Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
PHẨM BA MƯƠI BÀI KỆ
511. CHUYỆN DỤC THAM KỲ DỊ
(TIỀN THÂN KIṂCHANDA)
Vì cớ sao ngài ở bến sông…
Câu chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Jetavana (Kỳ Viên hay Thắng Lâm) về việc hành trì ngày trai giới (Uposatha: Bố-tát giới hay Bát quan trai giới).
Một ngày nọ, một số nam nữ cư sĩ đang hành trì ngày trai giới, đến nghe Pháp và ngồi tại Chánh pháp đường. Bậc Đạo sư hỏi xem hội chúng có hành trì ngày trai giới không, và khi họ đáp là có, Ngài nói thêm:
- Các ông hành trì ngày trai giới thật tốt lành thay! Ngày xưa có những người chỉ nhờ hành trì nửa ngày trai giới mà đạt được vinh quang tột bực.
Rồi theo lời thỉnh cầu của hội chúng, Ngài kể câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, tại thành Ba-la-nại, vua Brahmadatta cai trị quốc độ rất đúng pháp và là một người sùng đạo, ngài nhiệt tình hành trì mọi thiện sự trong ngày trai giới, giữ đúng giới luật và bố thí. Ngài cũng khuyên các cận thần cùng nhiều người khác giữ hạnh nguyện bố thí, làm phước đức, nhưng vị quốc sư của ngài là một kẻ xấu miệng, ưa gièm pha, tham của hối lộ nên xử án bất công.
Vào một ngày trai giới kia, vua triệu các quân sư lại và bảo họ giữ giới. Vị quốc sư này không thi hành phận sự của ngày trai giới. Vì vậy, trong ngày ấy, lão nhận hối lộ và xử án bất công rồi sau đó đến chầu vua. Sau khi hỏi mỗi vị cận thần xem có giữ giới không, vua hỏi vị quốc sư:
- Này Tôn giả, người có giữ giới không?
- Chắc chắn ngài chẳng giữ giới.
Lão đáp:
-Ta đã ăn từ sáng sớm, nhưng khi ta về nhà sẽ súc miệng và giữ giới luật, ta sẽ không ăn gì buổi chiều và suốt đêm ta sẽ giữ giới luật, như thế ta cũng giữ được nửa ngày trai giới.
Họ đáp:
-Thưa Tôn giả, thế thì tốt lắm.
Lão đi về nhà và làm đúng như vậy.
Một ngày kia, khi lão đang ngồi xử kiện, một người đàn bà vốn là kẻ giữ đúng giới luật, đang gặp chuyện thưa kiện, và vì không thể về nhà được, bà ấy nghĩ thầm: “Ta không thể vi phạm hành trì ngày trai giới.”
Nên lúc đến gần giờ trì giới, bà ấy bắt đầu súc miệng. Và lúc ấy, có người mang vào một mâm xoài chín biếu tế sư Bà-la-môn. Lão thấy bà ta đang giữ giới liền bảo:
- Bà ăn đi rồi giữ giới.
Bà ấy vâng theo. Hạnh nghiệp của vị Bà-la-môn kia đã tạo được nhiều phước lớn.
Về sau đó, lão chết đi và tái sinh vào vùng núi Tuyết sơn, trong một nơi phong cảnh tươi đẹp bên bờ sông Kosiki, nhánh của sông Hằng, trong một khu rừng xoài rộng ba dặm trên một vương sàn nguy nga của một cung điện bằng vàng. Lão tái sinh như thể một người vừa thức giấc, liền được phục sức xiêm y, điểm trang lộng lẫy, với dung mạo tuyệt vời, lại được mười sáu ngàn tiên nữ chầu hầu chung quanh. Suốt đêm trường, lão thọ hưởng vinh quang này vì đã được sinh làm vị Thần trong Ma cung, phước lộc của lão cũng tương xứng với hạnh nghiệp xưa của lão.
Vì thế khi bình minh đến, lão vào rừng xoài, ngay lúc vừa bước chân vào, thân thể thần tiên của lão biến mất, lão hóa hình thù to lớn như một cây thốt nốt cao 80 cubit(1 cubit=45cm), toàn thân rực sáng như một cây phượng vĩ đang trổ hoa đỏ thắm. Lão chỉ có một ngón tay trên mỗi bàn tay nhưng móng lại to như bàn cuốc; với các móng tay này, lão móc thịt sau lưng, xé thịt mình ra mà ăn, rồi đau đớn điên cuồng lên, lão cứ khóc rống thật to. Mãi vào lúc mặt trời lặn, thân hình này biến mất và phong cách thần
Như vậy là do kết quả việc tặng trái xoài cho người đàn bà đang trì giới, lão được hưởng một khu vườn xoài rộng ba dặm. Nhưng vì phải thọ lãnh nghiệp quả về việc nhận hối lộ và xử án sai lầm, lão phải xé thịt trên lưng ra mà ăn; đồng thời nhờ việc hành trì nửa ngày trai giới, lão tận hưởng vinh quang mỗi đêm cùng với mười sáu ngàn tiên nữ múa hát hầu hạ quanh mình.
Vào thời ấy, vua xứ Ba-la-nại hiểu rõ tội lỗi do tham dục gây ra, nên xuất gia tu hành, ẩn cư trong một am thảo nọ trên một vùng phong cảnh xinh đẹp miền hạ lưu sông Hằng, sống khổ hạnh với những vât ngài kiếm được.
Một ngày kia, có quả xoài chín trong rừng ấy bằng cái bát, rơi xuống sông Hằng theo dòng sông đến nơi đối diện với chỗ định cư của vị khổ hạnh này. Trong khi ngài đang súc miệng, chợt thấy trái xoài trôi giữa dòng, ngài liền lội qua lấy nó mang về am, cất vào nội thất, nơi ngài đốt ngọn lửa thiêng. Sau đó, khi xẻ xoài ra, ngài chỉ ăn vừa đủ sống, rồi gói phần còn lại bằng lá chuối. Ngài cứ ăn dần dần trái xoài như vậy cho đến hết.
Khi đã ăn hết xoài, ngài không thể ăn trái cây nào khác nữa; nhưng bị thói tham ăn của ngon trói buộc, ngài thốt lời thề từ nay chỉ ăn xoài chín mà thôi, liền đến bờ sông nhìn xuống dòng nước, quyết không bao giờ đứng dậy cho đến khi tìm được một trái xoài. Thế là ngài nhịn ăn sáu ngày liền, cứ ngồi đó chờ mong tìm xoài, cho đến khi ngài khô héo vì nắng gió.
Đến ngày thứ bảy, một vị thần xem xét việc ấy, thấy rõ lý do hành động của ngài và suy nghĩ: “Vị tu khổ hạnh này bị thói tham ăn câu thúc, cứ ngồi đó nhịn đói bảy ngày nhìn xuống sông Hằng. Việc ta chối từ ngài một quả xoài là điều sai lầm, vì nếu không có xoài, ngài sẽ chết; vậy ta sẽ cho ngài một trái.”
Thế là nữ thần liền hiện lên giữa không gian trên sông Hằng và nói với ngài vần kệ đầu tiên:
1. Vì cớ sao ngài ở bến sông
Suốt trong mùa hạ, nắng oi nồng,
Bà-la-môn hỡi, người thầm nguyện,
Chủ đích gì ngài vẫn ước mong?
Nhà tu khổ hạnh nghe thế liền đáp lại chín vần kệ:
Ta thấy xoài kia, hỡi nữ thần,
Vươn cánh tay dài, ta lấy quả
Đem về nhà cất ở gian trong.
3. Ngọt ngào hương vị thật thanh tao,
Ta nghĩ của trời quý giá sao,
Hình dáng đẹp tươi này sánh với
Chiếc bình lớn nhất khác chi nào.
4. Ta giấu xoài trong lá chuối cây,
Cắt ra từng lát với dao này,
Ít oi thực phẩm, phần ăn uống
Hợp với đời người đạm bạc đây.
5. Phần ăn dần hết, bớt thèm thuồng,
Tuy thế lòng ta vẫn tiếc luôn,
Trong các trái nào ta kiếm được
Ta đều không thấy vị thơm ngon.
6. Héo hắt ta đà mỏi mắt trông,
Xoài ngon ta lượm ở bên dòng,
Sẽ làm ta chết, ta lo sợ
Chẳng trái cây nào ta ước mong.
7. Vì sao giữ giới đã trình nàng,
Cho dẫu ta đang ở cạnh dòng,
Sóng vỗ chập chùng, bao loại cá
Đầy đàn bơi lôi cứ tung tăng.
8. Nay ta cầu khẩn, nói cho ta
Chớ sợ hãi rồi bỏ chạy xa,
Hỡi nàng tố nữ, là ai đó?
Tại sao nàng lại đến đây mà?
9. Thị nữ chư Thiên đẹp tuyệt vời
Khác nào vàng óng ánh ngời soi,
Xinh như bầy hổ còn thơ dại
Dọc các sườn non vẫn giỡn chơi.
10. Cũng ở nơi đây cõi thế gian,
Muôn vàn vẻ đẹp lắm hồng nhan,
Lại dám khoe tươi với nữ hoàng.
Ta hỏi nữ thần muôn diễm lệ,
Được trời phú mọi vẻ thiên quang,
Xin cho ta biết phương danh tánh,
Nơi chốn xuất thân quí tộc nàng.
Nữ thần liền đáp tám dòng kệ:
11. Trên dòng sông nước thật xinh tươi,
Bên cạnh Hằng giang, đạo sĩ ngồi,
Bá chủ ngôi cao ta ngự trị,
Dưới vùng sâu thẳm, thủy triều trôi.
12. Cầm quyền ngàn thạch động xung quanh,
Che phủ rừng cây rậm lá xanh,
Từ đó bao dòng tràn ngập chảy,
Hòa theo với sóng nước sông mình.
13. Mỗi khu rừng, mỗi khóm vườn cây
Đưa đến Long cung lắm suối đầy,
Đổ xuống bao nguồn nước xanh biếc,
Ngập dòng bát ngát của ta này.
14. Lệ thường trên các phụ lưu này,
Nhiều trái sinh từ đủ loại cây:
Đào đỏ, chà là, sung, mít, vả,
Với xoài, ngài thấy rõ ràng ngay.
15. Trái kia đều mọc mỗi bên bờ,
Rơi xuống vừa tầm với của ta,
Ta bảo của trời cho chánh đáng,
Danh ta, ai có thể gièm pha?
16. Hiểu thông điều ấy, lắng nghe đây
Hỡi Đại vương thông tuệ, trí tài,
Chớ đắm tham vào tâm dục vọng,
Bỏ ngay lời nguyện đáng chê bai.
17. Đại vương xưa ngự trị giang sơn,
Nay việc ngài ta chẳng tán dương,
Muốn chết giữa mùa xuân tuổi trẻ,
18. Giáo sĩ, chư thần, quỷ hiển linh,
Mọi người biết hạnh nghiệp uy danh
Của ngài, mọi Thánh nhân thanh tịnh
Dưới thế đã thành tựu hiển vinh,
Quả thấy việc ngài làm trái đạo,
Hiền nhân tất cả biểu đồng thanh.
Tiếp theo đó, vị tu hành ngâm bốn vần kệ:
19. Ai biết đời người thật mỏng manh,
Mọi loài dục giới thoáng qua nhanh
Không hề nghĩ đến điều sinh sát,
Mà trú an trong mọi hạnh lành.
20. Xưa nàng được hội Thánh tôn vinh,
Là bậc làm công đức sáng danh,
Nay lại giao du nhiều kẻ ác,
Tiếng xấu nàng đang cố tạo thành.
21. Ví ta chết cạnh bến sông nàng,
Hỡi nữ thần dung sắc vẹn toàn,
Tiếng xấu trùm lên nàng tất cả,
Khác nào mây phủ giữa không gian.
22. Vậy kiều tiên hỡi, lão van nàng
Hãy tránh xa điều ác, sợ rằng
Mặc lão chết đi, rồi hối tiếc,
Làm trò đàm tiếu giữa trần gian.
Nghe nói vậy, nữ thần đáp lại:
23. Ta biết ngài thầm kín ước mong,
Và ngài nhẫn nhục thật cam tâm,
Ta cam đành phận làm tỳ nữ,
Đem đến xoài ngon tặng đạo nhân.
Kìa ác dục từ bao thuở trước,
Khó thay bỏ lạc thú phàm trần,
Ngài đã đạt đến tâm thanh tịnh,
Và trí bình an, phải giữ luôn.
24. Người nào đã thoát buộc ràng xưa,
Phóng dật bước vào phi thánh đạo,
Chất chồng ác nghiệp mãi luôn mà.
25. Ta tặng ngài điều nguyện khát khao,
Rồi ngài tiêu hết mọi ưu sầu,
Ta đưa ngài đến nơi êm mát,
Ngài sống đời an lạc biết bao.
26. Mây-na, cu-gáy, hạc, hồng nga,
Say mật quây quần cạnh khóm hoa,
Từng đám thiên nga cao vút lượn
Chim đồng, đàn khổng tước kiêu sa,
Cùng nhau hòa tiếng ca êm ái,
Đánh thức rừng cây tỉnh giấc mơ.
27. Hoa nghệ, kadamba rộ bông,
Khác nào rơm rạ ở trên đồng,
Chà là, thốt nốt, nồng nàn chín
Tô điểm chung quanh lủng lẳng chùm,
Và giữa cây cành đầy trĩu trái,
Xoài cây sung mãn, hãy nhìn trông.
Vừa ca tụng thắng cảnh kia, tiên nữ vừa mang nhà tu hành đến đó, và mời ngài ăn xoài trong rừng này cho đến khi thỏa thích, rồi nàng lại ra đi. Nhà ẩn sĩ ăn xoài mãi đến lúc đã hết cơn thèm, xong nghỉ ngơi chốc lát. Sau đó, đi loanh quanh thơ thẩn trong rừng, ngài thấy vị Thần kia đang lúc chịu khổ sở đau đớn, ngài không còn lòng dạ nào thốt ra lời hỏi han vị ấy, nhưng khi hoàng hôn đến, ngài thấy vị Thần kia được bầy tiên nữ hầu hạ và thọ hưởng vinh quang của tiên giới, ngài liền ngâm ba vần kệ:
28. Suốt đêm, quán đảnh, tiệc liên hoan,
Vương miện trên mày lại được mang,
Tô điểm cổ tay, đầy ngọc quý,
Sáng ngày đau khổ thật kinh hoàng.
29. Hàng ngàn tiên nữ hộ quanh ngài,
Thần lực ngài kia thật đại tài!
Kỳ diệu biết bao quyền biến đổi,
Khổ hình lại hóa cảnh bồng lai!