đầy khéo léo,
Thư từ thông điệp họ đều mang.
10. Họ chẳng khác nào đám dịch nhân,
Cũng đều được gọi Bà-la-môn,
Nay ngài biết loại này tường tận,
Ta có nên tìm hạng ấy chăng?
Đại vương Koravya đáp:
11. Họ không chân chánh với danh xưng,
Phạm hạnh thanh cao, họ diệt vong,
Hãy kiếm, Vidhū, nhiều vị khác,
Tràn đầy trí tuệ với hiền lương.
12. Những người đoạn ác nghiệp, ly tham,
Ao ước chư hiền thọ thức ăn,
Trẫm nguyện cúng dường người đức độ,
Chính mình sau hái quả an toàn.
Trí giả Vidhūra nói:
13. Với bình nước uống gậy cong cong,
Họ chạy theo kịp quốc vương,
Qua các thôn làng cùng thị trấn,
Trong khi theo đuổi lại ca rằng:
“Ta không đi nữa, dù rừng, phố,
Cho đến khi Hoàng thượng cúng dường.”
14. Họ quấy rầy như các thuế nhân,