Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
15. Dòng giống hạ đẳng bước hai chân,
Hạ liệt Chiên-đà nhất thế nhân,
Khi nghiệp chín làm phần thưởng quý,
Hai ta cùng có một tiền thân.
16. Tại Avanti, bạn trẻ Chiên-đà,
Là cặp nai vàng bến nước xưa,
Đôi chú chim ưng bờ Niết-bút,
Giờ đây giáo sĩ đó làm vua.
Sau khi đã nói rõ các tiền thân hạ liệt của mình trong quá khứ như vậy, tại đây trong đời hiện tại này, ngài tuyên thuyết tính vô thường của mọi pháp hữu hình và ngâm bốn vần kệ làm phát khởi tinh tấn lực:
17. Đời người ngắn ngủi chết cùng đường,
Già cả không nơi chốn náu nương,
Này hỡi Pañcala, thực hiện
Những gì ta khuyến nhủ quân vương:
Tránh xa tất cả hành vi ác,
Đưa đẩy vào đau khổ đoạn trường.
18. Đời người ngắn ngủi, chết sau cùng,
Già cả không nơi chốn trú thân,
Này hỡi Pañcala, thực hiện
Những gì ta khuyến nhủ quân vương:
Tránh xa tất cả hành vi ác,
Đưa đẩy vào trong hạ ngục tầng
19. Nhân thế ngắm sao, chết cuối cùng,
Người già không chốn để nương thân,
Pañcala hỡi, xin thành tựu
Những việc ta khuyên nhủ Đại vương:
Xin hãy xa lìa bao vọng nghiệp,
Nhiễm ô, toàn ác dục tham sân.
20. Đời người ngắn ngủi, chết vong thân,
Bệnh, lão làm suy thế lực dần,
Ta chẳng làm sao ra thoát được,
Pañcala thực hiện lời răn:
Đưa đẩy vào trong ngục hạ tầng.
Vua rất hoan hỷ khi nghe bậc Đại sĩ khuyến giáo, liền đáp lời qua ba vần kệ:
21. Lời kia, Tôn giả, quả toàn chân,
Ngài dạy lời như bậc Thánh nhân,
Song dục tham ta đều khó bỏ,
Với người như trẫm, chúng vô cùng.
22. Như voi chìm xuống vũng bùn nhơ,
Không thể bò lên dẫu thấy bờ,
Trẫm cũng lún sâu bùn dục lạc,
Nên không theo nổi đạo Thầy tu!
23. Như mẹ như cha dạy bảo con,
Thành người sống hạnh phúc hiền lương,
Dạy ta hạnh phúc làm sao đạt
Xin chỉ cho ta bước đúng đường.
Sau đó, bậc Đại sĩ bảo nhà vua:
24. Ngài không thể bỏ, hỡi Quân vương,
Các dục tham đây cũng thế thường,
Vậy chớ bắt dân nhiều thuế nặng,
Trị sao dân chúng thấy công bằng.
25. Gửi sứ thần đi khắp bốn phương,
Mời người khổ hạnh, Bà-la-môn,
Cúng dường thực phẩm, nhà an nghỉ
Xiêm áo và luôn mọi thứ cần.
26. Đem thức ăn uống để đãi đằng
Bà-la-môn, Thánh giả, Hiền nhân,
Tâm đầy thành tín, ai ban phát
Và trị dân tài đức hết lòng,
Người ấy sẽ đi lên thượng giới,
Lỗi lầm không có lúc vong thân.
27. Song nếu vây quanh bởi má hồng,
Dục tham, ngài thấy, quá say nồng,
Trong tâm hãy nhớ vần thi kệ,
28. Dưới trời không mái để che thân,
Bầy chó xưa cùng nó ngủ lăn,
Mẹ nó cho ăn lúc bước vội,
Mà nay làm một vị vương quân.
Đó là lời khuyến giáo của bậc Đại sĩ. Rồi ngài lại bảo:
- Ta đã khuyên nhủ Đại vương rồi. Bây giờ Đại vương có muốn làm người tu khổ hạnh hay không là tùy ý Đại vương, song ta sẽ tiếp tục theo đúng nghiệp quả của chính ta làm.
Sau đó, ngài bay vụt lên không, phủi bụi bặm trên đôi chân ngài, giã từ vua trong dáng điệu khinh thường, rồi đi về vùng Tuyết sơn.
Còn phần vua trông thấy cảnh này, lòng vô cùng xúc động, liền giao quốc độ cho thái tử, triệu tập quân sĩ thẳng hướng tiến về vùng Tuyết sơn.Khi bậc Đại sĩ nghe vua đến, liền bước ra cùng đám hiền nhân đồ đệ của ngài đón tiếp vua, và truyền giới cho vua sống đời phạm hạnh rồi dạy vua phương tiện làm phát khởi thiền định. Vua tu tập chứng đắc Thắng trí do thiền định, vì vậy cả hai vị đều cùng được sinh lên cõi Phạm thiên.
*
Sau khi bậc Đạo sư chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
- Như vậy, này các Tỷ-kheo, các bậc trí nhân ngày xưa giữ vững tình bằng hữu lâu dài qua ba bốn đời sống.
Rồi ngài nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, Ānanda là Trí giả Sambhūta và Ta chính là Trí giả Citta.
( TIỀN THÂN SIVI)
Nếu thí tài gì thuộc thế nhân...
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về lễ vạt cúng dường tối thượng.
Trường hợp này đã được kể đầy đủ trong Chương VIII ở số 424, Tiền thân Sovīra. Song tại đây vào ngày thứ bảy, vua dâng đủ tất cả vật cúng dường và thỉnh cầu lời tùy hỷ; tuy nhiên, bậc Đạo sư ra đi mà không tán thán công đức của vua. Sau buổi điểm tâm, vua đi đến tinh xá và hỏi:
- Bạch Thế Tôn, vì cớ gì Thế Tôn không đáp lời tùy hỷ hôm ấy?
Bậc Đạo sư nói:
- Thưa Đại vương, hội chúng kia không thanh tịnh.
Ngài lại tiếp tục thuyết Pháp ngâm vần kệ bắt đầu bằng câu: “Người hạ tiện sẽ không lên Thiên giới ( Pháp cú 177).”
Vua đầy hoan hỷ bày tỏ lòng tôn kính đối với Như Lai bằng cách dâng chiếc thượng y của xứ Sivi trị giá một ngàn đồng tiền; sau đó, vua trở về thành.
Ngày hôm sau trong Chánh pháp đường, Tăng chúng nói về chuyện ấy:
- Này các Hiền giả, vua Kosala đã cúng dường lễ vật tối thượng, và chưa hài lòng với việc ấy, nên sau khi đấng Thập Lực thuyết giáo cho vua ấy, vua liền dâng chiếc y của xứ Sivi trị giá cả một ngàn đồng tiền vàng. Quả thật vua không hề thỏa mãn với việc cúng dường.
Bậc Đạo sư bước vào, và hỏi các vị đang bàn việc gì khi ngồi đó. Tăng chúng trình với Ngài. Ngài bảo:
- Này các Tỷ- kheo, bố thí ngoại tài quả thật là điều có thể thỏa đáng được, song các bậc trí nhân ngày xưa đã bố thí cho đến khi khắp cả Diêm-phù-đề đều vang danh lừng lẫy, mỗi ngày bố thí cả sáu trăm ngàn đồng tiền, vẫn chưa thỏa mãn với việc bố thí ngoại tài, và nhớ lại câu phương ngôn: “Hãy đem cho cái gì ta yêu quý nhất và từ tâm sẽ sinh khởi,” cho nên các vị
Cùng với những lời này, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, khi đại đế Sivi cai trị tại kinh thành Ariṭṭhapura trong quốc độ Sivi, bậc Đại sĩ sinh ra làm vương tử. Triều thần đặt tên ngài là vương tử Sivi. Khi ngài lớn lên, ngài đi đến Takkasilā học tập tại đó, xong trở về chứng tỏ tài năng kiến thức của ngài trước vua cha nên được phong làm phó vương.
Lúc phụ vương băng hà, ngài lên ngôi vua và từ bỏ các ác đạo, ngài hành trì Thập vương pháp và trị dân rất chân chánh. Ngài truyền xây sáu bố thí đường tại bốn cổng thành, giữa kinh thành và ngay cửa cung của ngài. Ngài bố thí rất hào phóng mỗi ngày sáu trăm ngàn đồng tiền vào các ngày mồng tám, mười bốn và ngày rằm, ngài chẳng hề quên thăm viếng các bố thí đường để xem xét bố thí được thực hành ra sao.
Vào một ngày trăng tròn kia, chiếc lọng hoàng gia đã được giương lên từ sáng sớm và ngài ngự trên ngai vàng suy ngẫm về các thí vật ngài đã ban phát. Ngài tự nghĩ: “Trong tất cả các tài vật bên ngoài, chẳng có món gì ta không đem cho hết, song cách bố thí này chưa làm ta hài lòng. Ta muốn bố thí vật gì thuộc về bản thân ta. Được rồi, hôm nay ta đến bố thí đường phát nguyện rằng, nếu có người nào không xin một vật gì đó ngoài thân ta, lại nói rõ tên một phần thân thể ta; nếu người ấy muốn nói đến chính quả tim ta, ta quyết sẽ lấy dao xẻ phăng lồng ngực ta và chẳng khác nào ta nhổ lên một cọng sen từ hồ nước phẳng lặng, ta sẽ móc lấy quả tim ta đang chảy máu từng cục đem cho người ấy. Nếu người ấy muốn xin thịt ta, ta sẽ xẻ thịt ra từ thân thể và cho nó, như thể ta dùng cái dao mà khắc chạm tấm thân này. Người đó cứ nói đến máu của ta, ta sẽ lấy máu ta nhỏ từng giọt vào miệng người đó, hoặc đổ đầy một chén rồi đem cho; hoặc nữa, giả sử có ai bảo: “Hạ thần không làm nổi việc nhà, xin hãy đến làm gia nô tại nhà hạ thần,” ta nhận mình là nô lệ và ta sẽ làm hết các việc nô dịch; hoặc giả có ai đó xin đôi mắt ta, ta sẽ móc mắt ra cho nó như người ta lấy lõi của cây dừa nước.” Ngài nghĩ thầm như vậy.
Nếu thí tài gì thuộc thế nhân,
Dẫu là đôi mắt, chẳng hề ban,
Lòng chẳng kinh hãi, thật vững vàng.
Thế rồi, ngài tắm mình với mười sáu bình nước hoa thơm và trang sức cực kỳ lộng lẫy và sau một buổi cơm đầy cao lương mỹ vị, ngài ngự lên một con voi được tô điểm cân đai rực rỡ đưa ngài đến đại bố thí đường.
Khi Sakka (Đế-thích) Thiên chủ nhận thấy quyết tâm của ngài liền suy nghĩ: “Vua Sivi đã cương quyết đem đôi mắt ngài bố thí cho kẻ nào ngẫu nhiên đến xin ngài. Thế ngài có đủ hùng lực để thực hiện việc đó hay chăng?
Thiên chủ quyết định đi thử thách ngài nên giả dạng một Bà-la-môn già mù mắt; Thiên chủ đứng trên một chỗ cao, khi đức vua bước vào bố thí đường, Thiên chủ đưa tay ra, kêu lớn:
- Vạn tuế Đại vương!
Lúc ấy, vua lái vương tượng về phía Thiên chủ, phán bảo:
- Này Bà-la-môn, ông nói gì vậy?
Thiên chủ đáp:
- Tâu Đại vương, trên cõi thế gian này không nơi nào không vang dậy phương danh về từ tâm hào phóng bố thí của Đại vương. Nay lão đã mù lòa, còn Đại vương có đủ hai mắt.
Rồi Thiên chủ ngâm vần kệ đầu để xin một con mắt;
1. Chẳng có mắt,, nên chính lão già,
Đến xin con mắt, tự phương xa,
Lão cầu Chúa thượng ban con mắt,
Một mắt cùng nhau mỗi chúng ta.
Khi Đại vương nghe lời này, ngài suy nghĩ: “Chính đó là chuyện mà ta suy nghĩ ở hậu cung trước khi ta đến đây kia! Ồ, cơ duyên đến mới tuyệt diệu làm sao chứ! Tâm nguyện của ta hôm nay sẽ được thành tựu, ta sẽ bố thí một tài vật mà chưa một người thế tục nào từng ban phát,” và ngài ngâm vần kệ thứ hai:
2. Ai đã dạy ông bước đến đây
Để xin một mắt, lão ăn mày?
Đây phần thân thể người cao trọng,
Chúng bảo xa lìa khó lắm thay!
Các vần kệ sau là do hai vị ngâm để đối đáp với nhau:
3. Sujampati phu tướng, chính nơi đây,
Người gọi Maghavā cũng hiệu này,
Ngài dạy lão về đây yết kiến
Van nài cho được một mắt ngay.
4. Thí tài tối trọng đại, mong cầu
Chúa thượng ban già một bảo châu,
Xin chớ chối từ già một mắt,
Thí tài tối trọng, đứng hàng đầu,
Như lời thế tục thường hay nói:
“Thật khó cho người dứt bỏ sao!”
Vua Sivi:
5. Uớc nguyện làm ông đến tận đây
Trong lòng ông khởi ước như vầy
Cầu mong nguyện ước kia thành tựu,
Đạo sĩ, cầm đôi mắt trẫm này!
6. Ông chỉ xin ta một mắt thôi,
Nhìn xem, ta bố thí tròn đôi!
Hãy đi với nhãn quang hoàn hảo,
Trước mắt nhìn theo của mọi người,
Vậy ước nguyện ông mong thực hiện
Giờ đây hẳn đã đạt thành rồi!
Đức vua đã nói nhiều như thế. Song nghĩ rằng nếu ngài tự móc mắt của mình ra mà tặng ngay tại đó, vào lúc ấy, thì không thích hợp, nên ngài đem vị Bà-la-môn cùng vào nội cung với ngài, và khi ngự lên ngài vàng, ngài truyền lệnh triệu một vị phẫu thuật sư tên là Sīvaka vào chầu. Rồi ngài phán:
- Khanh hãy lấy mắt trẫm ra.
Lúc bấy giờ, cả kinh thành vang dậy nguồn tin rằng đức vua muốn cắt đôi mắt ngài ra để bố thí cho một lão Bà-la-môn. Sau đó, vị đại tướng quân cùng với các viên khác và mọi người thân thuộc của vua, từ trong kinh thành lẫn hậu cung đều tề tựu cùng nhau và ngâm ba vần kệ để xin vua từ bỏ ý định trên:
7. Xin đừng cho mắt, tấu Minh quân!
Chúa thượng ôi, đừng bỏ chúng thần!